Phòng mạch khám cơ xương khớp tại TP.HCM?

20:19 |

Bệnh nhân chủ động được thời gian, tiết kiệm công sức chờ đợi và tránh những mất mát đáng tiếc khi chen chúc đăng ký khám bệnh tại các bệnh viện. Chỉ cần cuộc gọi với cước phí từ 2.000 - 3.000 đồng, khách hàng yên tâm về ngày giờ khám bệnh. Tính đến nay, hình thức đăng ký khám bệnh này chỉ có riêng tại TP HCM.

Đăng ký lịch khám qua đài (08)1080

Hiện nay, người dân TP HCM và các tỉnh thường gọi đến đài 1080 TP HCM lấy số thứ tự đăng ký khám bệnh ở các bệnh viện và phòng mạch bác sĩ. Thói quen này đã tạo sự công bằng cho người bệnh và văn minh ở bệnh viện.

Khi gọi vào (08)1080, khách hàng cung cấp các thông tin: bệnh viện, phòng mạch bác sĩ cần khám, họ tên, tuổi, địa chỉ người khám, điện thoại liên lạc; sau đó nhận được số thứ tự khám, giờ khám và được hướng dẫn thủ tục đóng tiền cũng như ngày giờ khám chuyên khoa tại các bệnh viện. Người bệnh chỉ cần đăng ký trước 1 ngày hoặc trước 1 tuần trong tháng là có lịch khám.

Theo đài 1080 của VNPT TP HCM, Bệnh viện Nhi Đồng 1 có lượng bệnh nhân đăng ký khám cao nhất, kế đến là Nhi Đồng 2, Trưng Vương, Truyền máu Huyết học. Các phòng mạch bác sĩ nhi khoa, da liễu cũng dẫn đầu danh sách có lượt người đăng ký khám đông nhất. Tại các phòng mạch hiện nay khi gọi điện thoại đến đều được hướng dẫn đăng ký khám qua đài 1080.

17 bệnh viện và 59 phòng mạch bác sĩ

Bệnh viện Nhi Đồng 1 và phòng mạch bác sĩ Trần Ngọc Ánh - chuyên khoa da liễu và bác sĩ Phạm Mai Đằng - chuyên khoa nhi - là những đơn vị hợp tác đầu tiên với đài 1080 từ cuối năm 2011. Tính đến nay, TP HCM đã có 17 bệnh viện có hình thức đăng ký khám qua đài 1080 gồm: Chợ Rẫy, Nhi Đồng 1, Nhi Đồng 2, Chấn thương Chỉnh hình, Ung Bướu, Bệnh viện Mắt, Truyền máu Huyết học, Bệnh viện Quốc tế Minh Anh, Cấp cứu Trưng Vương, Đa khoa Thủ Đức, Bệnh viện Thủ Đức, Bệnh viện Bưu Điện cơ sở 1, 2, 3, Nhân Dân 115, Đại học Y Dược và Thống Nhất.

Riêng phòng mạch bác sĩ có 59 phòng mạch với các chuyên khoa: da liễu, nội, nhi, sản khoa, mắt, xương khớp, tai mũi họng...

Bệnh nhân và bệnh viện được lợi gì?

Đăng ký khám bệnh qua hình thức này, người khám sẽ tiết kiệm được chi phí và thời gian đi lại; giảm thời gian chờ đợi lấy số, chờ khám; tránh được các rủi ro mất tài sản tại nơi đông người. Theo đánh giá của các bệnh viện đã triển khai dịch vụ, hầu hết bệnh nhân đều ủng hộ và chưa thấy than phiền về sự tiện ích này.

Chị Cẩm Huệ, thai phụ khám tại phòng mạch bác sĩ sản khoa Trương Thị Thảo trên đường Cao Thắng, cho biết theo lịch hẹn của bác sĩ, chị gọi vào đài 1080 đăng ký lấy số thứ tự và biết được giờ khám. Theo chị, như vậy là công bằng nhất, tránh việc thư ký phòng mạch sắp xếp theo tình cảm cá nhân và bệnh nhân cũng chủ động được thời gian.

Đối với bệnh viện, hình thức đăng ký khám này giúp giải quyết tình trạng quá tải vào cao điểm đầu ngày khi có quá nhiều bệnh nhân chờ đợi tại khu khám bệnh; giải tỏa được tình trạng mất an ninh trật tự, giải quyết được tình trạng giữ chỗ khám chữa bệnh của xe ôm, “cò” bệnh viện. Qua chương trình, bệnh viện cũng biết được lượng bệnh nhân khám trong ngày để bố trí nhân sự khám hợp lý. Riêng phòng mạch thì không cần nhân sự trực điện thoại và dùng chương trình chia chọn thời gian hẹn khám hoặc cấp số thứ tự. Khi bác sĩ đi công tác, bệnh nhân vẫn đăng ký được lịch khám.

1080 TP HCM còn có dịch vụ chăm sóc tại nhà - HomeCare

Chăm sóc sức khỏe: xét nghiệm, bác sĩ tư vấn kết quả qua điện thoại; thay băng vết thương, truyền dịch...

Chăm sóc máy tính; sửa chữa, bảo trì thiết bị điện, điện lạnh...

Xin giới thiệu các bác sĩ chuyên khoa có thể khám và điều trị các bệnh về khớp cho những ai có nhu cầu, gồm các phòng khám sau:

TS.BS Đỗ Phước Hùng
Chuyên khoa Cơ Xương khớp - BV Chợ Rẫy/ BV Đại học Y dược
112/43 đường An Bình, Phường 5, Quận 5, TPHCM
ĐT lấy số thứ tự qua tổng đài 08.1081
Mỗi lần khám là 70.000 đồng
Thời gian khám từ 17- 20g (từ thứ hai đến thứ 7)
Chủ nhật nghỉ.

TS.BS Đại Phi Vân
Trên 30 năm kinh nghiệm điều trị thấp khớp - BV Chấn thương chỉnh hình/ BV Triều An
24 Trần Hưng Đạo, Phường 7, Quận 5, TPHCM
ĐT: 08. 3923 4737 - Mobile: 0913 731 723
Giờ làm việc: 16g - 19g30 (Từ thứ 2 - Thứ 6)
Thứ 7: Sáng 9g - 11g - Chiều thứ 7, chủ nhật và ngày lễ nghỉ

ThS.BS Phạm Quang Vinh
Chuyên khoa Cơ Xương Khớp BV Chợ Rẫy
145 Tạ Uyên, Phường 4, Quận 1, TPHCM
Điện thoại tổng đài 08.1081 lấy số thứ tự
Thời gian đăng ký qua tổng đài từ 6g30 -21g mỗi ngày. Cước phí nội hạt: 2000 đồng/ phút, liên tỉnh, di động: 3000 đồng/ phút
Thời gian khám: 17g30 -20g (thứ 2 đến thứ 6)
Chiều thứ bảy: 15g -18g
Chủ nhật và ngày lễ nghỉ
Giá khám: 50.000 đồng/ lần

TS.BS Nguyễn Đình Phú
Phó giám đốc BV Nhân dân 115, Trưởng khoa Xương khớp - Thần kinh - Cơ, BV Nhân dân 115
143 Bàu Cát 2, Phường 12, Quận Tân Bình, TPHCM
08.3949 2143 - 0903 866 273
Thời gian khám 18g - 19g30 (thứ 2-7)

Hy vọng những thông tin trên đây có thể giúp ích cho các bạn trong việc chọn lựa phòng khám để chữa bệnh.

Thân ái!

Một số phòng khám khác:

* Bác sĩ PHẠM QUANG TUYẾN

Chuyên khoa: CỘT SỐNG, CƠ XƯƠNG KHỚP

Bệnh viện CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH TP.HCM



Phòng mạch: 126/ /14A Phan Văn Trị, P12, Q Bình Thạnh, TP.HCM

ĐT: (08) 3806.0430 , 0903.762.039 (gọi điện thoại trước để đăng ký số khám)

Giờ khám: Thứ 2-6: 17h00-19h00

Thứ 7: 7h30-10h00

--------------------------------------------------

* Bác sĩ LÊ THỊ KIM

Chuyên khoa: NHI

Bệnh viện NHI ĐỒNG 2 TP.HCM



Phòng mạch: 28 Nam Quốc Cang, phường Phạm Ngũ Lão, Q 1, TP.HCM

ĐT: 0903.644.755

Giờ khám: Thứ 2-7: 16h00-19h00

Lưu ý: Nên gọi điện thoại trước khi đến khám vì đôi khi bác sĩ đi công tác

----------------------------------------------

* Bác sĩ NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG

Chuyên khoa: TAI MŨI HỌNG

Bệnh viện TAI MŨI HỌNG TP.HCM



Phòng mạch: 27 Thạch Thị Thanh, P Tân Định, Q 1, TP.HCM

ĐT: (08) 3829.9811 (gọi điện thoại lúc 15h00 để đăng ký số khám)

Giờ khám: Thứ 2-7: 18h00-20h00

----------------------------------------------

* Bác sĩ HOÀNG VĂN MINH

Chuyên khoa: DA LIỄU

Bệnh viện ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM



Phòng mạch: 515 An Dương Vương (Hồng Bàng cũ), Q 5, TP.HCM

ĐT: (08) 3856.7528 (đến trước để đăng ký số khám)

Giờ khám: Thứ 2-7: 17h00-20h00

----------------------------------------------

* Bác sĩ HUỲNH CÔNG HIẾU

Chuyên khoa: NHI (trị bệnh TRẺ BIẾNG ĂN)

Bệnh viện NHI ĐỒNG 1 TP.HCM



Phòng mạch: 56 Đường 1011, P 5, Q 8, TP.HCM

ĐT: (08) 5433.5577 , 0933.846.684 (gọi điện thoại lúc 8h00 để đăng ký số khám)

Giờ khám: Thứ 2-6: 17h30-20h00

Thứ 7: 7h00-12g30

----------------------------------------------

* Bác sĩ TRẦN THỊ PHƯƠNG THU

Chuyên khoa: MẮT

Bệnh viện MẮT TP.HCM



Phòng mạch: 521A Điện Biên phủ, P 3, Q 3, TP.HCM

ĐT: (08) 3830.0766 (gọi điện thoại qua (08) 1081 để đăng ký số khám)

Giờ khám: Thứ 2-6: 16h00-19h30

Thứ 7: 8h00-11g00

Thứ 2, 4, 6: 8h00-9h30

----------------------------------------------
Các website nên tham khảo: 

http://danhba.bacsi.com/category/phong-kham/

http://benhvien115.com.vn/3cms/?cmd=120&cat=1285579681508

http://www.bvdaihoc.com.vn/bv/news.asp?bvdh.umc=Details&action=816

http://hoanmy.com/saigon/index.php?option=com_content&task=blogcategory&id=35&Itemid=79

http://chaobs.com/tabid/85/khoa/co-xuong-khop/default.aspx

http://khangan.vn/

http://www.benhgiunsan.com/gia-dich-vu/kham-benh-co-xuong-khop-o-dau-tot-nhat-tphcm.html

http://www.bacsianh.com/thongtinlamviec/diadiemkhambenh/ (bs.nguyễn trọng anh, bạn bs. phan vương huy đổng)
Read more…

Thế lưu bố tưởng và các hiện tượng lạ thường

02:07 |
Phật giáo nói rằng cuộc sống ở thế gian là thế lưu bố tưởng. Thế lưu bố tưởng là tưởng tượng bình thường được lưu truyền rộng rãi qua nhiều đời của thế nhân. Trong kinh “Đại bát Niết bàn” do ngài Đàm Vô Sấm  (Dharmaraksa) pháp sư người Ấn dịch, Phật nói với Ca Diếp :

"Tất cả phàm phu có hai loại tưởng tượng, thứ nhứt là thế lưu bố tưởng, thứ hai là trước tưởng. Tất cả bậc thánh nhân chỉ có thế lưu bố tưởng mà không có trước tưởng. Tất cả phàm phu vì dựa vào cảm giác sai lầm của giác quan , từ thế lưu bố tưởng sinh ra trước tưởng. Tất cả bậc thánh vì có chánh giác thấu suốt, từ thế lưu bố tưởng không sinh ra trước tưởng. Vì vậy mới gọi cái thấy của phàm phu là điên đảo tưởng. Thánh nhân tuy cũng có tri giác (giống phàm phu) nhưng không gọi là điên đảo tưởng"

Ý chỉ trong kinh hàm súc nhưng quá ngắn gọn nên hơi khó hiểu, các bậc thiện tri thức ở Trung Hoa đã diễn giải thêm cho rõ nghĩa :

Thế lưu bố tưởng là thấy trâu nói là trâu, thấy ngựa nói là ngựa. Chấp trước tưởng, tức là thấy cái gì đều chấp (giữ chặt) cái đó cho là có thật. Phàm phu do vô minh, cái thấy bị tình cảm sai khiến nên điên đảo, còn thánh nhân trí tuệ sáng suốt, đối với mọi cảnh giới đều không mê chấp cho là có thật. Thơ vịnh hoa của bậc Cổ Đức nói:

何须待零落 Hà tu đãi linh lạc Chẳng cần chờ hoa rụng

方知本来空 Phương tri bổn lai không Mới biết xưa nay không

Tất cả danh lợi, địa vị, nam nữ, tình cảm, xưa nay vốn là không có thực, hà tất phải mò trăng đáy nước, tự làm khổ mình, không bằng tùy duyên mà làm, khiến cho tất cả chúng sinh tự giác ngộ không phải hơn sao ? )

Tại sao đối với thế giới vật chất như sơn hà đại địa, sinh vật, con người v.v… Phật nói đó là tưởng tượng thông thường của thế gian, không phải thật ? Ngày xưa đây là điều vô cùng khó hiểu, không ai tin nổi, nhưng ngày nay, điều đó đã được khoa học chứng minh một cách rõ ràng với việc phát minh ra máy vi tính và các phát kiến khoa học mới. Tất cả mọi hiện tượng trên màn hình vi tính như hình ảnh, chữ viết, âm thanh, màu sắc, video đều chỉ là ảo, bản chất của mọi hiện tượng đó chỉ là điện tử được qui về hai trạng thái : có dòng điện ký hiệu là 1, không có dòng điện, ký hiệu là 0. Từ 0 và 1 người ta có thể biểu diễn rất nhiều hình thái hoạt động của con người như thơ văn, sách vở, tư tưởng, phim ảnh, ca nhạc, thông tin liên lạc nhất là viễn thông, vô cùng tiện lợi. Không ai còn nghi ngờ về thế giới ảo, thế giới của điều khiển học (Cybernetics), của kỹ thuật số (Digital).

Thế giới ngoài đời cũng tương tự như vậy, chỉ phức tạp hơn mà thôi. Phần nhỏ nhất của vật chất, ngày nay người ta biết rằng chỉ có vài loại hạt cấu tạo nên toàn bộ vật chất trên địa cầu, cơ bản nhất là hạt quark, hai loại thường thấy nhất là quark up và quark down, chúng tạo nên hạt proton và hạt neutron, những hạt này là thành phần của hạt nhân nguyên tử. Quay chung quanh nhân là các hạt điện tử (electron) chuyển động với tốc độ rất nhanh từ vài ngàn đến vài chục ngàn km/s. Chính vì các điện tử chuyển động nhanh như vậy trong không gian rất nhỏ của nguyên tử nên chúng ta có cảm giác nguyên tử là có thật, vật chất là có thật, cứng chắc, chứ thật ra nguyên tử là trống rỗng, chẳng có gì cả. Ngoài ra thế giới vật chất còn bao hàm một vài loại hạt cơ bản khác như một số hạt đồng loại với quark, electron và vài loại khác như quang tử (photon), neutrino. Tất cả vật chất cũng như các loại hạt cơ bản của vật chất được qui về năng lượng, phần nhỏ nhất của năng lượng gọi là lượng tử. Các lý thuyết vật lý hiện đại đều được xây dựng trên lượng tử, ví dụ Cơ học lượng tử (Quantum Mechanics), Sắc động lực học lượng tử (Quantum ChromoDynamics viết tắt QCD)… Bài thuyết pháp về Ngũ uẩn (五蘊 sa. pañca-skandha) và Thập nhị nhân duyên (十二因縁, sa. dvādaśanidāna) của Đức Phật chỉ rõ sự hình thành thân xác và cảm giác của loài hữu tình mà đại biểu là con người, cũng như của thế giới vật chất nói chung. Cơ chế ảo hóa chính là lục căn, lục trần, lục thức gọi chung là 18 giới.

Phàm phu ngày nay cũng biết rõ các hiện tượng trên màn hình vi tính là ảo, nhưng không biết, không tin nổi các sự vật, hiện tượng ngoài đời cũng là ảo, do đó sinh ra mê chấp cho là thật và phải chịu luân hồi sanh tử trong cảnh khổ. Bậc thánh thì tự thân chứng được các hiện tượng ngoài đời cũng là ảo nên không chấp trước, không có trước tưởng, còn việc nhận thức các sự vật như núi non, sông hồ, nhà cửa, sinh vật, nam nữ… gọi chung là thế lưu bố tưởng thì cũng chẳng khác phàm phu, nhưng vì biết rõ là ảo nên không sinh lòng tham ái.

Theo PG, chỗ tận cùng bản chất con người là Phật tánh. Phật là người giác ngộ, Phật tánh là tánh giác ngộ hay giác tánh. Giác tánh là tánh biết bất nhị, bất nhị là không phải hai cũng không phải là một. Bất nhị là không có người biết (năng tri) cũng không có cái được biết (sở tri). Để hiểu rõ về tánh bất nhị, xin hãy xem lại hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement). Thiên nhiên có thể tạo ra đồng thời hai hay nhiều hạt photon, chúng có thể ở tại những vị trí cách xa nhau, khi một hạt bị tác động, tức thời các hạt khác cũng bị tác động y hệt, không mất chút thời gian nào, bất kể khoảng cách là bao xa. Hiện tượng này bộc lộ nhiều tính chất mà chúng ta khó tưởng tượng nổi :

Tính bất nhị, nghĩa là không có số lượng, hay số lượng chỉ là tưởng tượng chứ không có thật. Ta nói chỉ có một photon hay có nhiều photon đều không đúng. Thật tế là không thể xác định được. Vì vậy trong Kinh nói “Phàm cái gì có thể nói ra (hay xác định) đều không có nghĩa thật”. Cũng vì vậy, Đức Phật sau 49 năm đi thuyết pháp, giảng không biết bao nhiêu bộ kinh, trước khi nhập diệt, đã tuyên bố : “ Ta chưa hề nói một chữ nào”.

Tính không thật của không gian. Khoảng cách không gian là không có thật, chỉ có trong tâm thức mà thôi. Chính vì vậy, hạt photon đã không mất chút thời gian nào để truyền tín hiệu sang hạt khác, hay không hề có việc truyền tín hiệu đi, nếu có thì thật là phi lý, vì chẳng lẽ tín hiệu truyền đi với tốc độ gấp hàng triệu lần tốc độ ánh sáng ?

Tính không thật của thời gian. Thời gian cũng chỉ là sản phẩm của tâm thức chứ không có thật. Bởi vì thời gian là một chiều kích gắn liền với không gian, nên không gian không thật thì thời gian cũng không thật.

Thuyết tương đối của Einstein cũng nói rằng thời gian có thể co dãn. Câu chuyện nghịch lý về hai anh em song sinh của Langevin minh thị ý nghĩa thời gian có thể co dãn, thời gian khác nhau ở hai hệ qui chiếu khác nhau. Thiền sử Trung Hoa có kể 2 câu chuyện thực nghiệm về thời gian không thật. Nhà sư Huệ Trì 慧持 là em ruột của Tổ Tịnh Độ tông Huệ Viễn (慧遠 334~416 ) sống vào đời Tấn ở Trung Quốc.

Khi Huệ Viễn tổ chức một thời pháp Niệm Phật ở Lư Sơn thuộc tỉnh Giang Tây thì Huệ Trì từ giã anh, đi vân du ở Tứ Xuyên, thấy có một bọng cây lớn, ông vào ngồi nhập định, hoàn toàn không biết về tất cả mọi việc xảy ra. Cửa bọng cây lâu ngày khép lại, ông cũng không hay. Đến khi cây bị sét đánh, bọng cây bị vỡ, ông té ra ngoài, cũng không hay biết. Trẻ mục đồng nhìn thấy ông, chúng gọi người đến, ông vẫn còn nhập định. Người ta đưa ông đến kinh đô, tại đây có các thiền sư, họ làm cho ông xuất định. Ông nói rõ tên họ và xác định mình là em ruột của Huệ Viễn, một người nổi tiếng, và hỏi thăm ông anh ra sao. Mọi người vô cùng kinh ngạc vì Huệ Viễn đã tịch hơn 700 năm rồi. Họ hỏi ông nhập định bao lâu. Ông nói mới có một lát thôi mà. Như vậy đối với Huệ Trì thời gian hơn 700 năm là không có.

Câu chuyện thứ hai là về Hư Vân 虚云lão hòa thượng (1840-1959) của thời hiện đại.


Ông cùng các vị đồng tu ở trên núi Chung Nam 终南山, gần Trường An, quanh năm phủ tuyết, mỗi người ở một cái cốc cách xa nhau, thức ăn chỉ đào những củ khoai rất cứng trên núi, người thường ăn không nổi. Một hôm, ông bỏ củ khoai vào nồi nấu rồi ngồi nhập định lúc nào chẳng hay. Lúc đó vào dịp Tết, những người bạn đồng tu ở xung quanh thấy lâu không gặp, bèn rủ nhau đến thăm, thấy ông đang nhập định, liền búng lỗ tai khiến ông xuất định và hỏi ông nhập định bao lâu rồi. Ông đáp: “Mới hồi nảy, chắc nồi khoai đã chín rồi”. Nhưng khi mở nắp nồi thấy mốc đã lên cao, chứng tỏ nửa tháng đã trôi qua. Như vậy đối với Hư Vân thời gian nửa tháng là không có.

Hai câu chuyện trên chứng tỏ thời gian là sản phẩm của tâm thức chứ không phải thật. Các thiền sư nhập định sâu tận tiềm thức, tâm thức ngừng hoạt động thì thời gian cũng ngừng. Nếu Câu chuyện nghịch lý của Langevin chỉ là tưởng tượng dựa trên cơ sở khoa học, thì hai câu chuyện trên là thực nghiệm người thật việc thật. Hư Vân sống cùng thời đại với chúng ta và thọ tới 120 tuổi.

Hòa thượng Thích Duy Lực đã từng nói về Huệ Trì và bản chất của thời gian cũng như các hiện tượng lạ thường mà một số người có công năng đặc dị đã thể hiện.

Giác tánh vô hình, vô tướng, không hạn lượng, mới đích thực là bản chất của con người cũng như của vạn vật. Giác tánh có những tính chất như thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc và suy tưởng. Những tính chất này bất biến, vô sinh, vô diệt, và do đó vô thủy, vô chung. Chính giác tánh hướng dẫn cho vật chất cấu thành lục căn tức 6 cơ quan nhận thức của sinh vật và con người, là : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và bộ não. Lục căn tiếp xúc với lục trần, là : sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; sinh ra lục thức là 6 loại nhận thức nói trên, trong đó tư duy là một loại nhận thức cao cấp rất phát triển ở con người.

Theo PG, thì thế giới vạn vật chỉ là ảo giác chứ không có thật. Thuyết thập nhị nhân duyên của PG, nói vạn vật có nguồn gốc là vô minh. Vô minh là lầm lạc vì không thấy rõ, không hiểu rõ, bị mê mờ. Mà vật lý lượng tử ngày nay cũng không nói khác. Quark, electron chỉ là những hạt ảo, chúng không tồn tại khi bị cô lập, chúng chỉ tồn tại trong quan hệ tương tác với nhau và phải được cảm nhận bằng ý thức, trực tiếp qua các giác quan hoặc gián tiếp qua các thiết bị.

Niels Bohr (1885-1962, nhà vật lý người Đan Mạch, giải Nobel vật lý 1922) nói “Isolated material particles are abstractions” (1) (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật).

Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism” (2) (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).

Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết : “The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (3) (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại).

Vì tính chất đồng bộ của lục căn, lục trần, lục thức (18 cảnh giới) nên ta tưởng vật chất là có thật, chứ thật ra vật chất chỉ là cảm giác, là thông tin chứ không phải thật.

Khoa học chỉ dựa trên tư duy lô gích của bộ não thuộc bán cầu trái, hay dù cảm nhận trực giác bằng bán cầu phải thì nhận thức cũng đã bị cơ chế ảo hóa của 18 cảnh giới làm cho lầm lạc, không bao giờ thấy được bản chất. Ví dụ ta thấy và cảm nhận vật chất, màu sắc, nước…, đó chỉ là tâm thức tổng hợp từ 6 giác quan, nhà khoa học ắt hẳn biết rõ là chúng không có thật, bản chất của chúng là gì thì cũng không xác định được, quark, electron cũng không hẳn là có thật.

Tóm lại quark, electron tạo ra những cấu trúc ảo, đó là nguyên tử của các nguyên tố, là phân tử vô cơ và hữu cơ, là chất sống như acid amin, protein, glucid, lipid, protid, DNA…là sơn hà đại địa, nhà cửa, xe cộ, mặt trời, hành tinh, thiên hà, vũ trụ. Một loại cấu trúc ảo khác là lục căn trong đó xuất sắc nhất là bộ não người. Lục căn là cấu trúc tuyệt vời của giác tánh, nó là cơ chế phát sinh ra nhất niệm vô minh, nhất niệm vô minh nối tiếp nhau liên tục tạo thành dòng nhận thức, suy nghĩ, tư tưởng, hệ tư tưởng, văn hóa, văn minh của nhân loại. Đối tượng của nhất niệm vô minh cũng là những cấu trúc ảo khác của vật chất và cả phi vật chất. Những cấu trúc ảo của vật chất này, nhà triết học Immanuel Kant (1724-1804) gọi là vật tự thể (Das Ding an Sich) bất khả tri. Cái khả tri qua nhận thức của lục căn thì đã bị ảo hóa không còn đúng thực tế nữa. PG gọi cấu trúc ảo của vật chất và phi vật chất là vô thủy vô minh. Thiền gọi vô thủy vô minh là thoại đầu. Vô thủy vô minh và nhất niệm vô minh là hai chìa khóa của cơ chế ảo hóa làm phát sinh vũ trụ vạn vật. Bản chất của vạn vật hay bản chất của con người là giác tánh. PG còn gọi nó là tánh Không của vạn hữu, hay còn gọi là Tâm. Kinh Phật nói “Nhất thiết duy tâm sở tạo” (Tất cả đều do tâm tạo) là nghĩa như vậy. Tham thiền hay tham thoại đầu là tự mình chứng được, ngộ được vô thủy vô minh và nhất niệm vô minh đích thực là bản chất của vũ trụ vạn vật, chúng không là gì cả mà cũng là tất cả. Khi làm chủ được rồi thì tự nhiên vận dụng được thần thông, sinh tử tự do, hay làm chủ được sinh tử, thoát khỏi luân hồi sinh tử, tùy ý sinh hay tử ở bất cứ đâu, bất cứ cảnh giới nào, dù cách xa địa cầu bao nhiêu tỉ quang niên cũng không thành vấn đề, vì tất cả mọi cảnh giới đều là duy tâm sở tạo. Lịch sử Thiền tông Trung Hoa ghi nhận có hơn 5000 người chứng được như vậy, Thiền gọi là kiến tánh. Nổi bật trong số đó là các vị Tổ Sư Thiền. Bên Ấn Độ sau Đức Phật, có 28 vị Tổ Sư, Sơ Tổ Ca Diếp, Nhị Tổ A Nan…Tổ 14 là Long Thọ Bồ Tát, Tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma bắt đầu sang Trung Quốc truyền Đạo Thiền, làm Sơ Tổ tại TQ. Truyền cho nhị Tổ Huệ Khả, tam Tổ Tăng Xán, tứ Tổ Đạo Tín, ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, lục Tổ Huệ Năng. Sau Huệ Năng, số người kiến tánh nhiều không kể xiết như Vĩnh Gia Huyền Giác, Huỳnh Bá Hy Vận, Lâm Tế Nghĩa Huyền, Đức Sơn Tuyên Giám, Nam Nhạc Hoài Nhượng, Pháp Nhãn Văn Ích…Thời hiện đại thì có Hư Vân Hòa thượng, Lai Quả Thiền sư, Nguyệt Khê Thiền sư…Đời Minh có Hám Sơn, Đơn Điền (hai vị này còn để lại nhục thân bất hoại, cùng với nhục thân của Huệ Năng, được thờ tại chùa Nam Hoa gần thị trấn Thiều Quan, cách Quảng Châu khoảng 200km về phía bắc). Hàng cư sĩ tại gia cũng có người kiến tánh, bên Ấn Độ có cư sĩ Duy Ma Cật, bên Trung Quốc có cả gia đình Bàng Uẩn gồm 4 người, nhà thơ Hoàng Đình Kiên…Người nữ cũng có kiến tánh, như vợ và con gái của Bàng Uẩn, bà già bán thức ăn điểm tâm, người đã giúp cho Đức Sơn Tuyên Giám kiến tánh…

Kết luận : Tâm như hư không vô sở hữu (theo cách nói của Long Thọ Bồ Tát) hay Phật tánh, hay Giác tánh, hay Thượng Đế (vô ngã), hay là Trời (nói theo Nho giáo), mới chính là bản chất đích thực của con người và cũng là của vạn vật, Thiền còn gọi nó là bổn lai diện mục, vốn vô sinh vô diệt, sẵn có trước khi cha mẹ chưa sinh ra ta.

“Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” (Descartes) hay “Tôi cảm thụ, vậy tôi tồn tại” (Louis Lavelle) chỉ là sự tồn tại của cái ta giả do vô minh kiến lập. “Tôi tư duy, vậy tôi không tồn tại” (Jean Paul Sartre) là không thừa nhận cái ta giả, cái ta giả chỉ là vọng tưởng do vô minh kiến lập, không phải thật. Nhưng Sartre không thân chứng được cái ta thật, tức bản chất đích thực của con người là gì, nên không thể tự giải thoát được. Trong L’Être et le Néant (Thực thể và Hư vô, 1943) tác phẩm triết học chính của ông, có nhiều sai lầm. Một trong các sai lầm căn bản của ông là cho rằng L’être est. L’être est en soi. L’être est ce qu’il est. (Thực-thể là. Thực-thể tự-tại. Thực-thể là cái gì nó là.) Nói thế tức là cho rằng vật chất tự nó tồn tại độc lập ngoài tâm thức, điều mà các nhà khoa học hàng đầu thế giới hiện nay đã chỉ ra là không đúng. Phật pháp nói thực thể (vật chất hay con người chẳng hạn) cũng không phải là thực thể. Hư vô cũng không phải là hư vô. Cái gì có thể nghĩ, có thể nói đều không có nghĩa thật. Cả chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa hư vô đều là biên kiến (lệch một bên) không phải trung đạo, và đều là bệnh.

(Truyền Bình)

Read more…

Việc thám hiểm không gian của con người liên quan gì tới Phật pháp ?

01:54 |
Các thành tựu về khoa học không gian giúp con người tiến xa hơn vào vũ trụ mênh mông là những thành tích đáng khâm phục và ngưỡng mộ. Các nhà Phật học vẫn hân hoan chia vui với tiến bộ khoa học kỹ thuật của loài người. Tuy nhiên họ vẫn có những quan điểm tổng quát về vũ trụ vạn vật để chia sẻ với các nhà khoa học như sau.

Tàu thám hiểm tự hành Curiosity của NASA hạ cánh xuống Sao Hỏa

Về mặt tốc độ, phi thuyền Hằng Nga 2 của Trung Quốc đi trong 3 năm (từ 2010 đến 2013) chỉ mới đi cách xa Địa cầu 60 triệu km. Phi thuyền Voyager 1 của Mỹ đi trong 36 năm (từ 1977 đến 2013) mới rời xa Trái đất 19 tỉ km, chỉ mới ra khỏi vùng rìa của Thái dương hệ. Như vậy chẳng phải là quá chậm sao so với sự mênh mông của vũ trụ ? Ngay cả trong trường hợp con người có khả năng đi với tốc độ ánh sáng, 300.000 km/giây cũng phải mất hàng triệu, hàng tỉ năm mới tới được những hành tinh xa xôi nơi có thể có những nền văn minh của những nhân loại khác. Kể cả trường hợp kỳ tài nhất là con người ngồi trên phi thuyền bay với tốc độ ánh sáng, họ không già đi, vì thời gian trên phi thuyền dừng lại, và bay tới một nơi tương đối gần, chỉ một trăm năm ánh sáng thôi. Như vậy đi và về mất hai trăm năm, người trên phi thuyền vẫn như cũ chưa già, nhưng người ở Trái đất đã trải qua hai trăm năm, không còn ai biết đến chuyến du hành của họ, người thân của họ, kể cả con cái họ, đều đã qua đời từ lâu, như vậy thì còn có ích lợi gì ? Điều đó nói lên khả năng giới hạn của khoa học kỹ thuật. Với tốc độ khoảng 50.000km/giờ của các phi thuyền hiện nay hoặc có thể đạt tới tốc độ gần bằng ánh sáng trong tương lai, con người vẫn không thể đi tới những nơi có sinh vật khác trong Tam giới. Chẳng hạn làm sao để lên được cõi trời Đao Lợi 忉利天như Thích Ca đã đi, hoặc lên được cõi trời Đâu Suất 兜率天như Vô Trước đã đi.

Vô Trước ( 無著; sa. asaṅga, nghĩa là “không bị ô nhiễm, vướng mắc”), cũng được dịch âm là A-tăng-già (阿僧伽), sống khoảng thế kỷ thứ 4, là một Đại luận sư của Phật giáo Ấn Độ, người sáng lập Duy Thức tông (sa. vijñānavādin). Sư vận dụng thần thông (sa. ṛddhi) lên Đâu Suất thiên (兜率天sa. tuṣita) để được nghe Bồ Tát Di Lặc thuyết giảng về tính Không. Về lại nhân thế, Sư truyền bá lý thuyết mới này nhưng không ai tin. Sau, Sư lại lên Đâu Suất để thỉnh Di Lặc xuống giáo hoá và sau đó Di Lặc giáng trần, thuyết giảng Thập thất địa (sa. saptadaśabhūmi, tức là 17 quyển của Du Già Sư Địa Luận- 瑜伽師地論 sa. yogācārabhūmi-śāstra) trong một khoảng thời gian bốn tháng. Trong lúc này, Sư ban ngày thì thuyết giảng những lời dạy của Di Lặc, ban đêm lắng nghe và ghi chép lại những lời giảng mới. Sau đó, Sư bắt đầu trình bày tất cả giáo lý Đại thừa qua những trứ tác quan trọng của mình và cũng khuyến dụ Thế Thân, người em cùng mẹ khác cha, theo Đại thừa. Thế Thân vốn theo học giáo lý của Hữu bộ và cũng đã viết bộ luận lừng danh là A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (sa. abhidharmakośaśāstra). Thế Thân nghe lời khuyên của Sư và từ đây, hai anh em trở thành hai Luận sư quan trọng của Đại thừa Phật pháp, đại diện cho nhánh Duy Thức, để lại những tác phẩm vô cùng quý giá cho hậu thế. Các tác phẩm quan trọng của Vô Trước là Du-già sư địa luận, Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Đại thừa a-tì-đạt-ma tập luận và Nhiếp đại thừa luận, một bộ luận viết bằng văn vần trình bày giáo pháp của Duy thức tông, hiện nay chỉ còn bản dịch chữ Hán và chữ Tây Tạng.

Các nhà khoa học duy vật mù tịt về việc Thích Ca lên cõi trời Đao Lợi, hoặc Vô Trước lên cõi trời Đâu Suất, hoặc pháp sư Khoan Tịnh đến viếng thăm cõi Tây phương Cực lạc của Phật A Di Đà, nếu có nghe nói thì cũng nghĩ rằng đó chỉ là những huyền thoại trong kinh sách chứ không có cơ sở khoa học. Nhưng họ lại không biết rằng những hiện tượng như vướng víu lượng tử (quantum entanglement) hoặc hiện tượng giam hãm (confinement) trong hạt proton và hạt neutron, cũng như thuyết vũ trụ nổ (Big Bang) đều là những cơ sở khoa học cho việc làm của các vị nói trên. Họ cũng hoàn toàn không hiểu được tại sao Trương Bảo Thắng có thể dùng tâm niệm lấy một trái táo ra khỏi một thùng sắt đã hàn kín, hay Hầu Hi Quý trong chớp mắt có thể lấy được một gói thuốc lá ở cách xa 1600km. Đảng Cộng sản Trung Quốc mặc dù bị thế giới phê phán là kiểm soát thông tin gắt gao nhất thế giới, nhưng trong thực tế đã có việc làm đúng đắn là cho phép những cuốn sách nói về các kỳ nhân như Nghiêm Tân, Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý, được xuất bản chính thức, nhờ vậy chúng ta mới biết được những việc làm phi thường của họ.

Tâm học Phật giáo chỉ ra rằng quan niệm duy vật chỉ hữu dụng trong cuộc sống đời thường thô thiển, cuộc sống tiện nghi vật chất, cơm ăn áo mặc, phương tiện sinh hoạt, phương tiện đi lại, phương tiện liên lạc như mạng internet, smartphone…chứ nếu muốn tìm cầu sự bình an vững chắc, sự an lạc vĩnh hằng thì khoa học không thể đáp ứng, vì nó đã vượt ngoài phạm trù duy vật, nó cần đến một sức mạnh phổ quát hơn, một khả năng to lớn hơn nhiều. Khoa học không thể đem lại hòa bình cho thế giới; khoa học không có khả năng khắc phục được thiên tai như động đất, núi lửa, bão tố, lụt lội, sóng thần; khoa học không thể giải quyết vấn đề sinh lão bệnh tử của con người; và cuối cùng khoa học không đủ sức giúp con người chu du khắp không gian và thời gian, giỏi lắm thì chỉ quanh quẫn trong thái dương hệ mà thôi.

Thích Ca từ hơn 2500 năm trước đã thuyết giảng và đôi khi tự mình chứng minh rằng Tâm là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, tất cả đều là do Tâm tạo (Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức 三界唯心、萬法唯識 – 華嚴經 Hoa Nghiêm Kinh)

若人欲了知,三世一切佛,Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật

應觀法界性,一切唯心造 Ưng quán pháp giới tính, nhất thiết duy tâm tạo

Nếu con người muốn biết tất cả Phật của ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) thì nên quán tính chất của pháp giới (tánh không), tất cả đều là do tâm tạo.

Chúng sinh xưa nay trôi lăn trong sinh tử luân hồi, lưu chuyển trong khắp tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới) bằng cách nào, vận tốc bao nhiêu ? Các nhà khoa học mù tịt trong lĩnh vực này vì nó đã vượt khỏi thế giới vật chất cảm nhận được bằng 6 giác quan. Nhưng các vị A La Hán, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật, có thần thông thì có thể chứng nghiệm một phần hoặc toàn phần các cõi giới trong đó sinh sống vô lượng vô biên chúng sinh. Trong đời, Đức Phật cũng có lần lên cõi trời Đao Lợi.

Trong bản đồ thánh tích Phật giáo, chúng ta thấy có địa danh Sankasya (Tăng Già Thi 僧伽施 gần New Delhi ngày nay), địa danh này tương đối ít được biết. Đó là nơi Đức Phật dùng thần thông lên trời Đạo Lợi 忉利天thuyết pháp cho mẹ là hoàng hậu Ma Da nghe.

Phật lên cõi trời chỉ một buổi thôi, nhưng người trần gian thấy là ba tháng, sau ba tháng Phật mới trở về trần thế, có Đế Thích và Phạm Thiên theo hầu. Điều đó cũng tương tự như pháp sư Khoan Tịnh đến viếng cõi Tây phương Cực lạc chỉ trong 20 giờ thôi, nhưng người đời thấy là 5 năm 6 tháng.

Cõi trời Đao Lợi (忉利天) ở đâu ? Chúng ta không thể tìm thấy trong vũ trụ này, nhưng không phải là không có. Theo Stephen Hawking (nhà vật lý người Anh, hiện mang chức danh Giáo sư Lucasian tức giáo sư Toán học của Đại học Cambridge, chỉ những nhà khoa học xuất sắc như Isaac Newton hay Paul Dirac mới có chức danh này) và Neil Turok (sinh năm 1958 tại Johannesburg, South Africa, Giáo sư Vật Lý của Đại học Princeton, Giám đốc Viện Perimeter về Vật Lý lý thuyết), hai người nói trong một định đề (postulate) : “The quantum world is one of virtual particles continually fluctuating in and out of existence, even in a vacuum, of superstrings vibrating and twisting in ten or eleven dimensions, most of which are ‘rolled up’ and invisible, of a reality in which gravitation, spacetime and matter are or were merged in one ‘instanton” (Thế giới lượng tử là thế giới của các hạt ảo không ngừng dao động qua lại giữa hiện hữu và cả hư không, của siêu dây rung động và biến dạng trong 10 hoặc 11 chiều kích_ mà phần lớn những chiều kích ấy bị cuốn lên và vô hình_của một thực tại trong đó lực hấp dẫn, thời không, và vật chất, được hoặc đã được kết hợp lại trong ‘sát na hiện tiền’). Vậy cõi trời Đao Lợi nằm trong một vũ trụ song song với vũ trụ của chúng ta, thuộc các chiều kích không gian bị cuốn lại nên người trần không thể thấy, nhưng người có thần thông như Đức Phật thì có thể thấy và đến được. Đến bằng cách nào ? Bằng cách dùng tâm niệm, chỉ một niệm là đến. Đây là phương thức di chuyển chủ yếu trong Tam giới.

Như vậy tốc độ hữu hiệu trong vũ trụ mênh mông và trong Tam giới chắc chắn phải là tốc độ của tâm niệm. Nghĩa là chỉ cần một niệm là đến bất cứ đâu trong Tam giới, dù cho cõi đó cách xa Địa cầu 14 tỉ quang niên, khoảng cách không gian hoàn toàn không còn ý nghĩa. Chính vì vậy nên Phật còn có danh hiệu là Như Lai, nghĩa là không đi không đến, tất cả mọi cõi giới đều là do tâm tạo, khoảng cách không gian vật lý trong vũ trụ chỉ là ảo tưởng, không có thật. Đó là điều chắc chắn 100%, vật lý lượng tử cũng xác nhận như thế, các nhà khoa học đã nhiều lần thí nghiệm về hiện tượng vướng víu lượng tử (quantum entanglement) thì nhận thấy hai photon vướng víu (entangled), khi một photon bị tác động thì tức thời photon kia bị tác động tương ứng tức thời bất kể khoảng cách là bao xa, điều đó chứng tỏ khoảng cách không gian là không có thật. Năm 2008, Nicolas Gisin của Đại học Geneva tiến hành đo thử tốc độ truyền tín hiệu nếu giả sử điều đó là có xảy ra giữa hai photon vướng víu (entangled), thì thấy tốc độ đó gấp hơn 10 triệu lần tốc độ ánh sáng, một sự kiện hoàn toàn không tưởng, nó làm sụp đổ định đề của Einstein nói rằng tốc độ của ánh sáng là nhanh nhất trong vũ trụ.

Tốc độ vô hạn, đó là tốc độ của tâm niệm, chẳng những nó đúng trong thế giới lượng tử mà cũng nghiệm đúng trong thế giới đời thường. Năm 1979, Hầu Hi Quý đã làm một thực nghiệm phi thường, ông và Hoa Cổ kịch đoàn của Du huyện tỉnh Hồ Nam đang lưu diễn ở làng Loan Sơn. Ông đã biểu diễn lấy một gói thuốc lá thơm hiệu Đỗ Quyên Hoa từ một nơi rất xa xôi là huyện Lạc Đô tỉnh Thanh Hải, cách xa 1600 km chỉ trong nháy mắt.

Thuốc lá hiệu Đỗ Quyên Hoa 杜鹃花 do huyện Lạc Đô 乐都 tỉnh Thanh Hải sản xuất. Huyện Lạc Đô (LeDu) nằm cách thủ phủ Tây Ninh 西宁 (XiNing) của tỉnh Thanh Hải 63km về phía đông.

Còn nơi Hầu Hi Quý và Hoa Cổ Kịch đoàn đang lưu diễn là làng Loan Sơn là một hương trấn ngày nay gọi là Loan Sơn Trấn 鸾山镇 trực thuộc Chu Châu Thị 株洲市 của Du Huyện 攸县. Chu Châu Thị phía đông tiếp giáp với tỉnh Giang Tây (JiangXi). Loan Sơn Trấn cách xa huyện Lạc Đô, nơi sản xuất thuốc lá Đỗ Quyên Hoa của tỉnh Thanh Hải (QingHai) , khoảng 1600 km.

Năm 1984, Hầu Hi Quý đã thực hiện việc lấy xăng từ trung tâm Bắc Kinh đổ vào một chiếc xe hơi hết xăng đang đậu tại hồ Mật Vân, cách xa 50km, cũng trong tức khắc. Thực tế là khoảng 20 lít xăng đã biến mất tại một cây xăng ở trung tâm Bắc Kinh và xuất hiện tức thời trong bình xăng xe hơi của công ty du lịch mà Hầu Hi Quý và nhóm của ông đang đi du ngoạn, qua một cái vỏ hộp diêm.

Những chi tiết kể trên chứng tỏ Tâm pháp của Đức Phật không phải là chuyện hoang đường, nó chính là cứu cánh của con người, cũng là cứu cánh của khoa học.

Con người vẫn nên tiếp tục chinh phục không gian vũ trụ, nhưng các nhà khoa học cũng nên biết rằng Tâm là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, khoa học vật chất là có giới hạn, con người nên hiểu sự giới hạn đó và đừng quá ham mê vật chất đến mức tranh giành lợi lộc, bất chấp chiến tranh khổ nạn cho thế giới một cách mê muội, mà nên cố gắng xây dựng hòa bình thế giới, nhân nhượng lẫn nhau để mưu cầu hạnh phúc chung cho nhân loại và cả các loài sinh vật khác trên quả Địa cầu.

(Truyền Bình)
Read more…

THIÊN ĐỊA VẠN VẬT ĐỒNG NHẤT THỂ

01:50 |
Thiên địa vạn vật đồng nhất thể 天地萬物同一體 hay vi nhất thể 為一體 là một khái niệm đã có từ lâu trong Đạo học và Triết học cả phương đông lẫn phương tây. Ở phương đông, Lão Tử, Đạo Đức Kinh nói “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật” 道生一,一生二,二生三,三生万物” tức là nói Đạo là nguồn gốc của vạn vật, như vậy vạn vật xuất phát từ một thể đồng nhất là Đạo. Ở phương tây, Parmenides và học trò là Zénon cũng có cùng nhận định như vậy. Parmenides là triết gia Hy Lạp cổ đại sống vào đầu thế kỷ thứ 5 trước công nguyên tại làng Elea (nay là thành phố Elea ở phía nam nước Ý). Tác phẩm duy nhất được biết đến của ông là một bài thơ, tựa đề Bàn về tự nhiên, hiện chỉ còn một phần bài thơ tồn tại cho đến ngày nay. Trong bài thơ này, Parmenides nêu ra hai quan điểm về thực tại. Một là “Con đường của chân lý” (“the way of truth”), ông giải thích thực tại là đơn nhất, thay đổi không thể xảy ra, sự tồn tại là vĩnh viễn, đồng nhất, cần thiết và không thay đổi. Hai là “Con đường nhận thức” (“the way of opinion”), ông giải thích hình tướng của vạn vật trong của thế giới, trong đó các chức năng cảm giác là ảo tưởng dẫn đến những nhận thức sai lầm và lệch lạc. Học trò của Parmenides là Zénon đã cụ thể hóa nhận thức của thầy trong các nghịch lý (paradoxes) trong đó có đề cập đến mũi tên thật ra không chuyển động nên không bao giờ bay đến đích (đã giới thiệu ở một bài trước).

Thực nghiệm về vạn vật đồng nhất thể

Trong cuốn “Con lắc Foucault”, Umberto Eco (triết học gia và nhà văn người Ý) viết: “Bất kỳ sự kiện nào cũng sẽ trở thành quan trọng khi nó được liên hệ với một sự kiện khác”. Hơn mười năm trước, thật ngạc nhiên thú vị vô cùng khi tôi biết rằng con lắc Foucault có mối liên hệ chặt chẽ với toàn bộ vũ trụ. Thật tuyệt vời!”

Theo Mach (nhà bác học lỗi lạc người Áo Ernst Mach) mọi điểm vật chất trong vũ trụ đều chịu tác động của toàn bộ vũ trụ, tổng hợp lực của toàn bộ vũ trụ tác động lên một điểm vật chất chính là lực quán tính tác động lên điểm ấy, và lực quán tính làm cho con lắc giữ nguyên mặt phẳng dao động của nó, bất chấp Trái Đất quay. Hiện tượng con lắc Foucault, do Léon Foucault, một nhà vật lý người Pháp, khám phá ra và ông đã làm thí nghiệm với một con lắc vĩ đại trong điện Panthéon ở Paris để chứng minh Trái Đất quay xung quanh trục. Trong thí nghiệm, con lắc luôn dao động theo tư thế ban đầu của nó, không thay đổi, dù cho ông có xoay sợi dây treo con lắc. Mach nêu ra nguyên lý : bất kể vật chất nào trong vũ trụ cũng phải gắn kết chặt chẽ với toàn bộ phần còn lại của vũ trụ; không tồn tại bất kỳ một cá thể độc lập nào; sự phân chia vật chất thành những thành phần đối lập loại trừ lẫn nhau là sai lầm, giả tạo, bởi toàn vũ trụ là MỘT!

Lý thuyết hiện đại của phương tây về vạn vật nhất thể

Đó chính là thuyết Big Bang (vụ nổ lớn của vũ trụ). Vũ trụ ban sơ chỉ là một chất điểm kích thước cực kỳ nhỏ, đó là kích thước Planck (10-33cm – mười lũy thừa trừ 33 centimét). Thế rồi xảy ra vụ nổ lớn hình thành vũ trụ ngày nay, sau gần 14 tỉ năm, vũ trụ trụ ngày nay có kích thước là 93 tỉ năm ánh sáng, trong đó có không gian, thời gian, vật chất với số lượng vô cùng lớn, gần như vô hạn, có vạn vật với thiên hình vạn trạng, nhưng chung qui có thể qui về lượng tử là đơn vị nhỏ nhất của năng lượng. Kích thước của lượng tử chính là kích thước của vũ trụ trước khi nổ. Tất cả vật chất đều có thể qui về năng lượng theo công thức nổi tiếng của Einstein : E=mc2 . Trong đó m là khối lượng vật chất, c và vận tốc ánh sáng, là một hằng số gần bằng 300.000 km/giây. Như vậy vũ trụ đồng nhất thể, đó là lượng tử.

Lý thuyết hiện đại về vạn vật đồng nhất thể còn được bổ sung bởi hiện tượng rối, vướng víu lượng tử (quantum entanglement). Đây là hiện tượng một hạt photon (ánh sáng) có thể xuất hiện đồng thời ở vô lượng vô biên vị trí khác nhau trong vũ trụ mà thí nghiệm của Maria Chekhova và các đồng sự tại Viện Khoa học Ánh sáng Max Planck và Đại học Moscow tiến hành năm 2012 đã chứng tỏ. Các thí nghiệm này xác nhận rằng các lượng tử (ví dụ hạt photon) có những tính chất kỳ bí không thể tưởng tượng nổi. Đó là không có số lượng, một hạt photon có thể xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau thì nó trở thành 100.000 hạt photon. Con số 100.000 cũng không phải là giới hạn, con số có thể lên đến vô cực. Thí nghiệm này có ý nghĩa về triết học hết sức quan trọng, đó là không gian, thời gian, số lượng vật chất chỉ là ảo tưởng. Toàn bộ vũ trụ vạn vật thật ra chỉ là một hạt lượng tử mà thôi.

Một số nhà khoa học như David Bohm và Craig Hogan còn đi xa hơn, cho rằng cái nhất thể của vũ trụ vạn vật là thông tin, là ảo hóa, giống như quan điểm của Duy thức học Phật giáo, vũ trụ có thể được mô tả bằng bit thông tin, tương tự như bit tin học hiện nay. Craig Hogan còn mô tả rõ thế nào là bit thông tin vũ trụ. Vũ trụ chỉ là hai con số 0 và 1.


Một bit thông tin vũ trụ bằng 4 diện tích Planck (10-66 cm2 – mười lũy thừa trừ 66 centimét vuông)

Giải thích của Phật giáo về vạn vật nhất thể

Sự ảo hóa có khả năng tạo ra vô vàn điều kỳ thú, mà sự ảo hóa đó xuất phát từ một năng lực chung, gọi là tâm. Mọi cá thể chúng sinh có một cái tâm riêng gọi là tâm chấp ngã, chấp pháp, tâm đó phân biệt mọi thứ thành ra vạn vật. Nhưng Phật pháp nói rằng tất cả mọi chúng sinh đều có chung một tâm mà Duy Thức học gọi là A-lại-ya thức. Cái tâm riêng là vọng tưởng chấp ngã chấp pháp gọi là Mạt-na thức (Manas) , đó là tâm luân hồi sinh tử, bé nhỏ như cái bọt biển, còn cái tâm chung mới đích thực là tâm như hư không vô sở hữu, to lớn như đại dương, người tu hành theo Phật giáo có cứu cánh là chứng được cái tâm này, gọi là giác ngộ, thiền Trung Hoa gọi là kiến tánh thành Phật, tâm này còn có nhiều danh hiệu khác như : Chánh biến tri, Như Lai, Phật thế tôn. Vậy vạn vật nhất thể của Phật giáo chính là Tâm, đây chính là lực tổng hợp duy nhất của 4 lực cơ bản của thế giới vật chất và rất nhiều lực vô hình của nghiệp chướng trong Tam giới. Cái ý nghĩa vạn vật nhất thể được Phật giáo gọi là bất nhị. Bất nhị tức không phải là hai nhưng cũng không phải là một. Gọi như vậy mới chính xác. Chúng ta thấy rằng photon chẳng phải là hạt, cũng chẳng phải là sóng, có khi nó thể hiện là hạt, có khi nó thể hiện là sóng. Cố xác định nó phải là cái gì thì cũng không đúng. Vật chất chẳng phải là có thật, mà cũng không hẳn là không có, không thể gò ép được. Trong vật lý học, đây là nguyên lý bất định (Principle of Uncertainty) do Werner Heisenberg nêu ra năm 1927. Trong toán học, đây là định lý bất toàn (Incompteness Theorem) do Kurt Gödel nêu ra năm 1931. Nguyên lý bất định cũng có ý nghĩa trong Sinh vật tiến hóa luận, nó khiến cho thuyết sinh vật tiến hóa của Darwin trở nên không vững chắc. Trong Phật giáo, đó là Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm.

Như vậy, mặc dù Phật giáo cũng nói vũ trụ vạn vật là nhất thể tức chỉ là một tâm mà thôi, nhưng không thể chấp vào một, cũng không thể chấp vào nhiều, tạm gọi là bất nhị. Phật giáo có thể giải thích một cách rõ ràng và khoa học về việc tại sao vũ trụ vạn vật thiên hình vạn trạng, mềm cứng khác nhau, không không, có có, lại đồng nhất cùng một thể tánh gọi là Phật tánh.

Thứ nhất, những hạt cơ bản cấu trúc nên thế giới vật chất đều là hạt ảo, không có thật, kinh điển gọi là hoa đốm trong hư không. Ngày nay khoa học đặt tên là các hạt hạ nguyên tử (subatomic particles). Chúng là hạt ảo bởi vì không thể cô lập tách rời chúng khỏi môi trường hoạt động của chúng, hoặc bắt chúng đứng yên. Khi làm như vậy thì chúng biến mất. Niels Bohr (1885-1962, nhà vật lý người Đan Mạch, giải Nobel vật lý 1922) nói “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức không phải vật thật).

Thứ hai, tuy là hạt ảo nhưng chúng có cấu trúc rõ ràng, đó là cấu trúc nguyên tử của vật chất gồm có hạt proton, neutron làm hạt nhân nguyên tử, hai loại hạt này được cấu tạo từ 3 hạt quark. Ba hạt quark (2up+1down) dính chùm vĩnh viễn thành hạt proton, hoặc hạt neutron (1up+2down) bị giam mãi mãi không thể tách rời gọi là hiện tượng giam hãm (confinement). Sở dĩ có hiện tượng này là do tâm cố chấp vô cùng kiên cố của chúng sinh. Với những nhà đặc dị công năng như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý, họ có thể dùng tâm lực phá vỡ hiện tượng giam hãm này khiến cho vật chất biến mất hoàn toàn, siêu việt hơn cả vụ nổ hạt nhân. Nổ hạt nhân chẳng qua là phá vỡ hạt nhân nguyên tử của nguyên tố này để cho ra nguyên tố khác, đồng thời giải phóng một số lượng lớn năng lượng. Ví dụ : khi vụ nổ hạt nhân Uranium 235 xảy ra :

Biểu đồ phản ứng phân hạch Uranium 235.

Trong biểu đồ, hạt nhân U235 bị phân rã thành U236, Kripton và Barium

Còn khi phá vỡ hiện tượng giam hãm thì vật chất biến mất hoàn toàn và có thể phục nguyên trở lại ở một vị trí khác trong không gian, có thể rất xa nơi biến mất mà không cần chút thời gian nào bởi vì khoảng cách không gian chỉ là ảo. Năm 1979, Hầu Hi Quý đã dùng tâm lực lấy một gói thuốc lá hiệu Đỗ Quyên Hoa từ nơi sản xuất là huyện Lạc Đô, tỉnh Thanh Hải, phục nguyên nó tại làng Loan Sơn nơi ông và Hoa Cổ Kịch Đoàn của Du Huyện đang lưu diễn ở đó, với khoảng cách 1600 km, chỉ trong nháy mắt.

Thứ ba, cấu trúc ảo của vật chất, tự nó không có thật, nhưng trong điều kiện nào thì nó sẽ hiện hữu ? Điều kiện đó là, dưới sự hướng dẫn của Chánh biến tri (Ki Tô Giáo gọi là Thượng Đế_God) cấu trúc ảo hình thành được sinh vật, sinh vật thượng đẳng là con người với các giác quan và bộ não. Con người cũng chỉ là một cấu trúc ảo, nhưng nó có khả năng tri giác và tổng hợp các tri giác đó thành tưởng tượng và tư duy (Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng). Nó có khả năng tiếp xúc với các cấu trúc ảo khác và nhận thức thành vật như : đất đai, sông núi, con trâu, con ngựa, nhà cửa, xe cộ, tinh tú, thiên hà, vũ trụ. Vì tất cả chỉ là tưởng tượng chứ không có thật, nhưng chúng sinh tưởng là thật, nên Phật mới nói đó là vô minh. Vô minh là mắt xích đầu tiên của một chuổi 12 nhân duyên tạo thành cuộc sống thế gian. Đó chính là thuyết Thập nhị nhân duyên của Đạo Phật như sơ đồ dưới đây :

VÔ MINH →HÀNH→THỨC→DANH SẮC→LỤC NHẬP→XÚC→THỌ→ÁI→THỦ→HỮU(hiện hữu, tồn tại) →SINH(Đời sống, Sinh sản)→LÃO TỬ(già chết)

Sơ đồ Thập nhị nhân duyên Phật giáo

Màn hình vi tính hoặc thiết bị nghe nhìn là không gian 3 chiều (mặt phẳng hai chiều và thời gian) của các loại video, phim truyện. Còn cuộc sống đời thường 4 chiều (3 chiều không gian và 1 chiều thời gian) cũng chính là một thế giới ảo khác, là nằm mơ giữa ban ngày của con người và các chúng sinh khác trong vũ trụ vạn vật này.

Toàn bộ vũ trụ có thể qui về lượng tử, đó là một thể đồng nhất mà các nhà khoa học nhìn nhận. Nhưng đối với Phật giáo, lượng tử chưa phải là rốt ráo, chưa phải là bất nhị, lượng tử chỉ mới là vô thủy vô minh mà thôi, còn cái tâm niệm của con người là nhất niệm vô minh. Chính nhất niệm vô minh phối hợp với vô thủy vô minh thành cái mà chúng ta gọi là vũ trụ vạn vật. cuộc sống thế gian. Cái sức mạnh chi phối lượng tử để tùy ý vẽ nên vũ trụ vạn vật mới thực là rốt ráo, đó chính là tâm bất nhị, là tâm giác ngộ, là Phật tánh, là cái nhất thể của vạn vật. Đức Phật A Di Đà đã điều khiển lượng tử để hình thành Cõi giới Tây phương Cực lạc là một ví dụ cho thấy sức mạnh của tâm giác ngộ. Các nhà đặc dị công năng hiện đại như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý, Phan Thị Bích Hằng, mặc dù cũng chưa là gì so với lục thông của Phật, nhưng cũng đủ để chứng tỏ thế giới là ảo hóa và tâm là một sức mạnh vô địch. Hiện nay chưa có sức mạnh vật chất nào đủ sức phá vỡ hiện tượng giam hãm của hạt proton và hạt neutron, nhưng sức mạnh tâm linh của các nhà đặc dị công năng quả thật là làm được những việc phi thường không thể tưởng tượng nổi mà người đời gọi là thần tiên.

(Truyền Bình)
Read more…

PHẬT PHÁP LÀ KHOA HỌC TÂM LINH CÓ ĐÓNG GÓP LỚN CHO NHÂN LOẠI

01:41 |
Einstein hai lần đưa ra thuyết tương đối. Lần đầu là “Thuyết tương đối hẹp” và lần sau là “Thuyết tương đối rộng” theo như một số người dịch. Tôi không muốn dùng chữ “hẹp”. Trong tiếng Anh, lần đầu viết là Theory of special relativity, người ta dùng từ special (đặc biệt) vì nó rất khác thường, hoàn toàn khác so với quan niệm quen thuộc của Newton. Thuyết này nói về sự tương đối của không gian, thời gian và khối lượng vật chất, đây là những khái niệm rất cơ bản, rất bao quát, rộng lớn chứ không thể gọi là hẹp được. Dùng từ “hẹp” vừa không đúng với nguyên văn vừa không đúng với khái niệm, mức độ rộng lớn mà nó đề cập. Thuyết tương đối của Einstein là một cuộc cách mạng lớn trong nhận thức khoa học, tuy nhiên vẫn còn những điểm hạn chế khi đối chiếu với giáo pháp của Thích Ca. (xem bài Chốt lại cuộc đối thoại giữa Phật giáo và Khoa học)

Thích Ca chẳng những biết vũ trụ theo quan niệm của con người mà còn biết Tam giới bao gồm Dục giới (vũ trụ vạn vật), Sắc giới (cõi giới có hình tướng nhưng không có vật chất, ví dụ cõi âm của các vong linh), Vô sắc giới (cõi giới không vật chất không hình tướng, chỉ còn ý niệm như cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ). Giáo pháp căn bản của Thích Ca là “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” tức là tất cả các pháp kể cả vật chất và phi vật chất đều là tâm thức. Khoa vật lý học của con người mãi đến khi môn cơ học lượng tử ra đời mới bắt đầu hiểu được giáo pháp đó. Các khoa học gia bắt đầu hiểu rằng thế giới vật chất mà họ biết được chỉ bao gồm một số ít hạt cơ bản. Mô hình chuẩn của vật lý có 17 hạt mà hạt sau cùng là higgs boson mới được khám phá và công bố ngày 4-7-2012.



Trong đó phần lớn vật chất trên địa cầu chỉ gồm có 3 loại hạt là quark up, quark down và electron. Niels Bohr nói rằng các hạt cơ bản chỉ là hạt ảo “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập là những sự vật trừu tượng- tức là ảo chứ không phải vật thật). Nhưng khi ba hạt quark kết hợp lại thành hạt proton và hạt neutron trong hạt nhân nguyên tử thì chúng rất bền, tuổi thọ hàng tỉ năm, đó là lý do khiến chúng ta cảm nhận thế giới vật chất bền vững. Chính vì vật chất vốn là cấu trúc ảo, Phật giáo nói bản chất của nó là không, nó có tánh không, chỉ là ảo hóa chứ không phải thật. Vật chất chỉ là cấu trúc ảo, phải có các giác quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, não, (lục căn) hoặc thiết bị tương ứng mới cảm nhận được nó. Vật chất không có thực chất nhưng được lục căn cảm nhận và tưởng tượng thành vật chất. Tuy là ảo, là tưởng tượng nhưng nó có cấu trúc cụ thể nên sự cảm nhận rất chi ly rõ ràng. Cái tưởng tượng này Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng, tức tưởng tượng đã được lưu truyền rộng rãi trên thế gian. Nói tóm lại vật chất chỉ là hạt ảo quark, electron nhưng chúng ta thấy là sơn hà, đại địa, nhà cửa, xe cộ, đường sá. Nếu không có ai thấy và cảm nhận thì vật chất cũng chỉ là quark, electron chứ không phải nhà cửa, xe cộ, sông núi. Thích Ca thấy và chứng nghiệm như vậy nên mới nói tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Một số nhà khoa học cũng đồng tình như vậy. Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism” (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).

Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết : “The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại).

Nhưng Einstein không tin như vậy, ông nói : nếu không ai nhìn Mặt trăng thì chẳng lẽ Mặt trăng không tồn tại ? Chính vì Einstein cố chấp thế giới là khách quan nên ông rất bối rối trước hiện tượng rối, vướng víu lượng tử (quantum entanglement). Ông không hiểu sao hai photon lại biến đổi theo nhau một cách tức thời không tùy thuộc định xứ (nonlocality) và vượt qua tốc độ giới hạn của vật chất 300.000 km/giây mà ông đã nêu trong thuyết tương đối. Ông bèn nói đó là tác động ma quái từ xa (Spooky action at a distance). Sau này năm 2008, Nicolas Gisin và đồng sự của ông tại Đại học Geneva, Thụy Sĩ, làm lại thí nghiệm với nhiều điều kiện tối tân chính xác hơn xưa, thì thấy rằng hai photon cách nhau 18 km nhưng vẫn biến đổi tức thời theo nhau, nếu nói tín hiệu di chuyển từ photon này tới photon kia thì tốc độ phải là 10 triệu lần tốc độ ánh sáng, thật là không tưởng ! Vậy phải hiểu thế nào ? Khoảng cách 18 km chỉ là ảo, hai photon không phải là hai cũng không phải là một (Phật giáo gọi là bất nhị).

Mà không phải chỉ có thế giới lượng tử mới có hiện tượng đó. Thế giới đời thường cũng giống y như vậy, nhưng phải là người có đặc dị công năng mới thực hiện được. Khoảng cuối thập niên 1980, Hầu Hi Quý và một số nhân viên của một công ty du lịch ở Bắc Kinh, đi chơi hồ Mật Vân cách Bắc Kinh 50km trên một chiếc xe hơi, mà quên đổ đầy xăng, bận về xe họ hết xăng dọc đường. Hầu Hi Quý đã dùng vỏ bao diêm rót xăng vào bình, xăng từ Bắc Kinh cách đó 50 km, vượt qua khoảng cách đó mà không mất chút thời gian nào, giống như thần thoại và cũng giống như lượng tử. Trong một lần khác, mọi người thấy Hầu Hi Quý đang đứng trên lề đường, bỗng biến mất và xuất hiện ngay tức khắc trên balcon lầu ba của một cao ốc gần đó. Quả thật là ông đã di chuyển với tốc độ của ý niệm.

Vũ trụ vạn vật chỉ là tâm niệm, nên bậc giác ngộ như Thích Ca, thoát khỏi sự hạn chế của không gian, thời gian, vật chất, khởi niệm là đến, không phải là hoang đường, Hầu Hi Quý còn làm được cơ mà. Thích Ca còn có danh hiệu Như Lai (không đi không đến) là vì vậy.

Vết tích còn lưu lại là Tăng Già Thi (僧伽施 Sankasya) là nơi Đức Phật lên cõi trời Đao Lợi 忉利 thuyết pháp cho mẫu hậu Ma Da và trở về sau ba tháng. Tại đây có một ngôi tháp được xây để kỷ niệm nơi trời Ðế Thích và Phạm thiên đã theo hầu đức Phật khi Ngài từ cõi trời thứ 33 trở về thế gian. Ngày nay, Sankasya là một làng nhỏ bé nghèo nàn dân số chưa tới 1000 người thuộc quận Mainpuri, bang Uttar Pradesh.

Bản đồ vị trí của Tăng Già Thi (Sankasya)

Trong bản đồ thánh tích Phật giáo, chúng ta thấy có địa danh Sankasya (Tăng Già Thi僧伽施 gần New Delhi ngày nay), địa danh này tương đối ít được biết. Đó là nơi Đức Phật dùng thần thông lên trời Đạo Lợi 忉利天thuyết pháp cho mẹ là hoàng hậu Ma Da nghe, Phật lên cõi trời chỉ một buổi thôi, nhưng người trần gian thấy là ba tháng, sau ba tháng Phật mới trở về trần thế, có Đế Thích và Phạm Thiên theo hầu. Điều đó cũng tương tự như pháp sư Khoan Tịnh đến viếng cõi Tây phương Cực lạc chỉ trong 20 giờ thôi, nhưng người đời thấy là 5 năm 6 tháng.

Cõi trời Đao Lợi (忉利天) ở đâu ? Chúng ta không thể tìm thấy trong vũ trụ này, nhưng không phải là không có. Theo Stephen Hawking (nhà vật lý người Anh, hiện mang chức danh Giáo sư Lucasian tức giáo sư Toán học của Đại học Cambridge, chỉ những nhà khoa học xuất sắc như Isaac Newton hay Paul Dirac mới có chức danh này) và Neil Turok (sinh năm 1958 tại Johannesburg, South Africa, Giáo sư Vật Lý của Đại học Princeton, Giám đốc Viện Perimeter về Vật Lý lý thuyết), hai người nói trong một định đề (postulate) : “The quantum world is one of virtual particles continually fluctuating in and out of existence, even in a vacuum, of superstrings vibrating and twisting in ten or eleven dimensions, most of which are ‘rolled up’ and invisible, of a reality in which gravitation, spacetime and matter are or were merged in one ‘instanton” (Thế giới lượng tử là thế giới của các hạt ảo không ngừng dao động qua lại giữa hiện hữu và cả hư không, của siêu dây rung động và biến dạng trong 10 hoặc 11 chiều kích_ mà phần lớn những chiều kích ấy bị cuốn lên và vô hình_của một thực tại trong đó lực hấp dẫn, thời không, và vật chất, được hoặc đã được kết hợp lại trong ‘sát na hiện tiền’). Vậy cõi trời Đao Lợi nằm trong một vũ trụ song song với vũ trụ của chúng ta, thuộc các chiều kích không gian bị cuốn lại nên người trần không thể thấy, nhưng người có thần thông như Đức Phật thì có thể thấy và đến được. Đến bằng cách nào ? Bằng cách dùng tâm niệm, chỉ một niệm là đến. Đây là phương thức di chuyển chủ yếu trong Tam giới.

Các nhà ngoại cảm như Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Văn Nhã, có khả năng tiếp xúc với vong linh người đã chết, họ nói rằng chết không phải là hết. Vong linh đi đầu thai chuyển kiếp, lên cõi trời của chư thiên, xuống địa ngục hoặc vãng sanh, siêu thoát sang thế giới tây phương cực lạc của Phật A Di Đà đều bằng tâm niệm cả. Người mang nghiệp thì không được tự do tự tại mà do nghiệp dẫn dắt. Còn người tu hành giác ngộ không còn nghiệp thì sinh tử tự do, họ có thể đến một thế giới vì một đại sự nhân duyên nào đó. Nói như thế có vẻ hoang đường nhưng chúng ta đã biết rằng cơ học lượng tử và thần thoại không còn ranh giới. Những việc mà những người có đặc dị công năng như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý làm đều giống như thần thoại, nhưng đó là người thật việc thật.

Khoa học hiện nay đã tới đường cùng, toán học, vật lý học, sinh vật tiến hóa luận đều rơi vào ngõ cụt. Một số nhà khoa học như David Bohm nêu khái niệm vũ trụ là toàn ảnh tức là ảo ảnh ba chiều xuất hiện từ dữ liệu nền hai chiều, vận động của vũ trụ ba chiều (chưa nói tới chiều thời gian) có thể được ghi lại trên mặt phẳng hai chiều và tái hiện lại. Craig Hogan thì nói vũ trụ là số tức là thông tin, cũng tương tự như thế giới vi tính ảo của chúng ta, chỉ cao cấp hơn mà thôi.

Khoa học là có giới hạn. Với tốc độ 50.000 km/giờ, các phi thuyền hiện nay chỉ có thể bay quanh quẩn trong thái dương hệ. Giả dụ con người một ngày nào đó chế tạo được phi thuyền bay với vận tốc gần bằng ánh sáng. Theo lý thuyết tương đối của Einstein con người có thể đi tới những hành tinh xa xăm để tìm kiếm sinh vật khác trong vũ trụ, đi và về tối đa trong khoảng một đời người, trong khi trên địa cầu hàng ngàn hàng vạn năm đã trôi qua. Như vậy thì chuyến đi đó còn có ý nghĩa gì ? Vận tốc ánh sáng vẫn còn là quá chậm.

Như vậy trong tam giới (còn rộng lớn hơn cả vũ trụ) Phật, Bồ Tát đi cứu độ, và chúng sinh đi đầu thai chuyển kiếp, đều phải đi bằng vận tốc của ý niệm, đó mới là thực tế. Hay nói cách khác là không có đi đâu cả (Như Lai), tất cả cõi giới đều là tâm niệm, là ảo chứ không phải thật. Thích Ca đã phát hiện ra tánh không của vật chất, tất cả vật chất khắp vũ trụ đều không có thực chất, đều chỉ là tâm thức cả. Các nhà vật lý hiện nay đã thấy chỗ bế tắc của vật lý học, họ biết rằng vật chất không có thực thể nên họ lập ra một ngành khoa học mới gọi là Cơ học lượng tử tương quan (Relational Quantum Mechanics viết tắt RQM) diễn giải rằng vật chất chỉ là mối tương quan lượng tử giữa các cấu trúc ảo, nguyên tử không phải là vật. (Heidenberg : ““Atoms and elementary particles…form a world of potentialities or possibilities, rather than one of things or facts…atoms are not things” (Nguyên tử và các hạt cơ bản…hình thành một thế giới tiềm thể hay có khả năng hiện hữu, chứ không phải một thế giới của vật thể hay sự vật có thật…Nguyên tử không phải là vật). Mối tương quan giữa con người với các cấu trúc tiềm thể đó chính là cái được gọi là vật chất như thân thể, cái nhà, chiếc xe.

Thích Ca biết rõ tất cả vật chất khắp vũ trụ đều không có thực chất, đều chỉ là tâm thức cả, nên không có lòng tò mò đi đến những hành tinh, thế giới không có chúng sinh để làm gì, mà chỉ phát nguyện đến những thế giới có chúng sinh mê muội đang bị đau khổ để cứu độ họ, như cõi trần gian này chẳng hạn. Khi Thích Ca vừa ra đời, đạo sĩ A Tư Đà đã đoán biết người này sẽ trở thành một bậc đại giác ngộ, sẽ giáo hóa chúng sinh giác ngộ, thoát khổ. Phật pháp do Thích Ca tuyên thuyết, đó chính là khoa học tâm linh, là con đường giải thoát cho chúng sinh mê muội đau khổ. Kinh điển do Phật thuyết và do các Tổ Sư về sau phát triển được tập họp lại trong bộ sách đồ sộ nổi tiếng thế giới là Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh xuất bản tại Tokyo từ năm 1924-1934 gồm khoảng 80 tập, mỗi tập dày khoảng 1000 trang. Thích Ca có đóng góp rất lớn trong đời sống tâm linh, tinh thần của nhân loại. Hiện nay trên thế giới có mấy trăm triệu tín đồ Phật giáo và không biết bao nhiêu người sống theo giáo lý của nhà Phật, những người thuần thành tin tưởng Phật pháp có thể tìm thấy cho mình sự an lạc trong tâm hồn.

Phật pháp là một hệ thống nhận thức về cả hai phương diện vật chất và tâm linh rất cao nhưng thiên về tâm linh, giác ngộ, giải thoát khổ đau, chứ không nhằm tìm kiếm tiện nghi đời sống vật chất. Các khoa học khác của con người như toán học, vật lý học, sinh học, một khi đã đi hết con đường vật chất, ắt phải đi tiếp con đường tâm linh nếu không sẽ bế tắc. Trong đời sống cá nhân của con người cũng thế, một khi đời sống vật chất đã đầy đủ, nếu không hướng tới con đường tâm linh an lạc thì sẽ làm gì ? Các pháp trên thế gian đều vô thường, như hoa đẹp sớm nở tối tàn, người đẹp rồi có lúc cũng già, bệnh, chết. Các quốc gia có lúc hưng thịnh cũng có lúc suy tàn, các công trình vĩ đại như Vạn Lý Trường Thành, cũng có lúc trở thành phế tích. Chỉ có bản tâm bất sinh bất diệt, như hư không vô sở hữu mới là vĩnh cửu. Thích Ca phát hiện Tâm là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật. Phật tử bỏ cái ta giả đầy phiền não để hội nhập với cái Tâm chung của tất cả chúng sinh chính là con đường hạnh phúc chân thật, vững chắc, mà Thích Ca đã hướng dẫn trong kinh điển, là đóng góp vĩ đại của Thích Ca cho nhân loại.

(Truyền Bình)
Read more…

Video

Back to top Go bottom