Tủ sách y học thường thức

02:33 |
Dinh dưỡng và thực phẩm

Tác giả: Bác sĩ Nguyễn Ý Đức, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính
NXB: Y Học
Khổ sách: 14.5x20.5cm
Độ dày: 320 trang
Tải sách dạng file PDF







Dinh dưỡng và điều trị

Tác giả: Bác sĩ Nguyễn Ý Đức, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính
NXB: Y Học
Khổ sách: 14.5x20.5cm
Độ dày: 352 trang
Xem và tải dạng file PDF
Read more…

Sách Siêu âm chẩn đoán (Diagnostic Ultrasound)

01:05 |
Cuốn sách là tài liệu tham chuẩn, được phổ biến tại Hoa kỳ và Châu âu. Bộ sách gồm hơn 2000 trang,và gần 3700 ảnh minh họa . Trong đó có tới 460 ảnh màu ,bao gô toàn bộ lĩnh vực của ứng dụng siêu âm (không bao gôm siêu âm tim và mắt). Mỗi chương đề được các tác giả xuất sắc trong lĩnh vực soạn thảo và tham khảo từ tài liệu khác. ngoài ra sách có bảng chỉ mục tiện cho việc tra cứu khi cần

Đây là bộ sách hình học đầu tiên được biên dịch có Bản Quyền được Bác Sĩ Nguyễn Quang Thái Dương - Bộ môn chẩn doán hình ảnh và nhà xuất bản Mosby-Hoa Kỳ. Tham gia biên dịch hầu hết là giảng viên bộ môn chẩn đoán hình ảnh đại học Y Dược TP.HCM

Cuốn 1 của bộ sách về vật lý,các tác động sinh học của siêu âm -Siêu âm bụng,siêu âm chậu,siêu âm ngực và các thủ thuật can thiệp/

Cuốn 2 gồm các chương về siêu âm trong mổ,siêu âm nọi soi và siêu âm phần mềm,siêu âm Doppler mạch máu não ngoại biên

Thông tin sách : Diagnostic Ultrasound -Siêu âm chẩn đoán

Tác Giả : Carol M. Rumack, Stephanie R. Wilson, J. William Charboneau

Biên Dịch : Bs. Võ Tấn Đức, Bs. nguyễn Quang Thái Dương

Tải sách Tại đây
Read more…

Sách Operative Obstetrics (Phẫu thuật Sản Khoa)_tiếng Anh

19:20 |

Với xu thế việc mổ đẻ ngày càng được sử dụng nhiều hơn và việc mổ đẹp ngày càng được quan trọng và phổ biến hơn.Những thay đổi của xã hội ảnh hưởng đến hực hành cũng đạt được một tỉ lệ đáng kể.Thúc đẩy tái thẩm định sự phù hợp của một số loại phẫu thuật trong thời kỳ mang thai

Phiên bản này được cập nhật đầy đủ bao gồm các chương về về sinh mổ,chấn thương khi sinh,thai ngoài tử cung và các biến chứng trong phẫu thuật
Ngoài ra cuốn sách cũng đề cập đến các vấn đề gây tranh cãi như suy cổ tử cung,chấm dứt thai kỳ,công cụ can thiệp khi mổ đẻ và đẻ khó ngôi vai.

Cuốn sách bao gồm có 4 phần. trong một phần là những phần tích chuyên sau về các vấn đề đạo đức và pháp lý quan trọng làm nền tảng cho việc thực hành.
Một phục lục mở rộng xem xét các khái niềm pháp lý thích hợp với học viên.

Author : John Patrick O’GrL, Martin L .Gimovsky,Lucy A.Bayer-Zwirello,Kenvin Giordano

Tải sách Tại đây

Read more…

Sách Bệnh học và điều trị nội khoa (kết hợp Đông - Tây y)

04:35 |

Sơ lược: Thực hiện một số điều của Luật Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Y tế đã ban hành chương trình khung đào tạo bác sĩ y học cổ truyền. Bộ Y tế tổ chức biên soạn tài liệu dạy - học các môn cơ sở, chuyên môn và cơ bản chuyên ngành theo chương trình trên nhằm từng bước xây dựng bộ sách chuẩn về chuyên môn để đảm bảo chất lượng đào tạo nhân lực y tế.

Sách “Bệnh học và điều trị nội khoa kết hợp Đông - Tây y” được biên soạn dựa trên chương trình giáo dục của Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở chương trình khung đã được phê duyệt. Sách được các nhà giáo giầu kinh nghiệm và tâm huyết với công tác đào tạo biên soạn theo phương châm: kiến thức cơ bản, hệ thống; nội dung chính xác, khoa học, cập nhật các tiến bộ khoa học, kỹ thuật hiện đại vào thực tiễn Việt Nam.

Sách “Bệnh học và điều trị nội khoa kết hợp Đông - Tây y” đã được Hội đồng chuyên môn thẩm định sách và tài liệu dạy - học chuyên ngành bác sĩ y học cổ truyền của Bộ Y tế thẩm định vào năm 2006. Bộ Y tế quyết định ban hành là tài liệu dạy - học đạt chuẩn chuyên môn của ngành Y tế trong giai đoạn 2006-2010. Trong quá trình sử dụng, sách phải được chỉnh lý, bổ sung và cập nhật.

Bộ Y tế xin chân thành cảm ơn các cán bộ giảng dạy ở Bộ môn Khoa Y học cổ truyền, Trường Đại học Y Duợc Thành phố Hồ Chí Minh đã giành nhiều công sức hoàn thành cuốn sách này, cảm ơn PGS. TS. Nguyễn Nhuợc Kim; PGS. Nguyễn Văn Thang đã đọc, phản biện để cuốn sách đuợc hoàn chỉnh, kịp thời phục vụ cho công tác đào tạo nhân lực y tế.

Vì lần đầu xuất bản, chúng tôi mong nhận đuợc ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, các bạn sinh viên và các độc giả để lần xuất bản sau đuợc hoàn thiện hơn.

Các bạn dowload sách tại đây
Read more…

Nhìn mặt biết bệnh (MICHIO KUSHI)

21:37 |
Tiên sinh Ohsawa có khả năng xem tướng đại tài, người Thực dưỡng "xịn" không ai không biết tới điều đó mà chả cần cố gắng học tập gì nhiều đâu; chỉ cần đọc sách và có một người Thực dưỡng "đàn anh" chỉ vẽ cho vài chiêu là XONG, dùng được cả đời! nếu không thì mỗi khi thấy ai đó dở quá hay hay quá thì xem tướng mạo lại mà coi.

Có cô bạn "Thực dưỡng" dầu ăn gạo lứt 10 ngàn năm thì cũng không tài nào làm cho cái cặp mắt xếch chéo lên hợm hĩnh và hiếu thắng... đó trở nên ngang bằng vừa phải ... đó là một thứ nghiệp dù cô đó có ăn nói nhẹ nhàng dịu dàng đến đâu cũng không dấu được cái dáng đi, cái miệng nói như đàn ông... ấy thế mà chỉ sau 3 năm áp dụng Thực dưỡng và tu tập lông bông cái tướng miệng nói như miệng một người đàn ông của cô ta đã chuyển hoá...
Sau đây là quyển sách quí về nhân tướng (trong đó có phần thanh tướng... theo âm và dương) và bệnh tật...
Đây là một môn học của phương Đông.

LỜI GIỚI THIỆU

Quyển “Nhìn mặt biết bệnh” thực chất cách đây nhiều năm được anh Ngô Ánh Tuyết biên dịch. lấy tên là “Gương mặt bạn không bao giờ nói dối” và mớI đây được anh Phạm Cao Hoàn lấy tên là “Bệnh học”, vớI tên và hình bìa như NXB Thuận Hóa làm. Chúng tôi thấy đây là quyển sách quý của ngành thực dưỡng bấy lâu, nên đổi tên cho hợp lý là “Nhìn mặt biết bệnh”. Bạn nào đọc hai quyển này rồi xin đừng mua thêm.

Một lần, tôi nhìn thấy một phụ nữ có tướng mặt có vết hằn ngang nhân trung. Tôi nói với chị bạn thân của chị ấy là nếu theo nhân tướng học thì tướng đó không sớm thì muộn cũng phải bị u dạ con, sau một thời gian thì thấy đúng. Người bạn gái của tôi nghe tôi nói như vậy, về nhà soi gương tự thấy mình cũng có tướng đó bèn đi khám phụ khoa, hóa ra chị bạn này cũng bị u dạ con và như vậy là đã phát hiện và điều trị kịp thời bằng cách thay đổi ăn uống. Như vậy, nhìn mặt biết bệnh có thể giúp người ta biết cách tránh trước những bệnh đáng ra không cần phải mắc. Bạn cần thấy hữu dụng của nó thông qua quyển sách nên đọc sau quyển này là quyển “Thức ăn quyết định số phận của bạn” của Mizuno, do Michio Kushi giới thiệu.

LỜI NÓI ĐẦU

Chẩn đoán chính xác là yếu tố then chốt điều trị bệnh, từ đó ta sẽ dễ nhắm tới cách chữa một khi đã hiểu rõ các triệu chứng chính. Y học hiện đại thường chẩn đoán bằng kĩ thuật giải phẫu tìm bệnh hay chụp X quang làm thương tổn người bệnh, thì càng khiến cho sự rủi ro gia tăng. Hơn nữa, thể thức chẩn đoán tinh vi chỉ soi xét vào cơ thể và chức năng sinh lý, cố tìm ra nguyên nhân chứng bệnh, nhưng lại thiếu sót trong việc xét đoán toàn cục về sức khỏe, tình trạng tinh thần và lối sống. Có lẽ điều bất cập này của nền y học hiện đại đã để lộ ra sơ hở của nó. Ngược lại, biện pháp dưỡng sinh đã thành công nhờ nắm bắt đựoc tính toàn cục để xoay chuyển các bệnh thoái hóa, kể luôn cả bệnh ung thư.

Chẩn đoán theo Đông phương là xem xét con người tổng thể cả về cơ thể và tinh thần- cũng như các rối loạn trong lục phủ, ngũ tạng. Người điều trị là người diễn giải lối sống trong xã hội và môi trường xung quanh để gom về đầu mối bệnh tật hầu chữa trị căn bệnh. Theo truyền thống, sự chẩn đoán toàn cục này không chỉ chuyên chú vào con bệnh mà còn phải phân tích cả về xã hội nữa. Người ta truyền tụng về nguồn gốc trong các quy luật biến đổi đã thể hiện ở các bộ Dịch kinh và ở các danh tác Đông phương.

Cách chẩn đoán theo Đôn phương của tôi phát triển chậm chạp sau nhiểu năm thựuc hành- còn kể đến sách vở và tìm hiểu để mở rộng tầm nhìn qua các trường phái. Nhờ có bậc thầy George Oshawa huuwongs dẫn tôi về sinh học, thiên văn, văn hóa và khoa học, tôi mới lĩnh hội đựoc về sức khỏe và bệnh tật của con người- và chung quy biết cách chẩn đoán một cách hữu hiệu.

Nhờ sự nỗ lực của ông William Tara, là người đã cộng tác cho cuốn sách này được ra đời. Nhờ đó học hỏi nguyên lí chần đoán của Đông phương chỉ còn là vấn đề thời gian. Kỹ năng chẩn đoán có lợi ích không chỉ riêng cho người điều trị bằng thuốc men mà còn cho bất cứ ai muốn mài dũa sự nhạy bén với những người sống quanh họ.

Chẩn đoán theo Đông phương chẳng đòi hỏi các dụng cụ đắt giá hay kĩ thuật phiền toái mà ta hãy tận dụng giác quan- tai, mắt mũi, tay và trực giác là đủ- dĩ nhiên các giác quan bạn càng nhạy bén thì sức khỏe của bạn càng hoàn hảo- và nhân thứuc lại càng chính xác. Do đó, tôi khuyên bạn nên thanh lọc cơ thể để sức khỏe và giác quan được tinh tế như tôi, đơn giản là tiếp nhận thựuc phẩm dưỡng sinh mà chủ yếu là ngũ cốc, đậu đôc và rau củ.

Tôi thành thật mong cuốn sách này sẽ kích thích bạn nghiên cứu sâu rộng hơn như cuốn “Để biết sức khỏe của bạn”, sách chẩn đoán theo Đông phương (ấn hành tại Nhật) và còn những bài báo xuất hiện thường xuyên trên nhật báo Đông Tây các bạn cũng nên đọc thêm. Trước là để phục hồi sức khỏe cho mình, sau là hiểu biết sức khỏe của người thân thuộc, bè bạn và cộng sự để nhận ra dấu hiệu bệnh tật, để ngăn ngừa, để xoay chuyển và đạt mục tiêu sức khỏe.

PHẦN MỘT

GIỚI THIỆU

Chẩn đoán theo Đông Phương

Nền y học Trung Hoa, Nhật Bản và các nước ở Viễn Đông có cội rễ rất lâu đời trên thế giới. Y học này dạy cho chúng ta rất nhiều điều thực dụng cho đến thời nay. Triết lý căn bản của nền y học Đông Phương bổ sung lẫn đối chọi với nền y học hiện hành ở Phương Tây. Y học Phương Tây chủ trị bằng thuốc, thiên về triệu chứng và giải phẫu, họ phải đối đầu một cách vô vọng trước làn sóng các bệnh thoái hóa đe dọa nhận chìm thế giới công nghiệp. Trước tình thế rõ như hiện nay, chúng ta cần có nền y học bổ sung, theo hướng nhân bản và tiết kiệm. Y học Đông Phương có thể tiếp sức lớn lao vào nhu cầu cấp bách này - về cơ bản, Đông Phương đã chỉ ra nguyên nhân bệnh tật, nhấn mạnh vào tương quan giữa con người và thực phẩm, sinh hoạt, tinh thần và toàn cảnh môi trường vì không hề có cá thể nào sống tách biệt với cộng đồng.Tổng thể luôn bao gồm các mặt về sinh học, tâm lý và tinh thần một cách triệt để, người điều trị vừa là người thầy lại vừa là cố vấn có thể đề ra hướng sống lành mạnh gợi ý thực dụng làm thay đổi cách sống và cải thiện từ cội nguồn vấn đề.

Y học Tây Phương chẩn đoán bệnh tật qua quan sát triệu chứng. Còn chuyên gia chẩn đoán Đông Phương có thể thấy sự phát triển của bệnh trước cả khi con bệnh triệu chứng như đau nhứuc chẳng hạn. Chẩn đoán Đông Phương dùng phương pháp chính là xem xét con người, mà từ thường gọi là phương pháp – nó còn là nghệ thuật phán đoán người ta qua “nét mặt và hình dạng tổng quát” (theo định nghĩa của tự điển Oxford). Tướng pháp Đông Phương là tiền đề dùng theo dõi hướng phát triển của mỗi con người. Ưu và khuyết điểm của cha mẹ họ, môi trường nơi họ lớn lên, cách ăn uống đều phơi bày trong hiện tại. Dáng điệu, màu da, giọng nói và các nét thể hiện của chúng ta đều bắt nguồn từ dòng máu trong nội tạng, hệ thần kinh và cấu trúc xương cốt, thực phẩm và môi trường sinh hoạt.

Bí quyết chẩn đoán nhận ra các dấu hiệu thay đổi trước khi con bệnh trở nặng- muốn biết dấu hiệu nào khiến thận có sạn, tim đang to ra hoặc bệnh ung thư đang hình thành, biết trước khi người bệnh bị hành đau đớn, khó chịu, cách chẩn đoán này hoàn toàn tùy thuộc thầy thuốc biết phát huy sự hiểu biết trọn vẹn các nguyên tắc ẩn sau kỹ thuật xem bệnh.

* Nguyên lý Âm Dương

Y học Đông Phương đi chung với lý thuyết âm dương. Khởi đầu của triết lý âm dương là vạn vật trong vũ trụ không ngừng thay đổi. Sự biến dịch này biến từ âm sang dương hoặc từ dương sang âm. Âm và Dương là sự tương đối mà không tuyệt đối. Mọi sự vật đều tương phản và bổ túc cho nhau, ví như không có lạnh thì chẳng có nóng, không có lên thì chẳng có xuống, không đối kháng thì không có chuyển động thay đổi. Đạo Đức Kinh của Lão Tử đã nói: “Một sinh hai, hai sinh ra vạn vật”.

Bất kì sự vận động nào có xu hướng rút về (trung tâm) thì đều thuộc lực dương, lực co rút tạo ra sự cô đọng, tác động, sức nóng, trọng lượng, tốc lực…v.v… Ở cực điểm, âm thành dương và dương hóa âm. Lực co rút tới cực điểm thì sẽ chuyển sang giãn nở, trái lại thì lực giãn nở tới cực điểm cũng vậy.

Nhịp điệu âm dương thống lĩnh vạn vật, từ thủy triều lên xuống – cây cỏ tăng trưởng theo một chu kì thống nhất và sai biệt cho đến sự vận hành hàng năm của các hành tinh xoay quanh mặt trời.Ta nhận thấy quả tim co dãn trong lồng ngực, phổi hít vào, thở ra, bắp thịt làm co một mặt thì phía sau lại nở ra…

Giáo sư George Ohsawa dựa vào nền triết lý cổ điển của âm dương, đã đề ra bẩy nguyên lý và mười hai định lý tóm tắt vận hành của chúng. Độc giả nào muốn hiểu thấu đáo nội dung cuốn sách này,tôi đặc biệt lưu ý họ cần học hỏi các nguyên lý và định lý sau đây, nếu bỏ qua chúng mà chỉ chăm chú vào phần kỹ thuật không thôi thì quả là đã tốn công vô ích.

Bảy nguyên lý trật tự vũ trụ

1. Mọi vật đều là biến thiên của cái một
2. Mọi vật đều biến dịch
3. Mọi cái đối kháng đều bổ túc cho nhau.
4. không có vật gì giống hệt nhau
5. cái gì có bề mặt thì có bề lưng
6. Bề mặt càng lớn thì bề lưng càng rộng
7. Cái gì có đầu thì có cuối

Mười hai định lý của nguyên lý thống nhất

1. Cái một biến thành âm dương, nảy sinh đối cực khi nó co rút tới điểm phân đôi
2. Âm- dương không ngừng nảy sinh từ điểm co rút phân đôi
3. Âm là ly tâm, dương là hướng tâm. Âm và dương cùng phối hợp tạo ra năng lượng và mọi hiện tượng.
4. Âm hút dương và dương hút âm
5. Âm đẩy âm và dương đẩy dương
6. Lực đẩy nhau theo tỷ lệ sai biệt các thành tố giống nhau và lực hút nhau theo tỷ lệ sai biệt các thành tố đối nhau
7. Mọi hiện tượng đều hư ảo, các tổ hợp không ngừng biến dịch.
8. Mọi vật đều chứa sẵn đối cực. Không có gì hoàn toàn âm hay hoàn toàn dương.
9. Vạn vật đều có hoặc âm hoặc dương trội hơn, không có gì trung hòa.
10. Âm lớn hút âm nhỏ, dương lớn hút dương nhỏ.
11. Ở cực điểm, âm biến thành dương và dương biến thành âm.
12. Mọi vật đều dương ở trong và âm ở ngoài.



Phân loại âm dương các cơ quan nội tạng:

Cách phân loại âm dương các cơ quan nội tạng khác với lối phân loại trong các sách châm cứu vì nó dựa vào sự cấu trúc của tạng, phủ. Theo đó, cái nào rắn chắc hơn như: tim, gan, lá lách…v.v… đuợc xếp vào tạng dương. Còn phủ nào rỗng như bao tử, bàng quang, ruột …v.v… xếp vào phủ âm. Sách châm cứu dựa vào phẩm chất của khí lực nuôi dưỡng tạng phủ mà phân loại.

Theo chẩn đoán Đông Phương, mỗi tạng, phủ được coi là vừa có quan hệ đối kháng, đồng thời lại bổ túc cho nhau như sau:



Do đó, nếu một trong hai cơ quan trên trục trặc thì chúng đều tạo ảnh hưởng dây chuyền.

Dinh dưỡng và chẩn đoán

Theo chẩn đoán Đông Phương, nguồn dinh dưỡng hợp cách là tạo ra sinh lực và sức khỏe nên dinh dưỡng kém là nguyên nhân gây bệnh. Nếu dinh dưỡng của chúng ta không đáp ứng linh hoạt theo thời tiết và sinh hoạt tăng trưởng thì mầm bệnh nảy sinh, cho nên người ta cần phải dinh dưỡng cho phù hợp với sự tiến hóa, môi trường và sự sinh hoạt của từng người. Để phát hiện đâu là dinh dưỡng hợp cách cho từng người, ta có công cụ đa năng là dùng yếu tố âm dương để ứng dụng khi lựa chọn thực phẩm, ta có thể xem xét chu kỳ tinh lực của rau củ biến chuyển thường kỳ hàng năm. Hãy xem cây cỏ sinh trưởng trong sự bổ túc của khí hậu- như cây cỏ âm tính mọc ở vùng đất khí hậu nóng (dương) và loại dương tính mọc ở vùng khí hậu lạnh (âm). Mùa đông, lạnh nên là âm, trong mùa này,tinh lực của các loài thực vật thu xuống phần rễ cây (vì rễ cây dương hơn phần thân cành). Về mùa hè nóng bức (dương), tinh lực của thực vật phát tán lên phần trên (thân, lá thuốc âm), rau củ về mùa đông như củ cải, bí đỏ mọc chậm, ít nước nên chắc, nặng. Loại cây về mùa hè như rau diếp, dưa chuột mọc nhanh, mọng nước nên thường nhẹ hơn. Từ đây suy ra, nếu ta ăn thực phẩm nào đúng mùa và ở gần vùng ta sống thì ta có thể hòa nhập vào môi trường thiên nhiên, hợp thời hợp cảnh. Thế cho nên người Ả Rập ăn loại quả mọng nước (âm). Còn người Eskimo ăn toàn thịt (dương) để lấy sức nóng mà tự sưởi ấm trong xứ sở lạnh lẽo (âm)



Tinh lực cây cỏ tương quan với mùa và thời tiết:



Vài ví dụ tiểu biểu về rau củ phân biệt theo luật âm dương:



Sử dụng nguyên tắc âm dương để chọn thực phẩm và chế biến là một phần quan trọng trong phương pháp Thực dưỡng. Từ Thực dưỡng nguyên là của George Ohsawa tạo ra để chỉ về cách dinh dưỡng theo nguyên lý y học của Đông Phương.

Nguyên nghĩa từ Thực dưỡng là Macrobiotic “macro” là rộng lớn - đại, “biotic” là đời sóng sinh vật. Dịch thoáng là Thực dưỡng hoặc hoặc là con đường tạo dựng mở mang đời sống rộng ra để hòa nhập với môi trường, thể nhập với vĩnh cửu. Qua Thực dưỡng, người ta phục hồi toàn vẹn giác quan để tự tạo lập tương quan với môi trường, với thiên nhiên và với khả năng tự tại, sẽ tự quyết lấy cuộc đời lành mạnh cho mình. Một công cụ dự phần tích cực vào sự kiến tạo sức khỏe là chẩn đoán Đông Phương –theo cách này, người ta sẽ tìm ra đâu là khuyết điểm và chỗ nào có sự thặng dư trong dinh dưỡng. Nếu nhận ra các dấu hiệu vừa kể thì ta có thể thay đổi thực phẩm để ăn uống hợp cách - một là chữa trị bệnh tật, hai là phục hồi sức khỏe.

Thứ tự trong phương pháp chẩn đoán:

Khi chẩn đoán người nào, ta cố xét toàn diện về họ. Cần thấy được quá khứ, hiện tại và tương lai cũng như về kiến thức, thể chất và tình trạng tinh thần, khả năng vươn lên của họ, vận mạng họ thế nào? Xem về cá tính, sự phán đoán và mức độ tinh thần của họ. Thứ tự chẩn đoán gồm ba bước. Đầu tiên, ta cần hiểu rõ toàn bộ môi trường sống của đối tượng. Thứu nhì, ta xét đến tình trạng thể chất và tinh thần có tương quan đến toàn cục. Bước thứ ba, ta nhắm vào chi tiết các triệu chứng. So sánh cách chẩn đoán giữa Đông và Tây, ta thấy y học hiện đại Tây Phương thường bỏ qua hai bước đầu mà tập trung vào bước thứ ba.

Phương pháp chẩn đoán (Đông Phương) gồm năm bước:

1. Dùng trực giác nắm bắt toàn cục
2. Lắn nghe người ta giãi bày
3. Xem chữ viết hay óc thẩm mỹ của họ
4. Xét các triệu chứng
5. Sờ nắn để định bệnh

Ta cần làm theo thức tự, đừng sờ nắn trước là nhằm phát huy trực giác của ta. Như thế dù không gặp đối tượng, ta vẫn biết tình trạng của họ bằng trực giác, kế đến, khi họ đến gặp ta là ta đã có sẵn ý niệm về họ rồi. Có thể ta không biết chi tiết, nhưng đã cảm nhận đầy đủ vấn đề của họ.

Hẳn là bạn đã trải qua kinh nghiệm về việc này, đó là khi gặp người lạ, bạn đã cảm nhận trước được cá tính và tinh thần của họ. Đến lúc xem xét lại bằng nghe, nhìn, sờ nắn, bấy giờ thì chi tiết bệnh sẽ cộng thêm vào sự nhận biết ban đầu. Bằng cách phát huy giác quan, bạn còn chẩn bệnh ngay cả người gọi bạn qua điện thoại hay qua nét chữu viết. Dĩ nhiên là người ta sẽ không vừa lòng theo cách trên nên hai bên sẽ cần gặp mặt. Hơn nữa, ngồi nói chuyện với họ rồi sờ nắn chỉ là cách xác định phụ nhưng có thì vẫn hơn. Trục giác nhạy bén như vừa trình bày là điều cốt tủy trong y học cổ truyền Đông Phương, buồn thay, đại đa số y sĩ Đông và Tây lại thiếu hẳn khả năng này.

Bây giờ, chúng ta hãy xét thêm vào chi tiết, thứ tự của phương pháp chẩn đoán. Mới thoạt nhìn (người bệnh), hãy tự hỏi xem họ bao nhiêu tuổi - tuổi theo năm tháng không quan trọng bằng tuổi sinh học vì một người tuổi đời 18, nhưng về mặt sinh lý và tinh thần có thể lại già hơn những người cùng lứa cỡ 2 tới 3 năm (trong lứa tuổi 20). Trẻ hơn 5 tuổi (trong lứa tuổi 40) và cứ thế tiến tới.

Kế đến, hãy đánh giá mức phát huy trí tuệ xem họ có nghiêng về mặt tinh thần hay không? Trí phán đoán của họ đến đâu? Rồi phân định xem mức phát triển của họ có đều đặn hay trồi sụt. Người đó có ngăn nắp hay bừa bãi? Muốn biết điều đó, cần xem hai bên má, nếu thấy có nhiều vết lồi lõm như hình răng cưa hướng lên trên là người thiên về cực đoan.

Chúng ta xét về môi truờng địa lý nơi họ lớn lên như: thành phố nhỏ, lớn hay miền quê? Cách sống của họ thoài mái hay khó nhọc? Họ giàu hay nghèo? Về mấy điểm này, ta cần xét về xương cốt của họ. Người thành phố thường yếu sức hơn người nông thôn. Xương cốt yếu là trải qua thời gian dài ít hoạt động.

Ta còn dùng yếu tố trên để mường tượng quá khứ và tương lai của họ ra sao nếu còn giữ lối sống như ngày nay.

Khi con người trở nên mạnh khỏe, họ ưa hoạt động xã hội hơn. Người có năng lực lãnh đạo, khả năng thiên phú sẽ lộ ra ở tầm vóc vững chắc, có bàn tay lớn, đôi tai to, dày ép sát vào hộp sọ.

Sau khi bạn đã có ấn tượng tổng quát, là lúc bạn xem thêm vào chi tiết. Như người này thích loại thứuc ăn nào, thứuc ăn đa tác động thế nào đối với sức khỏe của họ? Hãy xem bộ phận nào bị yếu – tim, lá lách, đại tràng – và xem các bộ phận liên đới với nó. Ví dụ tim yếu thì xem qua tiểu trường.

Lấy ví dụ khi xem lá lách, ta hãy xem bờ xương trên hốc mắt và vành tai; thấy đỏ hồng, muốn biết về lá lách thì ta xem hai bên gốc mũi (chỗ ngang hai mắt) nó thường có màu xanh lợt.

Thời nay phần nhiều người ta thường vướng bệnh về lá lách vì họ cắt Amiđan. Một khi đã cắt Amiđan thì lá lách phải làm việc nhiều hơn, họ hay bị căng thẳng và sức khỏe có vấn đề. Đặc biệt, nếu người này hay ăn đường, uống thuốc men, tiêu thụ hóa chất. Cắt Amiđan khiến người ta kém tính đề khangs vì hay ăn uống những thứ kể trên. Lá lách là cơ quan lọc máu và hệ bạch huyết – mà Amiđan cũng có chức năng như vậy – Amiđan bị sưng là dấu hiệu chỉ các chất độc bị dồn về đó. Cho nên khi cắt Amiđan là chứuc năng thanh lọc độc tố của nó bị hủy hoại, từ đó trở đi, chất độc lan ra các bộ phận káhc trong nội tạng.

Phương pháp chẩn đoán trình bày trong sách này liên kết với y học phòng ngừa, nó coi các triệu chứng chỉ là dấu hiệu – có thể xoay từ bệnh sang vô bệnh để về với sức khỏe ban đầu.

PHÔI THAI

Chúng ta cần phân biệt giữa hai khái niệm: tình trạng và thể trạng của con người. Thể trạng được quyết định trước khi con người sinh ra, nó mang những đặc trưng của cha mẹ, tổ tiên và cả những thức ăn người mẹ dùng suốt thời kì phôi thai phát triển. Từ cấu trúc xương, khuôn mặt, bề sâu rộng của hộp sọ, hình dạng chân tay đến một vài chừng mục về chiều cao và ngang của thân thể, chiều dài cảu đôi chân. Chính những điều này hợp thành thể trạng con người, các đặc điểm xuất hiện màu sắc và kết cấu da… biểu lộ tình trạng của con người đó. Thay đổi tình trạng của mỗi người tương đối dễ thông qua chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt hay những thay đổi khác trong cách sống… Nhưng để thay đổi thể trạng thì hầu như không thể. Những gì xảy ra cho phôi thai là điều mấu chốt, nó quyết định sức khỏe và hạnh phúc của đứa trẻ sau này.

Cơ thể ta có ba hệ chính: hệ tiêu hóa, thần kinh và tuần hoàn. Hệ tiêu hóa của phôi thai nằm bên trong (dương) và hệ thần kinh lại ở bên ngoài (âm). Khi cả hai hệ này phát triển, tự chúng tập trung thành những yếu tố đối nghịch do vậy thay đổi theo hai hướng hoàn toàn đối nghịch nhau. Chất khoáng được đưa ra phía sau còn chất đạm, béo .v.v… dồn tới phía trước, phần âm ngoài cơ thể hút dương, trở nên săn chắc, hình thành cột sống và lưng. Ngược lại, phần dương bên trong hút âm (mềm đi) hình thành các cơ quan nội tạng. Sự biến đổi này là một minh chứng tuyệt vời của hai khái niệm “âm” và “dương”, không phải là tĩnh tại mà năng động và luôn biến đổi.

Phần dưới của hệ tiêu hóa, ở dưới lồng ngực điều khiển các thức ăn dương tính (như chất rắn, lỏng). Phần trên lồng ngực phát triển thành những bộ phổi dung tích co dãn để chứa chất âm tính (như không khí).

Hệ thần kinh cũng đựoc chia thành hai phần. Vào thời điểm đang tiến hóa của phôi thai (khi phôi thai chưa có ý thức), thần kinh chỉ là một hệ đơn giản, không khác biệt, có đặc điểm của trực giao cảm. Sau đó hệ này lại được chia thành hệ thần kinh trung ương và hệ thần kinh tự trị, sau cùng, hệ tự trị phân hóa thêm thành hệ thần kinh trực gaio cảm và đối giao cảm. Hệ trực giao cảm thì làm các cơ quan nội tạng thuộc âm thì bành trướng, thuộc dương thì co rút còn với hệ đối giao cảm thì ngược lại, làm cơ quan thuộc âm thì co rút còn thuộc dương thì bành trướng (xem hình)

Làm sao để chia các chức năng của hệ tuần hoàn theo hai khái niệm âm và dương? Máu đỏ và sinh động thuộc dương. Bạch huyết trong suốt từ từ tập trung chất lỏng đã được sử dụng trong cơ thể từ ngoại biên và vận chuyển chúng về tim. Một lần nữa, những hệ thống này lại phân âm và dương, tán ra rồi tụ lại.

Trong cơ thể có hai đối cực chính trước và sau. Chất rắn, lỏng và không khí, tất cả được đưa vào từ phía trước (theo con đường từ phía trước). Sau đó nhưng rung động biến đổi từ ngắn, dài và từ tính thu hút đều được đưa vào từ phía sau (hệ thần kinh). Thức ăn (dương) đựoc cuốn xuống theo đường xoắn trôn ốc và trung tâm phía dưới chuyển tải. Các rung động (âm_ có khuynh hướng đi lên cũng chuyển động theo hình xoắn ốc lên não. Vô hình chung, hai khu vực này đựoc gọi là “đan điền” và “thiên nhãn”. Chúng cần được giữ cho ấm và mát để duy trì tình trạng âm dương điều hòa. Nếu những hoạt động mặt trước và mặt sau không phối hợp nhịp nhàng thì sự thúc đẩy để kiểm soát thức ănvà thần kinh không thể thựuc hiện được.

Hệ tuần hoàn, hệ tiêu hóa và hệ thần kinh đều tập trung tại vùng miệng. Đây là khu vực chặc chẽ nhất trong cơ thể (dương nhất). Dương có thể tập trung và tiếp nhận, từ vùng này ta ăn và thở, vì dương khiến ta nói. Miệng lại là trung tâm của cơ thể, là nơi ta thể hiện quyền tự do và vốn hiểu biết của mình và đó cũng là mấu chốt của mọi hoạt động cơ thể. Bằng cách điều khiển sự ăn uống, hô hấp và giao tiếp, ta điều khiển luôn cả cuộc đời mình.

Vậy vùng miệng âm hay dương? Đó là nhân tố hàng đầu quyết định cho đời sống tinh thần và nhân cách của mỗi người, là manh mối để đánh giá toàn bộ con người, do đó ta cần biết cách “diễn giải” nó. Hãy nhìn người quen, bạn bè, để ý xem họ có hay mím môi hay không là có thể biết họ thuộc loại người chi li hay rộng rãi .v.v…

Vị trí của bào thai được trình bày theo hình vẽ sau đây:



Các tạng phủ trong cơ thể thai nhi có vị trí tương hợp như ta thấy ở cổ tay – liên hệ với phổi. Gót chân và mông liên hệ với cơ quan sinh dục. Khoảng giữa cẳng chân thì liên hệ với bộ tiêu hóa. Còn phần đầu gối và cùi chỏ tương quan với gan, và lá lách (tỳ). Ta thấy cổ tay nằm ngang bộ phổi, có lúc đôi tay che lên tới mặt, bởi vậy, khi ta giật mình, bối rối hay khóc lóc, lập tức cả hai tay tự động che lên mặt – như muốn lặp lại động tác quen thuộc từ khi còn trong bào thai.

Sau khi sinh, đôi tay ta thường thóng xuống bên sườn và tạo thành tương quan với cơ quan nội tạng. Cho nên bây giờ, cổ tay là đại diện cho chức năng sinh dục. Nếu cổ tay bị đơ, không mềm dẻo thì ắt là nội lực trong bộ sinh dục cũng bị trở ngại, tắc nghẽn. Ngược lại, cổ tay linh hoạt thì hoạt động sinh dục cũng thông suốt.

Trong mùa hè, lợi dụng người ta hay mặc quần áo ngắn khi ở nhà hoặc khi bơi lội, ta sẽ dễ thấy các dấu vết, nốt ruồi, mao mạch họ giãn nở hay co thắt. Hãy để ý màu sắc da dẻ tổng quát. Tuy nhiên, bất cứ khi nào trong năm, ta vẫn có thể xoa bóp cho họ - để định bệnh. Trong khi xoa bóp, ta có thể thấy chân họ có dấu hiệu mọng nước hay săn chắc. Hãy nên nhớ, bàn chân đại diện cho bộ sinh dục, cho nên gót chân phải săn chắc, bụng chân đại diện cho đường ruột, còn đầu gối và khuỷu tay thì chỉ về tình trạng của gan, lá lách và tỳ.

Nếu xương sống ai bị cong thì chắc chắn cơ quan nội tạng phần xương cong đó không sưng tấy thì cũng bị dãn ra. Xương sống cong khiến miếng sụn đệm bị lệch, vẹo. Vậy sụn đệm có đều không? Nếu mé trong viền sụn hở lớn là dấu hiệu thặng âm, vì người này đã ăn quá nhiều đường và nước, còn nếu sụn hở chút ít thì đó là dấu hiệu thặng dương- vì do người ta ăn uống nhiều thịt, cá hay muối – nhưng tình trạng này rất hiếm. Khi chẩn đoán, ta day mạnh vào phần xương sống cong, nếu cảm thấy đau tại đó thì đúng là cơ quan nội tạng đang bị trở ngại.

KHUÔN MẶT

Không ai có một cơ thể hoặc cái đầu thật cân xứng cả. Mỗi người chúng ta mỗi khác, tùy vào loại thức ăn nuôi dưỡng chúng ta khi còn trong bụng mẹ. Hình dạng khuôn mặt có thể tiết lộ thể trạng của một người qua tình trạng khi còn là một bào thai. Chúng ta có thể chia khuôn mặt thành ba phần như biểu đồ dưới đây:



Bảy ngày sau khi thụ thai, trứng đã thụ tinh, theo vòi dẫn trứng đi xuống đáy tử cung và cơ thể mới liền nhanh chóng tăng kích cỡ trong 21 ngày, tiếp theo 28 ngày đầu tiên này hình thành nên phần trên của khuôn mặt. Nếu trong giai đoạn này bà mẹ có dùng thuốc và các chất hóa học, nó sẽ ảnh hưởng vào cả cuộc đời đứa trẻ (nếu trước khi thụ thai mà uống thuốc sẽ ít bị ảnh hưởng hơn) “bớt, chàm” thường xuất hiện trong giai đoạn này. Trong 63 ngày tiếp theo, hình thành phần giữa khuôn mặt. Như vậy trong 91 ngày, toàn bộ cấu trúc khuôn mặt cơ bản đã hình thành. Phần cuối của khuôn mặt hình thành ngày càng rõ nét trong suốt 189 ngày còn lại trong thời kì thai nghén.



Sự hình thành các bộ phận ở bào thai phát triển liên tục nhưng mỗi bộ phận chia giai đoạn phát triển như sau: Trong ba tháng đầu, hệ thần kinh phát triển nhanh chóng. Ba tháng cuối là phát triển hệ tiêu hóa và hô hấp. Hệ thống mang tính dương (thần kinh) lại hình thành ở ngoài rìa vòng xoắn bào thai (phần mang tính âm nhất) Hệ tiêu hóa lõm vào (âm) lại phát triển ở trung tâm vòng xoắn (vị trí mang tính dương). Để cân bằng giữa hai hệ thống này là hệ tuần hoàn. Vì thời gian thai nghén kéo dài 9 tháng nên ta chỉ nằm trong bụng mẹ trong ba mùa. Sự phát triển của chúng ta theo 4 cách ứng với ba mùa : xuân, hạ, thu; hạ, thu, đông; thu, đông, xuân; đông, xuân, hạ. Thời xua, người ta ăn nhiều thức ăn dương vào màu đông và thực phẩm âm về mùa hạ. Điều này dẫn đến từng phần trên khuôn mặt co vào (dương) hoặc nở ra (âm) tùy theo mùa nào khi nó hình thành. Chúng ta có thể nhìn mà biết một người quá 40 tuổi sinh vào mùa nào. Nhưng vì bây giờ chúng ta ăn quá nhiều thức ăn trái mùa, như ăn kem lạnh và chuối vào mùa đông, thế hệ trẻ sau này sẽ có khuôn mặt theo tỷ lệ cân xứng khác. Theo kiểu ăn truyên thống, có bốn dạng mặt tương ứng với bốn thứ tự trong mùa mang thai:



Loại A là người chín chắn và thực tế. Loại B lãng mạn hơn, tình cảm và lý tưởng. Loại C là người trí thức hay suy nghĩ, loại D là người ham hoạt động, là mẫu người hành động.

THỂ TRẠNG

Mọi vật được hình thành bởi lực co vào, sức co khi đạt tới độ tuyệt đối thì nó lại giãn ra. Vật chất vì vậy có khuynh hướng dương bên trong (nén chặt) và âm bên ngoài. Lực co vào càng mạnh thì lực giãn ra càng lớn. Những chiếc lá có hình dưới đây theo trình tự cho thấy, khi khí hậu càng nóng thì lực co càng giảm, như lá hình bên trái, thường mọc ở các nước phía bắc, lực co vào rất lớn nên trông rất mảnh mai, lá hình bên phải ở vùng nhiệt đới, nên lực giãn ra lớn hơn lực co vào. Lá nằm giữa thuộc khí hậu ôn hòa, cho thấy có sự cân bằng giữa các lực co giãn.



Cây cối đều chịu ảnh hưởng của khí hậu và chất dinh dưỡng rút ra từ đất. Lực tác động bên trong và bên ngoài cùng gây ảnh hưởng để đạt tới trạng thái cân bằng. Loài người cũng vậy. Chúng ta chịu tác động từ thiên nhiên và xã hội, và ta lại sản sinh ra nội lực bên trong. Tất cả yếu tố này ảnh hưởng đến hình dạng chúng ta. Chúng ta không thể kiểm soát ngoại lực nhưng có thể điểu chỉnh nội lực qua chế độ ăn uống. Nếu chúng ta ăn quá nhiều thức ăn âm tính hơn, nội lực sẽ bành trướng. Nếu ta ăn vào thức ăn dương tính hơn thì nội lực của ta tập trung hơn hay sức sẽ mạnh hơn.

Qua nét mặt sẽ nhìn thấy sự vận hành của nội lực. Một số người có cặp mắt thụt vào (nội lực dương), một số người mắt lộ (âm). Người mũi thấp không giữ được cặp kính, nhưng vì họ nhiều dương tính, họ ít khi cần đeo kính. Nếu quan sát mọi người trên phố, bạn để ý một số nguời có đôi môi mọng, trề ra, một số khác môi mỏng, mím vào. Người môi mỏng thường mạnh khỏe nhưng thiếu tính linh hoạt.

Hướng thẳng đứng là âm tính (lực giãn nơt bứt lên khỏi mặt đất), hướng nằm ngang mang tính dương. Mắt dài, hẹp vì thế là dương tính, mắt tròn to âm hơn. Mũi dài, hếch, cao là âm, mũi rộng, thấp dương hơn. Lỗ mũi rộng biểu hiện thể trạng dương tính. Hàm rộng, khỏe cũng là dấu hiệu dương tính. Người có đôi hàm to, rộng bề ngang thường hăng hái, ham hoạt động thuộc dương tạng.



+ Khuôn mặt bên trái biểu hiện cơ thể dương tính hơn.
+ Khuôn mặt bên phái âm tính hơn do chịu ảnh hưởng của lực thẳng đứng.

Cơ thể con người được hình thành từ trong bụng mẹ. Trước khi sinh, cấu trúc khuôn mặt đã rõ nét. Những nét nằm ngang trên mặt biều hiện dương tính. Tuy nhiên, sau khi sinh ra những nếp nhăn mới xuất hiện. Lực dãn nở theo chiều thẳng đứng thường có ở trên trán, nguyên nhân do đã uống quá nhiều nước (âm)



Vết nhăn theo chiều dọc giữa hai mắt là biểu hiện ở phần gan và túi mật có trục trặc. Bên dưới lá gan tương đương với hai bên cánh mũi, là khu vực có liên quan với lá lách và tụy. Những cơ quan này cũng bổ sung hoạt động của dạ dày nên xem cánh mũi là biết được tình trạng của dạ dày. Vùng mặt này mà có màu xanh là dạ dày và lá lách có vấn đề.



Đôi mày biểu hiện thể trạng của mỗi người theo cấu trúc xương, suy ra, tương ứng với đôi mày từ trong bụng mẹ. Khi đó, nếu bà mẹ ăn quá nhiều thực phẩm dương, đặc biệt là thịt trong khi mang thai thì đôi mày của đứa trẻ sẽ cau lại ở giữa khuôn mặt. Người ăn chay sẽ có đôi mày vòng xuống, lấn ra ngoài.



Độ dài và dày của đôi mày được hình thành sau khi sinh. Nếu có rụng, lông mày thường rụng từ mé ngoài, đôi mày dài thể hiện người được hạnh phúc và tuổi thọ. Mày rậm biểu hiện sức sống mạnh mẽ, lông mày thưa là kém sức sống.

Tốt nhất là vùng mũi và miệng không nên có nếp nhăn, nhưng chúng ta thường thấy có vết nhăn trên mũi và miệng, biểu thị hai nửa cơ thể phối hợp không cân xứng. Vết nhăn trên mũi biểu hiện hai tâm thất hoạt động mất cân bằng, gây tổn thương cho người có nét như thế, kém dẻo dai, không có sức chạy khỏe. Tình trạng này có thể do bẩm sinh, nhưng chế độ ăn uống không hợp lí lại làm cho tình trạng sức khỏe tồi tệ thêm.

Vệt nhân trung bị hở, lộ răng chính là tật sứt môi. Đó là vì quá thặng âm tính, bởi vì khi bà mẹ mang thai đã không ăn đủ thức ăn dương để có lực thu rút mà gắn liền thành một nhân trung hoàn chỉnh.

Nếu mũi phồng to, trông mềm như mọng nước, là biểu hiện tim to do hấp thụ quá nhiều chất lỏng. Nếu phồng như mỡ và cứng thì chứng tỏ trong xoang có trục trặc là do đã từng ăn quá nhiều bơ và phô mai, vùng quanh tim có lớp mỡ bao. Người có chóp mũi căng phồng cứng thì dễ mắc bệnh tim, tim to, co bóp kém linh hoạt.



Những vết nhăn trên mặt do các lực âm dương phối hợp. Hình trên, vết nhăn ngang ảnh hưởng bởi lực li tâm mà nguyên nhân là do ăn đường, mỡ và uống nước quá nhiều. Hình dưới cho thấy ảnh hưởng của lực dương tạo ra những vết nhăn dọc vì ăn quá nhiều muối và thịt động vật.



Hình này giải thích ý nghĩa của những vết nhăn thường xuất hiện trên nét mặt. Vết nhăn càng hằn sâu chứng tỏ bệnh tình trong tạng phủ tương ứng càng nghiêm trọng.

(Nguồn: http://thucduong.vn/)

Read more…

Sách Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ)

19:19 |
“Cây cỏ Việt Nam” là một công trình đồ sộ của giáo sư Phạm Hoàng Hộ – bảo bối gối đầu giường của những người làm công tác nghiên cứu thực vật học. Sách do Nhà xuất bản Trẻ phát hành.

Bản PDF của cuốn sách này do một người bạn – blogger Nguyễn Thuận Phong - sưu tầm. Xin [tiếp tục] chia sẻ đến anh chị em sinh viên và những người yêu thích cỏ cây.

Thựcvậtchúng Việt Nam có lẽ gồm vào khoảng 12.000 loài. Đó là chỉ kể các cây có mạch, chứ không kể các rong, rêu, nấm.

Nước ta có một trong những thựcvậtchúng phong phú nhất thế giới. Pháp chỉ có khoảng 4.800 loài, Âu Châu có khoảng 11.000 loài, Ấn Độ, theo Hooker có khoảng 12 – 14.000 loài. Với một diện tích to hơn nước ta đến 30 lần, Canada chỉ có khoảng 4.500 loài, kể cả loài du nhập. Gần ta, chỉ có Malaysia và Indonesia nhập lại, rộng bằng 6 lần nước ta, mới có số loài cao hơn: số loài phỏngđịnh vào 25.000 (nhưng hiện chỉ biết vào 5.000).

Bìa: Quyển I
Nguyên nhân của sự phong phú ấy phức tạp. Trước hết Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới thuận lợi cho sự sinh sôi nẩy nở của cây cỏ. Việt Nam không có sa mạc. Lại nữa, Việt Nam nằm trên khối Indosinias của vỏ trái đất bền vững từ mấy triệu năm nay, không chìm ngập dưới biển bao giờ. Rồi vào nguyên đại đệ tứ , Việt Nam không bị băng giá phủ xua đuổi các loài., có khi không trở lại được như ở nhiều nơi. Sau rốt, Việt Nam lại là đường giao lưu giữa hai chiều thực vật phong phú của miền nam Trung Quốc, của Malaysia, Indonesia, và trong quá khứ gần đây, Philippines còn được nối liền với ta. Nên, nếu ở rừng Amazon, trung bình ta gặp được 90 loài/ha, ở Đông Nam Á, ta đếm đến được 160 loài/ha.

Sự phong phú ấy là một diễm phúc cho dân tộc Việt Nam, Vì, như tôi đã viết (1968) “…Hiển hoa là ân nhân vô giá của loài Người: hiển hoa cho ta nguồn thức ăn căn bản hàng ngày; Hiển hoa cung cấp cho ta, nhất là người Việt Nam nơi sinh sống an khang. Biết bao cuộc tình duyên êm đẹp khởi đầu bằng một miếng Trầu, môt miếng Cau. Hồi xưa, mấy ai chúng ta đã không chào đời bằng một mảnh tre để cắt rún, rời nhau? Lúc đầy nguồn sống, lúc nhàn rỗi, lúc nhàn rỗi, chính Hiển hoa cung cấp nguồn sống cho loài người thức uống ngon lành để say sưa cùng vũ trụ. Lúc ốm đau, cũng chính cây cỏ giúp cho ta dược thảo diệu linh…”

Các điều ấy rất đúng hơn với chúng ta, người Việt Nam, mà ở rất nhiều nơi, dân còn sống một nền văn minh dựa trên thực vật.

Những ân nhân của chúng ta ấy đang bị hiểm họa biến mất, tuyệt chủng, vì rừng nước ta đã bị đẩy lùi đến dưới mức độ an toàn, đất màu mỡ đã bị xói mòn mất ở một diện tích lớn, và cảnh sa mạc đang bành trướng mau lẹ. Đã đến lúc theo tiếng nhạc của một bài ca, ta có thể hát: “Thần dân nghe chăng? Sơn hà nguy biến. Rừng dày nào còn. Xói mòn đang tiến…Đâu còn muôn cây làm êm ấm núi sông…” Kho tàng thực vật ấy, chúng ta có phận sự phải bảo tồn. Sự bảo tồn và phục hồi thiên nhiên ở nước ta là rất cấp bách. Chúng ta có thể thực hiện, vì mỗi người của chúng ta dù lớn, dù nhỏ đều có thể góp phần vào sự bảo tồn ấy. Yêu nước không phải chỉ cầm súng chiến đấu, hiến thân vì tổ quốc mà thôi. Thời bình, người kinh doanh tạo ra nhiều công ăn việc làm mới cho nhân dân, cũng đáng phục, đáng ca tụng? Và chúng ta? Bằng những cử chỉ nhỏ hằng ngày, sự đóng góp của chúng ta quan trọng không kém: Không quăng bậy một tia lửa, một tàn thuốc, là ta đã góp phần tránh nạn cháy rừng. Không đốn bậy một cây, là ta đã bảo vệ thiên nhiên của ta. Trồng cây không những là phận sự của nhà nước, hay của các công ty lâm nghiệp. Chung quanh nhà chúng ta, chúng ta có thể tìm trông một cây lạ, đặc biệt, hiếm của vùng hay chỉ có ở Việt Nam. Nhân dân ta yêu cây cảnh, hoa kiểng, nhưng những ai nhàn rỗi cũng có thể trồng một cây lạ hoặc một cây nào đó vào khoảng đất trống, là một nghĩa cử, là một thú tiêu khiển không kém hay, đẹp.

Thực-vật-chúng của ta với cả vạn cây cỏ như vậy nhưng mỗi loài đều có tên tuổi và nhiều đặc tính riêng của nó vô cùng lý thú. Dù bạn ở nông thôn hay thành thị, mỗi ngày khi bạn bước ra khỏi nhà, bạn đều sẽ gặp không chỉ cây này thì cỏ nọ, có khi nào bạn nghĩ rằng mình cần phải biết tên của chúng không? Rất cần đó bạn ạ, nếu ta biết mặt, biết tên của một cây, một cỏ, và rồi khi chúng ta đi đâu đó, nếu như gặp một người bạn thân quen, có lẽ sẽ đỡ lẻ loi và chuyến đi ấy sẽ có ý nghĩa hơn không? Cây cỏ, như trên đã nói, không phải là “cỏ cây vô loại” mà là những ân nhân nuôi dưỡng chúng ta, che chở, bảo vệ chúng ta, thậm chí còn chữa bệnh cho chúng ta nữa… Hy vọng rằng tập sách nhỏ này sẽ giúp cho các bạn trẻ nhận biết và làm quen nhiều hơn với những người bạn thiên nhiên hữu ích này.

Download Cây Cỏ Việt Nam (Quyển 1 - Quyển 2 - Quyển 3).

Nguồn: THUANPHONG’s blog (http://thuanphong.wordpress.com)
Read more…

Các website tải Ebook miễn phí tốt nhất

16:31 |
Nhu cầu đọc sách điện tử ngày càng tăng dần theo sự phát triển không ngừng của các thiết bị đọc sách. Do đó, các website cung cấp Ebook miễn phí cũng xuất hiện ngày càng nhiều.

1. http://thegioitinhoc.vn/home/97-e-books
Tại đây cung cấp và giới thiệu hàng ngàn quyển sách điện tử miễn phí thuộc mọi lĩnh vực như tin học, kinh tế, văn học, âm nhạc, hội họa, khoa học, y học sức khỏe, tâm lý giáo dục, ngoại ngữ… Để tải sách, bạn cần đăng ký một tài khoản miễn phí tại http://thegioitinhoc.vn. Bạn cũng có thể gửi yêu cầu ebook để nhờ mọi người tìm giúp mình một quyển sách cụ thể nào đó.

2. http://share-book.com
Với phương châm kiến thức không của riêng ai, trang web này đem đến cho người sử dụng rất nhiều ebook tiếng Việt và tiếng Anh hấp dẫn và hoàn toàn miễn phí.
+ Ebook tiếng Việt: Các đầu sách được phân chia thành các nhóm nội dung như Ebook CNT T (bảo mật, lập trình, hệ điều hành, internet,..); Giáo dục-giáo khoa (giáo trình, sách giáo khoa, luận văn-đồ án); kiến thức phổ thông (Du lịch, văn hóa-ẩm thực, lịch sử địa lý,…); Sách Kinh tế (marketing, tài chính, ngân hàng,…); Văn học thơ ca (truyện cười, truyện kiếm hiệp, truyện thiếu nhi, thơ ca,…).
+ Ebook tiếng Anh: Chủ yếu là sách về các ngôn ngữ lập trình như ASP, VisualBasic,… hay các sách giáo trình tiếng Anh.
Ứng với quyển ebook tại website này, bạn sẽ được cung cấp phần giới thiệu sơ lược về nội dung, mục lục và ở cuối trang là liên kết Click here to download kèm mật khẩu giải nén và dung lượng file tải về. Bạn chỉ việc nhấn vào liên kết này để tải ebook về máy từ trang chia sẻ Mediafire tốc độ cao.
Bên cạnh đó ở mục Ebook mới cho bạn xem danh sách các đầu sách mới vừa được cập nhật lên website.

3. www.vietnamwebsite.net/ebook/
Một website chứa lượng ebook Tiếng Việt tương đối lớn thuộc nhiều chủ đề chính gồm sách tin học, kiến thức phổ thông, văn học - giải trí, sách giáo khoa - tham khảo. Ứng với mỗi chủ đề này sẽ có rất nhiều mục con bên trong kèm số lượng chi tiết các đầu sách. Bạn chỉ việc nhấn vào tên sách để tải về trực tiếp.

4. http://ebook.moet.gov.vn
Tại đây, bạn có thể tìm kiếm các nội dung chuyên sâu về công nghệ thông tin, kinh tế - quản lý, điện kỹ thuật, khoa học sức khỏe, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội,… Mỗi mục này sẽ có nhiều chủ đề nhỏ hơn nằm bên trong. Tương tự các website trên, các ebook đều có thông tin chi tiết về tác giả, sơ lược các nội dung bên trong và liên kết tải về trực tiếp.

5. http://www.gutenberg.org
Đây sẽ là nơi bạn không thể bỏ qua với cơ sở dữ liệu đồ sộ hơn 40.000 đầu sách tiếng Anh. Sau khi truy cập vào trang web này bạn, nhập từ khóa tìm kiếm vào ô search book catalogue và nhấn Enter để tìm kiếm. Ngay lập tức, kết quả tìm thấy sẽ được hiển thị ở một cửa sổ mới và bạn chỉ việc nhấn vào liên kết này để đến trang tải file. Mỗi ebook đều cho phép bạn tải về dưới nhiều định dạng khác nhau như HTML, Epub, Kindle, Plain text… hay dạng sách nói (Audiobook) để thích hợp khi xem trên nhiều loại thiết bị.

Diễn Đàn: Chia sẻ tài liệu
http://www.benhhoc.com/dien-dan/20-Chia-se-tai-lieu-Y-hoc.html    
Read more…

Sách Những Cây Thuốc và Vị Thuốc Việt Nam (GS.TS. Đỗ Tấn Lợi)

16:04 |
Tác giả: GS.TS. Đỗ Tấn Lợi
Nhà xuất bản: NXB Y Học 2004

Đỗ Tất Lợi (1919-2008) bắt đầu nghiên cứu dược học từ năm 1939, khi đang là sinh viên của trường Đại học Y Dược Hà Nội. Sau kháng chiến chống Pháp, ông trở thành Chủ nhiệm Bộ môn Dược liệu của Đại học Y Dược Hà Nội. Trong thời gian này, ngoài công việc giảng dạy, ông tập trung toàn bộ vào việc nghiên cứu về các dược liệu Việt Nam, tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu trước đó của phương Đông và phương Tây, nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, đồng thời đi nhiều nơi trên đất nước để tìm kiếm các vị thuốc. Năm 1962, ông cho ra mắt bộ sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (hay Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam[2]. Đây là một bộ sách lớn, lần xuất bản đầu tiên (1962-1965) được in 10.000 cuốn, chia làm 6 tập, tổng cộng dày 1.494 trang. Bộ sách đã giới thiệu hơn 750 vị thuốc, gồm 164 cây thuốc, 77 vị thuốc động vật, 20 vị thuốc khoáng vật. Mỗi loại đều có tên khoa học, tên tiếng Việt và tên chữ Hán, những đặc tính chung, mô tả quá trình phân phối, thu hoạch, chế biến, thành phần hoá học và công dụng, liều dùng. Cuốn sách bao gồm cả những loại thuốc mà các nhà khoa học đã xác minh cơ chế, lẫn cả những loại được kiểm chứng hiệu nghiệm trong thực tế nhưng vẫn chưa được nghiên cứu rõ ràng.

Trong lời giới thiệu bộ sách lần xuất bản đầu tiên, Thứ trưởng Bộ Y tế Việt Nam, ông Vũ Công Thuyết, đã viết:
“ …Bộ sách đã thể hiện một công trình sưu tầm, nghiên cứu rất công phu, một khối lượng lao động rất lớn trong nhiều năm của tác giả. Nhiều công trình nghiên cứu trong nước, nhiều tài liệu nước ngoài đã được khảo sát, chọn lọc, cộng với hơn 20 năm trong nghề của tác giả, một cán bộ đã có nhiều nhiệt tình và cống hiến trong việc nghiên cứu thuốc nam. [2] ”

Đọc Thêm : GS-TS Đỗ Tất Lợi – Cây đại thụ giữa rừng thảo dược

Câu định nghĩa giản dị ngắn gọn này đã trở thành mục đích cả cuộc đời GS Đỗ Tất Lợi: Nghiên cứu y học cổ truyền là tìm ra những điều mà y học hiện đại chưa biết.

GS-TS Đỗ Tất Lợi sinh năm 1919, xuất thân từ một gia đình làm nghề nông ở làng Phù Xá, huyện Kim Anh, Phúc Yên, nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Ngay từ nhỏ, bác đã học được ở cụ thân sinh Đỗ Văn Kiêm lòng say mê trồng trọt đủ loại cây cỏ vườn nhà. Năm lên sáu, bác bị ngã gẫy tay, được chữa khỏi nhờ cụ lang Lê Văn Sáp nổi tiếng chữa gẫy xương và nhiều bệnh khác chỉ bằng thuốc lá.

Vậy là cây cỏ ở quanh ta còn ẩn chứa nhiều điều bí mật. Cho nên khi thi vào đại học năm 1939, bác không chọn khoa Luật để ra làm quan như nhiều người mong tiến thân ngày ấy, cũng không chọn khoa Y để làm quan đốc tờ, bác chọn khoa Dược. Người chọn ngành này thật hiếm hoi! Năm bác tốt nghiệp chỉ có 6 dược sĩ cho toàn cõi Đông Dương.

Ngay khi còn là sinh viên, bác đã tìm đến cụ lang Lê Văn Sáp xin cụ cho đi thăm bệnh và đi sưu tầm cây thuốc. Nhờ đó, ngành Dược của ta may mắn có người mở đầu công việc kết hợp khoa học thực nghiệm với kinh nghiệm y học cổ truyền phương Đông. Bác là người phát ngôn sớm nhất quan niệm này trên Báo Dân Thanh ngày 31/10/1946. Vì vậy, ngay số báo sau đã có người phản bác lại, đó là nhà Đông y Lê Huy Phách. Chỉ sau đó hàng chục năm, ông này mới nhận ra sai lầm của mình, và đích thân đến xin được học, được cùng nghiên cứu với dược sĩ Đỗ Tất Lợi.

Những câu chuyện chữa bệnh kỳ lạ của y học cổ truyền thì nhiều, GS-TS Đỗ Tất Lợi có thể kể ngày này sang ngày khác mà không hết. Riêng tôi, nhớ nhất câu chuyện thú vị này:

Có một đơn vị bộ đội đóng ở Thủ Đức ngày đầu kháng chiến chống Pháp, ăn phải nấm độc, cả đơn vị bị ngộ độc, bất tỉnh. Mấy bác sĩ trong vùng đều chịu, không biết cách chữa. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đến thăm đơn vị đúng lúc ấy, ông vận dụng kiến thức học được từ Trường Đại học Y ở Paris, có lẽ một phần do thuốc men thiếu thốn vùng kháng chiến, nên ông cũng không chữa được.

Lúc đó, bà nông dân chủ nhà (chưa biết chữ) nói như đinh đóng cột: “Các chú không chữa được thì để tôi chữa cho”. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch hỏi xem bà định chữa bằng cách nào. Bà bảo: “Miễn khỏi thì thôi, các chú không cần biết!”.

Bà đi ra sau nhà, nhóm bếp rang một thứ gì đó, độ 15-20 phút bà trở ra, rót từ chiếc bình tích lớn một thứ nước đổ vào miệng mỗi bệnh nhân một chén. Thật kỳ lạ! Chưa đầy 10 phút, cả đơn vị đều tỉnh lại và khoẻ khoắn như chưa từng ăn phải nấm độc.

Các bác sĩ gặng hỏi, bà chỉ mủm mỉm cười: “Tôi không nói, tôi nói ra thì các chú cho tôi… đi tù!”. Rồi đơn vị chuyển đi, việc quân bận rộn, mọi người yên trí bà muốn giữ riêng cho mình bài thuốc cổ truyền. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch cũng yên trí như vậy suốt 20 năm.

Đến năm 1969, ông kể chuyện đó cho tôi nghe (lời GS Đỗ Tất Lợi). Tôi trả lời ông Thạch:

- Thưa anh, thang thuốc đó sách thuốc cổ của ta đã ghi!

- Anh thử dịch tôi xem!

“Tôi liền dịch ra và đánh máy 5 trang đặc chữ đưa ông xem. Trong đó có hàng chục thang khác nhau dùng phân người để chữa bệnh. Bà nông dân hẳn đã dùng cách này! Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch kinh ngạc liền chỉ định cho mấy dược sĩ nghiên cứu xem có chất gì trong phân có thể trị ngộ độc nấm. Hoá ra phân người thải ra potassium. Đem phân rang lên, trong tro của nó toàn potassium, pha vào nước có thể chữa được những cơn choáng như trường hợp ngộ độc nấm ở trên”.

Sau đó, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch cho bào chế thứ thuốc này, bởi bộ đội thời đó hay hái nấm ăn, không tinh sẽ ăn phải nấm độc. Vì là thuốc chế từ thứ trong bụng người nên bác sĩ đặt tên cho là Nhân trung 9 (NT9). Có người muốn trêu ông thì gọi là Ngọc Thạch 9.

Câu chuyện trên thật đúng với câu danh ngôn: Thà được cứu sống một cách ngu ngốc còn hơn chết một cách thông minh.

Còn câu định nghĩa giản dị ngắn gọn này đã trở thành mục đích cả cuộc đời GS Đỗ Tất Lợi: Nghiên cứu y học cổ truyền là tìm ra những điều mà y học hiện đại chưa biết.

GS-TS Đỗ Tất Lợi có tới 120 công trình khoa học lớn nhỏ mà chỉ kể tên ra, không giải thích, đã choán hết độ dài của bài báo. Công trình đáng kể nhất, gây tiếng vang ra ngoài đất nước là bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” dày trên 1.200 trang khổ lớn, bao gồm 750 loài cây thuốc, vị thuốc thuộc 164 họ, 77 vị thuốc động vật, 20 vị khoáng vật.

Bộ sách được tái bản nhiều lần, mỗi lần lại dày thêm những chương mới. Ví dụ tái bản lần thứ 7, bổ sung một chương về phân người, lần thứ 8 một chương về dùng nước bọt chữa bệnh… Ngoài những tên khoa học, dược tính, nơi sinh trưởng của cây thuốc… còn có hình chụp màu để độc giả bình thường có thể nhận ra không nhầm lẫn từng cây thuốc, lá thuốc.

Bàn về cây cỏ với tôi, GS nói một câu rất hay: “Hoa không chỉ quan trọng với trang thơ của các anh, với chúng tôi, nó là chứng minh thư của cây. Vì nhiều thứ cây, lá hao hao giống nhau. Nhưng đến khi có hoa là ta xác định ngay được tên gọi”.

Tôi thầm nghĩ: Cây cũng như các nhà thơ vậy, họ có thể giống nhau trong đời sống, nhưng đến khi ra hoa – thơ mà cũng giống nhau nữa thì không biết gọi họ là gì?

Nhân bàn về hoa, mùa xuân đem đến cho ta bao sắc màu kỳ diệu, nhưng ta chỉ biết hưởng chúng ở vẻ đẹp bên ngoài, nếu ta còn biết được như GS Đỗ Tất Lợi, giá trị chữa bệnh cứu người của chúng: Cây kim ngân mới ra hoa màu trắng, rồi chuyển dần sang vàng, có lúc lại từng mảng trắng xen vàng (kim và ngân mà!) thành thảm hoa thật đẹp! Đó là vị thuốc mát chữa được cảm sốt, mẩn ngứa, dị ứng. Hoa mẫu đơn là một thứ thuốc có tác dụng bổ máu.–PageBreak–

Cây sâm bố chính ở Thanh Hoá có những bông hoa to đỏ rực, hoặc cây trồng làm cảnh phổ biến ở nước ta là cây trúc đào, GS đã tìm cách chiết hoạt chất của cây này, qua nhiều lần thí nghiệm thất bại, cuối cùng ông đã chiết được chất neriolin là thuốc chữa bệnh tim đủ tiêu chuẩn cần thiết. GS Đặng Văn Chung đã dùng thử trên lâm sàng có kết quả…

GS Đỗ Tất Lợi không đồng ý dùng khái niệm thuốc Nam, thuốc Bắc như ta vẫn dùng lâu nay (thuốc Nam là lá mọc ở Việt Nam, thuốc Bắc là nhập của Trung Quốc). Ranh giới Nam – Bắc chỉ là tương đối. Thí dụ người Nga gọi thuốc của Trung Quốc là thuốc Nam (phía Nam của họ). Cây thuốc mọc ở vùng Vladivostoc mới là thuốc Bắc.

Do thiếu hiểu biết nên những cây dược liệu mọc ở Việt Nam (Lào Cai) như củ gấu tầu và hoàng liên đáng phải gọi là thuốc Nam. Nhưng Lào Cai đã xuất sang Trung Quốc. Sau đó, Hải Phòng lại nhập những vị thuốc ấy với cái tên Ô đầu và Bắc hoàng liên coi như thuốc Bắc. Hoặc có một số cây thuốc Bắc đã trồng được ở Việt Nam như sinh địa, thục địa thì nay gọi là gì? Theo ông, chỉ nên gọi là thuốc Bắc hay thuốc Nam khi được chế biến theo cách của Trung Quốc hay Việt Nam.

- Thưa bác, vấn đề truyền dạy kiến thức y học dân tộc và chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền, bác có điều gì còn chưa hài lòng?

- Hiện nay, các trường đại học y dược của ta chưa có bộ môn (hoặc khoa) này để truyền dạy. Học trò của tôi có thể đếm trên đầu ngón tay. Ở Đại học Dược TP Hồ Chí Minh còn thỉnh thoảng mời tôi đến giảng ngoại khóa. Còn ngoài Hà Nội thì không… Y học cổ truyền thời xưa y và dược là một. Danh y Lý Thời Trân là tác giả cuốn dược liệu lớn nhất thế giới, khi đi chữa bệnh lại là ông lang Tần Hồ.

Còn tôi bây giờ mà đi chữa bệnh là sai luật vì không có giấy phép hành nghề. Trong khi đó, nếu người nghiên cứu tự đi chữa bệnh, nhiều khi phát hiện được tác dụng mới của thuốc. Thí dụ khi tôi dùng ích mẫu, ngải cứu chữa bệnh kinh nguyệt không đều thì tôi phát hiện ra đơn thuốc ấy làm hạ được huyết áp. Sau tôi chỉ dùng đơn thuốc ấy để hạ huyết áp thì tác dụng rất tốt.

Chính bác sĩ Phạm Ngọc Thạch thấy hiệu quả ấy đã ra lệnh nghiên cứu. Tiếc rằng nghiên cứu chưa xong thì bác sĩ Phạm Ngọc Thạch qua đời, không được nghe kết quả nghiên cứu. Hai nữa về vấn đề quy chế, thầy thuốc Đông y không được bảo vệ như bác sĩ Tây y. Trong những ca đặc biệt, bệnh nhân phải làm giấy cam đoan để khỏi rầy rà đến bác sĩ khi không may bị tử vong. Với các thầy lang thì đâu được thế!

- Thưa bác, ở tuổi 80 mà ở bác, tôi chưa thấy những dấu hiệu lão hoá. Vậy vấn đề dưỡng sinh và tự chữa bệnh của bác ra sao?

- Tôi chỉ nhờ Tây y mỗi việc mổ mắt, phải dùng đơn thuốc Tây, còn thì toàn dùng Đông y, không bao giờ uống kháng sinh, cảm sốt không bao giờ dùng aspirin. Chỉ cần thái nhỏ hành, hẹ, đập quả trứng gà rồi rót vào đó bát cháo loãng thật sôi, quấy đều cho vừa mắm muối là khỏi, nếu phải ăn sang bát thứ hai, thứ ba thì bớt lòng đỏ cho gan đỡ phải làm việc.

Giáo sư nhấn mạnh:

- Đặc biệt không để xảy ra stress. Khi bị stress, tôi dùng cách thở bốn thì (kiểu thở của ông Nguyễn Khắc Viện) để chấm dứt giận dữ hoặc buồn phiền. Anh có biết tác dụng của cỗ hậu sự các cụ sắm sẵn đặt trong nhà không? Một cách chống stress đấy! Chết còn không sợ thì còn sợ cái gì?

GS Đỗ Tất Lợi kết thúc buổi trò chuyện với tôi bằng một hồi ức vui:

- Tôi còn học thôi miên ở nhà văn Phạm Cao Củng nữa đấy! Tôi học và thu được hiệu quả: Anh Cát Huy Dương (sau là Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Y tế) ở trọ nhà tôi. Tôi thôi miên cho anh ngủ, đưa anh muối bảo là đường, thế mà anh thấy ngọt mới lạ! Phương Đông mình còn nhiều điều bí ẩn phải nghiên cứu lắm. Tôi học thôi miên cho biết, không đi sâu được, mỗi người mỗi nghề…

Lần đến thăm hôm nay, GS không được khỏe, anh Đỗ Tất Hùng, con trai trưởng của cụ mời tôi ra gian ngoài trò chuyện. Hoá ra anh cũng từng viết nhiều bài báo về Đông y, ký tên Thái Hư hoặc Huyên Thảo.

Anh còn cho biết một điều thú vị: Gia tộc họ Đỗ, từ đầu thế kỷ trước đã hình thành một tập đoàn hoạt động kinh doanh liên ngành, mà tổ chức hoạt động sớm nhất là ngành xuất bản: ông Giáo Mai (ông Năm) là chủ NXB Mai Lĩnh, trong khi cậu cháu ruột Đỗ Tất Lợi mở hiệu thuốc Mai Lĩnh.

Các nhà văn Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng thường xuyên có mặt ở NXB. Nhà văn Ngô Tất Tố cũng là người bốc thuốc giỏi. Trong khi đó, ông Bẩy lại mở hiệu tạp hoá và nhà in Mai Lĩnh ở Hải Phòng, kiêm cơ sở phát hành báo chí. GS Đỗ Tất Lợi hồi nhỏ học ở Hải Phòng, sáng nào cũng phải đưa báo đến một số địa điểm rồi mới đến lớp học. Còn nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn hiện nay lại gọi GS Đỗ Tất Lợi bằng cậu ruột…

Tải sách tại đây
Read more…

bộ Bách Khoa Y Học 2010 v2.0 ) - Lê Đình Sáng (.pdf, .prc)

20:33 |
Bách Khoa Y Học là sự phát triển kế tục của các phiên bản trước, nhưng kể từ Bách Khoa Y Học 2010 thì nó không chỉ là một cuốn sách mà sẽ là một bộ sách điện tử, vì dung lượng và số lượng thông tin cứ ngày càng nhiều lên, phiên bản 2.0 có số lượng bài viết nhiều gấp ít nhất 4 lần Bách Khoa Y Học 2009 v1.5 , vì thế không thể nào “nhồi nhét” nó vào một cuốn sách được, vả lại việc chia nhỏ thành từng chuyên khoa sẽ giúp bạn đọc dễ dàng tra cứu hơn và cũng giúp tác giả dễ dàng cập nhật thông tin hơn, tiết kiệm thời gian và công suất làm việc cho cả người và máy tính.

BÁCH KHOA Y HỌC 2010 ĐƯỢC CHIA LÀM KHOẢNG 30 QUYỂN :
1. BỆNH HỌC DA LIỄU
2. BỆNH HỌC MẮT
3. BỆNH HỌC NHI KHOA
4. BỆNH HỌC TIÊU HÓA
5. BỆNH HỌC UNG THƯ
6. BỆNH HỌC LAO-PHỔI
7. BỆNH HỌC NỘI TIẾT-CHUYỂN HÓA
8. BỆNH HỌC TIM MẠCH
9. CÂY THUỐC VÀ VỊ THUỐC 2.0
10. DANH BẠ Y TẾ VIỆT NAM
11. DƯỢC LÝ HỌC LÂM SÀNG
12. GIẢI PHẪU BỆNH
13. HỒI SỨC CẤP CỨU VÀ CHỐNG ĐỘC
14. HUYẾT HỌC VÀ TRUYỀN MÁU
15. KỸ NĂNG ĐIỀU DƯỠNG
16. NGOẠI KHOA THỰC HÀNH
17. RĂNG HÀM MẶT
18. SẢN PHỤ KHOA
19. SINH LÝ VÀ SINH LÝ BỆNH
20. TAI MŨI HỌNG
21. TÂM THẦN HỌC (2.0)
22. THẦN KINH HỌC
23. THẬN TIẾT NIỆU SINH DỤC
24. TRIỆU CHỨNG HỌC NỘI KHOA
25. Y HỌC CỔ TRUYỀN
26. SỔ TAY THUỐC THƯỜNG DÙNG
27. DANH NHÂN Y HỌC
28. MIỄN DỊCH HỌC LÂM SÀNG
29. DỊ ỨNG
30. HÓA SINH LÂM SÀNG
31. CÁC QUYỂN KHÁC SẼ HOÀN THÀNH TRONG NĂM 2010.

định dạng PRC :
http://www.fshare.vn/file/6F2LGWJ5EQ/
định dạng PDF :
http://www.fshare.vn/file/5NRHTV2MBP/
Read more…

Kho sách Y học (Tiếng Anh)

16:56 |
Các bạn có thể lựa chọn sách phù hợp và hạ tải tại đây.
TIÊU ĐỀ SÁCH:
7 Steps To A Pain Free Life
ACL Made Simple
An Atlas of Back Pain
Anatomy & Physiology - The Unity of Form and Function 3rd Edition Saladin
Anterior Knee Pain and Patellar Instability
Arthritis and allied conditions a textbook of rheu
Atlas of Neuromuscular Diseases
Atlas of skeletal muscles (2000) - STONE
BiomaterialsInOrthopedicsDekker2004
Bonica_s_management_of_pain_3rd_ed
Clinical Examination of Musculoskeletal System - Assessing Rheumatic Conditions
Clinical Orthopaedic Examination, Fifth Edition (2004)
Clinical Tests for the Musculoskeletal System
Clinical.Anatomy.11ed.1405138041.Oct.2006
Color Atlas of Physiology
Core Topics in Pain
Current Diagnosis & Treatment in Orthopedics 3rd ed
DeLee and Drez's - Orthopaedic Sports Medicine. Editor DeLee (2nd Ed. 2003)
Differential Diagnosis in Neurology and Neurosurgery
Electrodiagnosis in Diseases of Nerve and Muscle - Principles and Practice
Essentials_of_Physical_Medicine_and_Rehabilitatio
Foundations of Sport-Related Brain Injuries
Fractures_in_children_5ed
Human Biology_0071218068
Image-guided spine interventions
Interpretation of Diagnostic Tests 7th ed
Lovell_and_winter_s_pediatric_orthopaedics_3rd_ed
Massage For Dummies
Medical.Books.Awaken.Healing.Energy
Medical.Books.Campbells.Textbook
Medical.Books.Handbook.Of.Couples.Therapy
Medical.Books.Healing.Or.Stealing..Medical.Charlatans.In.The.New.Age
Medical.Books.Medicine.A.Handbook.For.Medical.Teachers
Medical.Books.Medicine.A.Manual.Of.Laboratory.And.Diagnostic.Tests.7Th.Ed.Fischbach
Medical.Books.Medicine.A.Practical.Research.Methods.C.Dawson
Medical.Books.Medicine.Abc.Of.Learning.And.Teaching.In.Medicine
Medical.Books.Medicine.Abc.Of.Resuscitation.Abc.2003
Medical.Books.Medicine.Acne.Symposium.At.The.World.Congress.Of.Dermatology,.Paris.2002
Medical.Books.Medicine.Acp.American.College.Of.Physicians.Medicine-2006
Medical.Books.Medicine.Advanced.Assessment-Interpreting.Findings.And.Formulating.Different.Diagnosis
Medical.Books.Medicine.Aids.To.The.Examination.Of.The.Pns.Ed.4Th
Medical.Books.Medicine.Assessing.Childrens.Well-Being.A.Handbook.Of.Measures.Isbn0805831738
Medical.Books.Medicine.Atlas.Of.Primary.Care.Procedures.2003
Medical.Books.Medicine.Bmj.Clinical.Evidence.And.Clinical.Evidence.Concise.Ebm2004
Medical.Books.Medicine.Board.Review.From.Medscape.–.Case-Based.Internal.Medicine.Self-Assessment.Questions
Medical.Books.Medicine.Brothers.And.Sisters.Of.Children.With.Disabilities..Medicine
Medical.Books.Medicine.Cecil.Textbook.Of.Medicine.21
Medical.Books.Medicine.Cellulite.Pathophysiology.And.Treatment
Medical.Books.Medicine.Clinical.evidence.vol.9
Medical.Books.Medicine.Clinical.evidence.vol.10
Medical.Books.Medicine.Clinical.Interviewing
Medical.Books.Medicine.Clinical.Knowledge.Management.Opportunities.And.Challenges
Medical.Books.Medicine.Clinician's.Pocket.Reference.0838515525
Medical.Books.Medicine.Color.Atlas.Of.Pharmacology
Medical.Books.Medicine.Common.Symptom.Answer.Guide
Medical.Books.Medicine.Comprehensive.Management.Of.Chronic.Obstructive.Pulmonary.Disease.2002.Copd
Medical.Books.Medicine.Current.Medical.Diagnosis.&.Treatment,.2005.Full.Pic
Medical.Books.Medicine.Drawing.The.Line..Art.Therapy.With.The.Difficult.Client
Medical.Books.Medicine.Elsevier's.Medical.Terminology.For.The.Practicing.Nurse.1998
Medical.Books.Medicine.Encyclopedia.Of.Infectious.Diseases
Medical.Books.Medicine.Essentials.Of.Complementary.And.Alternative.Medicine
Medical.Books.Medicine.Evidence.base.of.clinical.diagnosis
Medical.Books.Medicine.Evidence.Based.Practice.In.Primary.Care.Illustrated
Medical.Books.Medicine.Evidence-Based.Imaging.Optimizing.Imaging.In.Patient.Care
Medical.Books.Medicine.Evidence-Based.Medicine.Workbook
Medical.Books.Medicine.Ferri's.Clinical.Advisor.2004.Instant.Diagnosis.And.Treatment..6Th.Edition
Medical.Books.Medicine.General.Practice,.3Rd.Edition.J..Murtagh
Medical.Books.Medicine.Geriatric.Medicine.An.Evidence-Based.Approach
Medical.Books.Medicine.Harrison's.Principles.Of.Internal.Medicine.16Th.Edition
Medical.Books.Medicine.How.To.Present.At.Meetings.2001
Medical.Books.Medicine.How.To.Read.A.Paper
Medical.Books.Medicine.How.To.Write.&.Publish.Scientific.Paper
Medical.Books.Medicine.Information.Technologies.In.Medicine.Volume.I
Medical.Books.Medicine.Interviewing.And.Diagnostic.Exercises.For.Clinical.And.Counseling.Skills.Building.Isbn.08058464
Medical.Books.Medicine.Learning.medicine.an.informal.guide.to.a.career.in.medicine
Medical.Books.Medicine.Manual.Of.Clinical.Problems.In.Pediatrics.5Th.Edition.2000
Medical.Books.Medicine.Manual.Of.Family.Practice.2Nd.Ed
Medical.Books.Medicine.Means.Ends.And.Medical.Care
Medical.Books.Medicine.Medical.And.Psychosocial.Aspects.Of.Chronic.Illness.And.Disability,.Third.Edition.2005
Medical.Books.Medicine.Medical.Malpractice.A.Physician's.Sourcebook
Medical.Books.Medicine.Modern.Pharmacology.With.Clinical.Applications
Medical.Books.Medicine.Nelson.Textbook.Of.Pediatrics.17Th.Ed.Behrman
Medical.Books.Medicine.Opportunities.In.Physician.Careers.0071438483
Medical.Books.Medicine.Outpatient.And.Primary.Care.Medicine,.2005.Edition.2004
Medical.Books.Medicine.Oxford.dictionary.of.medical.quotations
Medical.Books.Medicine.Oxford.textbook.of.public.health.4th.ed
Medical.Books.Medicine.Paediatric.Musculoskeletal.Disease.3Haxap
Medical.Books.Medicine.Paediatric.Radiography.3Haxap
Medical.Books.Medicine.Pain.Medicine.And.Management.Just.The.Facts
Medical.Books.Medicine.Primary.care.medicine.office.evaluation.and.managemMedical.Books.Medicine.Rosen's.Emergency.Medicine
Medical.Books.Medicine.Scientific.Writing.Easy.When.You.Know.How.2002
Medical.Books.Medicine.Symptoms.Of.Unknown.Origin
Medical.Books.Medicine.Textbook.Of.Clinical.Trials.Wiley.2004
Medical.Books.Medicine.Textbook.Of.Physical.Diagnosis.History.Examination.Swartz
Medical.Books.Medicine.The.Gale.Encyclopedia.Of.Alternative.Medicine.4-Volume-Set
Medical.Books.Medicine.The.Gale.Encyclopedia.Of.Cancer.2-Volume-Set
Medical.Books.Medicine.The.Gale.Encyclopedia.Of.Genetic.Disorders.2-Volume-Set.Pdf
Medical.Books.Medicine.The.Gale.Encyclopedia.Of.Medicine.5-Volume-Set.2Nd.Edition
Medical.Books.Medicine.The.Gale.Encyclopedia.Of.Nursing.And.Allied.Health
Medical.Books.Medicine.The.Gale.Encyclopedia.Of.Science.3Rd.Edition.6-Volume-Set
Medical.Books.Medicine.Understanding.Headaches.And.Migranes
Medical.Books.Neurology.A.Dictionary.Of.Neurological.Signs
Medical.Books.Neurology.Abc.Of.Spinal.Cord.Injury
Medical.Books.Neurology.Atlas.Of.Functional.Neuroanatomy,.Second.Edition
Medical.Books.Neurology.Atlas.Of.Neuromuscular.Diseases
Medical.Books.Neurology.Brain.Facts,.A.Primer.On.The.Brain.And.Nervous.System.The.Society.For.Neuroscience
Medical.Books.Neurology.Cerebral.palsy
Medical.Books.Neurology.Complementary.Therapies.In.Neurology
Medical.Books.Neurology.Cranial.Nerves.Functional.Anatomy.2005
Medical.Books.Neurology.Differential.Diagnosis.In.Neurology.And.Neurosurgery
Medical.Books.Neurology.Electrodiagnosis.In.Diseases.Of.Nerve.And.Muscle.Principles.And.Practice
Medical.Books.Neurology.Functional.Neuroanatomy.Of.Pain
Medical.Books.Neurology.Handbook.Of.Parkinson's.Disease,.Third.Edition
Medical.Books.Neurology.Living.Well.With.Parkinson’s
Medical.Books.Neurology.Managing.The.Symptoms.Of.Multiple.Sclerosis
Medical.Books.Neurology.Managing.Your.Multiple.Sclerosis
Medical.Books.Neurology.Merritt.Merritt's.Neurology.10Th.Ed
Medical.Books.Neurology.Modern.Neuromuscular.Techniques.Modern.Neuromuscular.Techniques.Wcd.2003
Medical.Books.Neurology.Modern.Neurosurgery..Clinical.Translation.Of.Neuroscience.Advances
Medical.Books.Neurology.Motor.Cortex.In.Voluntary.Movements.A.Distributed.System.For.Distributed.Functions
Medical.Books.Neurology.Nervous.System.And.Sensory.Organs.Color.Atlas.And.Textbook.Of.Human.Anatomy.Volume.3
Medical.Books.Neurology.Neural.Plasticity.In.Adult.Somatic.Sensory-Motor.System
Medical.Books.Neurology.Neuroanatomy.Atlas.Of.Structures.Sections.Systems.6Ed
Medical.Books.Neurology.Neuroscience.D.Purves,.Et.Al
Medical.Books.Neurology.Neurotransmitters,.Drugs.And.Brain.Function.Wiley.2001
Medical.Books.Neurology.Pain.And.Depression.An.Interdisciplinary.Patient-Centered.Approach
Medical.Books.Neurology.The.Gale.Encyclopedia.Of.Neurological.Disorders..2-Volume-Set
Medical.Books.Neurology.The.Handbook.Of.Brain.Theory.And.Neural.Networks.Isbn
Medical.Books.Neurology.Treatment.Of.Pediatric.Neurologic.Disorders.3Haxap
Medical.Books.Nursing.Practice.In.Multiple.Sclerosis.A.Core.Curriculum
Medical.Books.Occupational.Health.Practice.Arnold.Publishers.Fourth.Editionisbn0750627204
Medical.Books.Ortho.7.Steps.To.A.Pain.Free.Life
Medical.Books.Ortho.Acl.Made.Simple
Medical.Books.Ortho.An.Atlas.Of.Back.Pain
Medical.Books.Ortho.Ankylosing.Spondylitis
Medical.Books.Ortho.Anterior.Knee.Pain.And.Patellar.Instability
Medical.Books.Ortho.Arthritis.And.Allied.Conditions.A.Textbook.Of.Rheu
Medical.Books.Ortho.Atlas.Of.Skeletal.Muscles.2000.Stone
Medical.Books.Ortho.Biomaterialsinorthopedicsdekker2004
Medical.Books.Ortho.Biomechanical.Systems.Techniques.And.Applications.Musculoskeletal.Models.&.Techniques
Medical.Books.Ortho.Bone.And.Joint.Futures.2002
Medical.Books.Ortho.Bonica.s.management.of.pain.3rd.ed
Medical.Books.Ortho.Chapman's.Orthopaedic.Surgery.3Rd.Ed
Medical.Books.Ortho.Classifications.And.Scores.Of.The.Shoulder.Habermeyer
Medical.Books.Ortho.Clinical.Examination.Of.Musculoskeletal.System.Assessing.Rheumatic.Conditions
Medical.Books.Ortho.Clinical.Orthopaedic.Examination,.Fifth.Edition.2004
Medical.Books.Ortho.Clinical.Tests.For.The.Musculoskeletal.System
Medical.Books.Ortho.Core.Topics.In.Pain
Medical.Books.Ortho.Current.Diagnosis.&.Treatment.In.Orthopedics.3Rd.Ed
Medical.Books.Ortho.Delee.And.Drez's.Orthopaedic.Sports.Medicine..Editor.Delee.2Nd.Ed..2003
Medical.Books.Ortho.Dynamics.of.human.gait
Medical.Books.Ortho.Essentials.of.physical.medicine.and.rehabilitatio
Medical.Books.Ortho.Evaluation.Of.The.Low.Back.Pain.Practice.Guideline.Implementation.In.The.Army
Medical.Books.Ortho.Evidence.Based.Sports.Medicine
Medical.Books.Ortho.Exercise.Leadership.In.Cardiac.Rehabilitation.An.Evidence-Based.Approach.0470019719
Medical.Books.Ortho.Foundations.Of.Sport-Related.Brain.Injuries
Medical.Books.Ortho.Fractures.classification.in.clinical.practice..2006
Medical.Books.Ortho.Fractures.in.children.5ed
Medical.Books.Ortho.Hand.Bone.Age
Medical.Books.Ortho.Healing.back.pain.the.mind
Medical.Books.Ortho.Human.Body.Dynamics.Classical.Mechanics.And.Human.Movement.A.Tozeren
Medical.Books.Ortho.Kelley's.Textbook.Of.Rheumatology.6Th.Edition,.2-Volume.Set.Isbn
Medical.Books.Ortho.Manual.Of.Rheumatology.And.Outpatient.Orthopedic.Disorders.Diagnosis.And.Therapy.4Th.Ed
Medical.Books.Ortho.Massage.For.Dummies
Medical.Books.Ortho.Miller's.review.of.orthopedics
Medical.Books.Ortho.Modern.Neuromuscular.Techniques.Modern.Neuromuscular.Techniques.Wcd.2003
Medical.Books.Ortho.Oxford.Textbook.Of.Rheumatology,.2Nd.Ed.1998
Medical.Books.Ortho.Pain.Psychological.Perspectives.Ebook-Ddu
Medical.Books.Ortho.Pediatric.Orthopedics.For.Primary.Care.Physicians
Medical.Books.Ortho.Pediatric.Orthopedics.In.Practice
Medical.Books.Ortho.Physical.Medicine.And.Rehabilitation.Board.Review
Medical.Books.Ortho.Pocket.Guide.To.Musculoskeletal.Diagnosis.3Haxap
Medical.Books.Ortho.Screening.Notes.Rehabilitation.Specialists.Pocket.Guide.Davis.Notes.S.Isbn
Medical.Books.Ortho.Soft.Tissue.Rheumatology
Medical.Books.Ortho.Sports.Injuries.Mechanisms,.Prevention,.Treatment..2Nd.Edition
Medical.Books.Ortho.Sports.Medicine.Just.The.Facts
Medical.Books.Ortho.Strength.Training.Anatomy
Medical.Books.Ortho.Stretching.Anderson.Bob
Medical.Books.Ortho.Super.Joints.Russian.Longevity.Secrets.For.Pain-Free.Movement
Medical.Books.Ortho.The.Orthopaedic.Physical.Exam.2004.Reider
Medical.Books.Ortho.Treatment.Of.Osteoarthritic.Change.In.The.Hip.Joint.Preservation.Or.Joint.Replacement
Medical.Books.Pain.And.Depression.An.Interdisciplinary.Patient-Centered.Approach
Medical.Books.Physiology.Anatomy.&.Physiology.The.Unity.Of.Form.And.Function.3Rd.Edition.Saladin
Medical.Books.Physiology.Biology.4.Volume.Set...Macmillan.Science.Library
Medical.Books.Physiology.Clinical.Anatomy.11Ed.1405138041.Oct.2006
Medical.Books.Physiology.Clinical.laboratory.medicine.Clinical.applications
Medical.Books.Physiology.Color.Atlas.Of.Physiology
Medical.Books.Physiology.Human.Biology.0071218068
Medical.Books.Physiology.Marks.Basic.Medical.Biochemistry.A.Clinical.Approach
Medical.Books.Physiology.Medical.physiol.2nd.ed
Medical.Books.Physiology.Memmler's.The.Human.Body.In.Health.And.Disease
Medical.Books.Physiology.Mp.Van.De.Graaff.Human.Anatomy
Medical.Books.Physiology.Pathophysiology.Of.Disease
Medical.Books.Physiology.Quick.Reference.Dictionary.For.Massage.Therapy.And.Bodywork
Medical.Books.Physiology.Robbins.Pathologic.Basis.Of.Disease.1999.With.Pictures
Medical.Books.Physiology.Textbook.Of.Medical.Physiology
Medical.Books.Physiology.Understanding.Human.Anatomy.And.Physiology.5Th.Edition
Medical.Books.Principles.And.Practice.Of.Burn.Surgery.3Haxap
Medical.Books.Radiology.Churchill.Livingstone.2001.Grainger.&.Allison's.Diagnostic.Radiology..A.Textbook.Of.Medical.I
Medical.Books.Radiology.Image-Guided.Spine.Interventions
Medical.Books.Radiology.Interpretation.Of.Diagnostic.Tests.7Th.Ed
Medical.Books.Radiology.Lab.Notes.Guide.To.Lab.And.Diagnostic.Tests.2005
Medical.Books.Radiology.Lovell.and.winter.s.pediatric.orthopaedics.3rd.ed
Medical.Books.Radiology.Mcq.Companion.To.Applied.Radiological.Anatomy.3Haxap
Medical.Books.Radiology.Musculoskeletal.Diseases.Diagnostic.Imaging.And.Interventional.Techniques
Medical.Books.Radiology.Nurse’s.Manual.Of.Laboratory.And.Diagnostic.Tests.4Th.Ed.2003
Medical.Books.Radiology.Pocket.Atlas.Of.Radiographic.Anatomy.2Nd.Ed,.2000
Medical.Books.Radiology.Pocket.Guide.To.Diagnostic.Tests
Medical.Books.T'ai.Chi.For.Seniors..How.To.Gain.Flexibility,.Strength,.And.Inner.Peace
Medical.Books.The.Aging.Spine
Medical.Books.The.A-Z.Medical.Writing
Medical.Books.The.Circuitry.Of.The.Human.Spinal.Cord.its.Role.In.Motor.Control.And.Movement.Disorders
Medical.Books.The.Clinical.Drug.Therapy.Rationales.For.Nursing.Practice.Field.Guide.Series.2006
Medical.Books.The.Clinical.Science.Of.Neurologic.Rehabilitation.Contemporary.Neurology.Series,.66.2003
Medical.Books.The.Coiled.Spring
Medical.Books.The.Gale.Encyclopedia.Of.Surgery.3-Volume-Set.Pdf
Medical.Books.The.Healthcare.Quality.BookVision,.Strategy,.And.Tools
Medical.Books.The.Massage.Connection.Anatomy.And.Physiology
Medical.Books.The.Trigger.Point.Therapy.Workbook.Your.Self-Treatment.Guide.For.Pain.Relief.Clair.Davies
Medical.Books.The.Ultimate.New.York.Body.Plan.Ebook-Tlfebook
Medical.Books.Tmj.Disorders.And.Orofacial
Medical.Books.Toward.Replacement.Parts.For.The.Brain.Implantable.Biomimetic.Electronics.Pdf.Ebook-Yyepg
Medical.Books.Trauma.E.Moore,.Et.Al.5Th.Edition
Medical.Books.Treating.Pediatric.Bed-Wetting.With.Acupuncture.&.Chinese.Medicine
Read more…

Làm sao để sống lâu và sống khỏe

00:38 |

Tất cả chúng ta đều có thể nâng cao tuổi thọ của mình. Bây giờ chỉ cần dành một chút thời gian lựa chọn những bí quyết và thực hiện bạn sẽ cảm thấy tất cả sẽ thay đổi.

Ai cũng biết vấn đề ăn uống không chỉ quyết định đến sự sinh tồn mà còn có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, tầm vóc, khí chất, tình cảm và tinh thần của con người. Tuy nhiên nếu ăn uống không đúng cách thì nhiều khi lại còn sinh ra bệnh tật. Vì vậy ngạn ngữ phương Đông đã có câu: “Bệnh từ miệng vào” hoặc “Tham thực cực thân”.

Vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta nên biết phương pháp ăn uống theo phép dưỡng sinh, tức là chọn lựa thức ăn, cách ăn cho phù hợp với sức khỏe, tuổi tác, bệnh tật để đạt được mục đích phòng và chữa bệnh, đảm bảo sức khỏe, sống lâu, sống có ích cho đời.

Để có tuổi thọ cao, chúng ta cần giải quyết hai vấn đề là chống mỡ máu cao khiến tim dễ ngừng đập và chống huyết áp cao.

Chúng ta cần phải nắm được tác dụng và hàm lượng các chất bổ có trong thức ăn thì chúng ta mới có được một bữa ăn dinh dưỡng:

1. Các loại hạt
Hạt có chứa nhiều tinh bột (ngũ cốc), chất xơ, protein và đặc biệt là nhiều khoáng tố như K, Na, Mg, Fe, Ca, axit folic, vitamin B và E rất có lợi cho sức khỏe. Hạt ngũ cốc gồm gạo, bắp, lúa mì, yến mạch, hướng dương, bí ngô, các loại đậu như đậu ván, đậu tây, đậu hà lan, đậu lăng, đậu lima, đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ, đậu trắng, đậu nành, đậu tương (đậu hủ, chao…).

+ Đặc biệt là ngô, còn được gọi là cây vàng vì trong ngô già có nhiều chất noãn ân chi, á dụ toan, cốc vật thuần, vitamin E chống cao huyết áp, xơ vữa động mạch (giáo sư Tề Quốc Lực sống ở Mỹ, rất khỏe, tuy đã trên 70 tuổi giọng nói vẫn vang vang, mặt không có nếp nhăn là do giáo sư kiên trì ăn cháo ngô 6 năm liền). Người Mỹ nguyên thủy, người da đỏ không bị cao huyết áp và xơ vữa động mạch là do họ ăn ngô.

+ Kiều mạch: ba hạ: huyết áp cao, mỡ máu cao, đường máu cao. Kiều mạch còn có 18% xenluylo khiến người ăn kiều mạch không bị viêm dạ dày, viêm đường ruột, chống ung thư trực tràng, ung thư kết tràng.

+ Các loại khoai: Khoai lang trắng, khoai lang đỏ, khoai tây, củ từ, chúng có 3 tác dụng - hấp thụ nước, làm trơn đường ruột khiến không bị ung thư trực tràng, ung thư kết tràng - hấp thụ mỡ và đường khiến không bị đái tháo đường - hấp thụ độc tố chống viêm dạ dày, viêm đường ruột.

+ Yến mạch: Làm hạ huyết áp, hạ mỡ máu.

+ Kê: Tác dụng: trừ thấp, kiện tỳ, trấn tĩnh, ngủ ngon. Không nên dùng thuốc an thần (ít nhiều đều có độc), thay vào đó nên ăn kê.

+ Đậu nành: Nhiều prôtêin, prôtêin của 1 lạng đậu nành bằng 2 lạng thịt nạc, bằng 3 lạng trứng gà, bằng 4 lạng gạo. Đậu nành là hoa của dinh dưỡng, là vua các loại đậu, trong đậu nành có chất dị hoàng đồng, tác dụng phòng, chống ung thư tuyến vú, ăn sáng bằng sữa đậu nành và óc đậu rất tốt.


2. Các loại rau tươi
Các nhà khoa học Ý đã chứng minh chỉ cần mỗi ngày ăn 1 chén rau sống là có thể tăng 2-5 năm tuổi thọ, vì trong rau tươi có chứa rất nhiều chất chống oxy hóa tế bào thuộc nhóm polyphenol, beta caroten, sinh tố A, B, và C đều là những chất có tác dụng phòng ngừa lão hóa và kháng ung thư.

Các nhà khoa học phân thành 5 nhóm rau tươi gồm:

- Rau nhiều lá có màu sẫm: ngò rí, rau mùi, bắp cải, rau diếp, xà lách xoong, cỏ linh lăng, rau mầm, mùi tây, hành lá, cải xanh, rau dền, rau ngót, rau muống…

- Rau dạng quả: cà chua, bí đỏ, bí xanh, mướp đắng, tiêu xanh, ớt chuông, cà tím, cà dĩa, dưa leo, đậu bắp…

- Rau dạng hoa: bông cải trắng, bông cải xanh, bông bí, bông so đũa, bông điên điển, bông thiên lý, bông artichaud, hoa cọ, bông hẹ, bông tỏi…

- Rau dạng cành, cuống: cần tây, măng tây, giá sống, nấm các loại như nấm rơm, nấm hương, nấm bào ngư, nấm kim châm, nấm mỡ, nấm mối, nấm mèo…

- Rau dạng rễ củ: củ cải đường, củ cải trắng, cà rốt, củ hành tây, củ tỏi, khoai lang, khoai tây, khoai sọ, khoai mỡ, củ sắn, hoàng tinh…

Ăn rau tươi tốt hơn rau nấu chín vì khi nấu chín sẽ bị mất khoảng 30% thành phần các chất có khả năng ngăn ngừa các loại ung thư. Chất xơ giúp làm giảm lượng cholesterol và đường trong máu, tốt cho hệ thống tiêu hóa và ngăn chận chứng ung thư ruột kết, tối thiểu nên ăn 200-300g chất xơ mỗi ngày

3. Các loại trái cây
- Vitamin A giúp ngăn ngừa cườm mắt, quáng gà, chống lão hóa da.

- Vitamin C tăng cường sức đề kháng, giúp các vết thương mau lành và làm tăng sự hấp thu chất sắt.

- Vitamin E giúp trẻ lâu. Trái cây còn chứa các đường đơn giúp cơ thể dễ hấp thu, nhiều axit hữu cơ giúp kích thích tiêu hóa, bồi bổ cơ thể.


Cà rốt: Có tác dụng dưỡng mắt, chống quáng gà, bảo vệ niêm mạc, dưỡng tóc, dưỡng da, dưỡng niêm mạc, ăn cà rốt nhiều ít bị cảm, nó còn chống bức xạ.

Bí đỏ: Kích thích tế bào tụy sản sinh ra insulin, thường xuyên ăn bí đỏ không bị đái tháo đường.

Mướp đắng: Tiết ra insulin, thường xuyên ăn mướp đắng không bị đái tháo đường.

Cà chua: Ăn cà chua sẽ không mắc ung thư nhưng cà chua ăn sống không có tác dụng; phải đun nóng cà chua mới tách ra được chất chống ung thư, vì vậy hãy ăn cà chua theo kiểu xào với trứng, nấu canh cà chua hay ăn canh trứng gà cà chua.

Tỏi: Là vua chống ung thư. Tỏi không được ăn nóng vì hết tác dụng. Phải thái nhánh tỏi thành từng lát, để từng lát trong không khí độ 15 phút, kết hợp với oxy, tỏi mới phát sinh ra chất tỏi hay đại toán tố chống ung thư. Tỏi được chứng minh có thể làm giảm cao huyết áp, ngăn ngừa ung thư và làm tăng hệ miễn dịch của cơ thể.

Có thể ăn trái cây ở nhiều dạng khác nhau:
- Dạng tươi hoặc nước ép tươi: cam, bưởi, nho, chanh, tắc, quýt, chanh dây, dâu tây, sơ ri
- Dạng quả thịt như chuối, xoài, đu đủ, dâu, thơm, dưa hấu, thanh long, me.
- Quả có hạt như táo, lê, mận, đào, mơ, mận, mộc qua, sung, vả, chà là, kiwi, lựu, ổi, nho.

Theo kết quả nghiên cứu của một nhóm bác sĩ thuộc Trung tâm y khoa Dallas, Đại học Southwestern (Texas), đã chứng minh sự kết hợp của vitamin A, C và E rất hiệu quả trong việc ngăn ngừa các bệnh tim mạch, bệnh ung thư và loạn dưỡng cơ bắp thịt, nhờ đó con người khỏe mạnh hơn.
Cách ăn trái cây tốt nhất là nên ăn trước các bữa ăn và chỉ nên ăn lúc dạ dày rỗng sẽ giúp sự hấp thu tuyệt đối.

Ăn nhiều loại trái cây và ăn đúng cách sẽ giúp làn da được cải thiện và trông trẻ hơn ít nhất 5 tuổi.

Nam giới trên 50 tuổi có nhiều nguy cơ mắc ung thư dạ dày hơn nữ giới. Vì thế, các bác sĩ khuyến cáo, nam giới nên bổ sung 18g xenluloza mỗi ngày. Bạn có thể chọn táo hoặc chuối vì trong 100g táo có chứa 14g xenluloza, còn trong 100g chuối là 8g xenluloza.

* Chuối chín (chuối tiêu, chuối sứ):
- Hàm lượng đường Sucrose, glucose, Fructose chiếm 20%.
- Các protein (2,7%) chính là: Albumin, globulin. Các acid amin cấu tạo protein là arginin, histidin, isoleusin, leucin, lysin, methionin, threonin, tryptophan, valin.
- Các acid amin tự do là arginin, acid aspartic, glutamin, aminobutyric, acid pipecolic, leucin.
- Các nguyên tố gồm: Ca, Fe, K, Mg, Na, P. Ngoài ra còn có một ít I, Al, Zn, Co, As.
- Các Vitamin A, B1, B2, B6, C …
- Các acid hữu cơ là acid malic, acid citric, acid oxalic.
- Các enzym gồm: Amylase, invertase, protease, catalase, peroxidase, lipase, oxygenase, phosphatase, oxidase.

Theo Đông y, quả chuối tiêu chín vị ngọt, tính rất lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, nhuận phế, chỉ khái, nhuận trường, giải độc. Chuối chín là nguồn dinh dưỡng tuyệt vời giúp phát triển và quân bình hệ thần kinh, giúp tăng trưởng xương và bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật. Rất tốt cho người tiêu hóa kém, thổ huyết, tăng huyết áp, phù tim, viêm thận.

Buổi trưa sau khi ăn còn hơi đói, tráng miệng bằng 1/4 trái dứa (100-200g). Nếu không ăn được thì ép lấy nước uống.

Dứa (Thơm, khóm):
Có tính giải khát sinh tân dịch và tiêu thực nhờ có bromelin, là một enzym thủy phân protein mạnh nên tiêu hóa được các thức ăn từ thịt, cá. Tác dụng của bromelin tương tự như papaine và pepsin. Ngoài công dụng tiêu thực tích, bromelin còn giúp tiêu viêm, giảm phù nề và làm tan máu bầm.

Buổi chiều sau khi ăn còn hơi đói, tráng miệng bằng 1/4 trái đu đủ nhỏ (100-200g).

* Đu đủ chín:
Có nhiều chất bổ dưỡng. Ngoài 80% là nước còn có 1% glucid, 0,6% protein và 0,1% lipid. Có các vitamin A, E, C... Quả đu đủ chín còn có các chất carotenoide, chủ yếu là cryptoxanthin 48%, carotenoid, beta-carotene 30% và cryptoflavine 13%, có tác dụng làm mát gan, nhuận trường, tiêu đờm, giải độc, tiêu thũng, an thần.

* Nghệ:
Người dân Ấn Độ có tỷ lệ mắc bệnh Alzheimer (chứng mất trí nhớ) thấp nhất thế giới (chưa đến 1% trong tổng số người có tuổi ngoài 65) . Theo nhiều nhà nghiên cứu, điều này là do người Ấn Độ thường dùng nghệ như một loại gia vị trong các món ăn. Ngoài ra, cũng không thể phủ nhận vai trò của các bài tập yoga, giúp cơ thể giảm căng thẳng, đẩy lùi nguyên nhân gây bệnh.



4.Sữa chua
Ăn thêm sữa chua hoặc uống sữa có bổ sung men vi sinh, giúp cân bằng hệ tiêu hóa và phòng chống táo bón ở người cao tuổi, đồng thời cũng đảm bảo lượng calci cho cơ thể, chống loãng xương, vì vậy mỗi ngày nên ăn thêm 1 cốc sữa chua.

5. Cá
Trong bữa ăn của người Nhật có rất nhiều cá, như cá Hồi và các loại hải sản, chúng rất giàu protein, không có năng lượng dư thừa. Cá không những giúp tránh được nguy cơ mắc bệnh tim mạch mà còn rất giàu omega3, rất tốt cho da.
- Dầu cá là một sản phẩm tốt có tác dụng bảo vệ não bộ và thị lực của bạn.

6. Chocolate
Thường xuyên ăn chocolate cũng giúp kéo dài tuổi thọ. Chocolate chứa chất phenol, giúp bảo vệ cơ thể khỏi các bệnh tim mạch và ung thư.








+ Cũng như thức ăn, chúng ta cũng cần phải nắm được tác dụng và hàm lượng các chất bổ có trong các loại nước uống:

Trà xanh:
Có chất trà đa phân có khả năng chống ung thư cộng flour làm bền răng, tiêu diệt vi khuẩn, chữa được sâu răng, chất trà cam ninh nâng cao độ bền huyết quản, làm cho huyết quản và mạch máu não khó bị vỡ; chống bức xạ.

Rượu vang đỏ
Trong vỏ quả nho có chất nghịch chuyển thuần, tác dụng chống suy lão, chống oxy hóa, chống bệnh tim, phòng tim ngừng đập đột ngột (đột quỵ), ngoài ra rượu vang đỏ còn làm hạ huyết áp, hạ mỡ máu, nhưng với rượu vang đỏ, mỗi ngày cũng không được uống quá 50 - 100 cc, cần lưu ý: ăn quả nho đỏ chỉ rửa sạch và ăn cả vỏ, nho trắng và rượu trắng không có tác dụng trên mà còn gây chứng làm đặc máu; với rượu trắng, mỗi ngày không được uống quá 5 - 10 cc.


Sữa đậu nành
Có chứa đường quả khiến cơ thể có thể hấp thụ 100%, ngoài ra còn kali, magnesium, calci (hàm lượng calci nhiều hơn trong sữa bò), chất dị hoàng đồng chữa ung thư vú, ung thư trực tràng, ung thư kết tràng; theo giáo sư, muốn phòng chống ung thư, nhất thiết phải uống sữa đậu nành.

Sữa chua: duy trì cân bằng vi khuẩn.

Canh xương: có chất uyển giao tốt cho cơ thể.

Canh nấm: nâng cao khả năng miễn dịch.

Các bác sĩ Rumani đã đề ra 4 phương pháp ăn uống hợp lý sau:

1. Bữa ăn phải diễn ra trong bầu không khí hào hứng, yên tĩnh, ấm cúng, vui vẻ để giúp thức ăn được tiêu hóa tốt và hấp thu dễ dàng hơn.

2. Tôn trọng tuyệt đối giờ ăn và phân phối hợp lý lượng thức ăn cho các bữa. Đối với người Việt Nam: Lấy bữa sáng làm bữa ăn chính (6-7 giờ) chiếm 30% khẩu phần ăn cả ngày; Buổi trưa (11-12 giờ) 25% và buổi chiều (17-19 giờ) 25%.

3. Thức ăn phải thật phong phú, bao gồm cả thực phẩm động vật và thực vật. Với người Việt Nam, tùy vào sở thích của mỗi người mà chọn lựa thức ăn, miễn sao hợp lý. Nên thay đổi thực đơn liên tục để điều hòa ngũ vị, có đủ chất bổ và chất vi lượng.

4. Thức ăn không được vượt quá nhu cầu của cơ thể. Nên ăn uống từ tốn, điều độ, chỉ ăn lúc đói và không bao giờ ăn quá no.

Ăn: Buổi sáng sau khi ăn còn hơi đói, tráng miệng bằng 2 trái chuối chín.

Các thói quen ăn uống tốt mà chúng ta cần quan tâm:

- Ăn chậm, nhai kỹ: cần nhai thức ăn tối thiểu 30 lần trước khi nuốt. Trong khoang miệng, nhờ các men có trong nước miếng, quá trình tiêu hóa ban đầu sẽ diễn ra. Nó phát huy tác dụng giúp giảm bớt gánh nặng cho dạ dầy và cải thiện quá trình cơ thể tiêu hóa các dưỡng chất.

- Ăn ít thịt vừa có thể giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh ung thư và tim mạch, vừa có thể giúp nam giới tăng cường dương khí, đó là lời khuyên của các nhà khoa học Mỹ thuộc đại học Pennysylvaina.

- Giảm thiểu cholestorol: các biện pháp như cai thuốc lá, giảm cân, ăn ít dầu mỡ… đều có thể làm giảm lượng cholesterol trong cơ thể, từ đó thúc đẩy khả năng tuần hoàn máu, nâng cao chất lượng sống.

- Đừng quá lạm dụng các thực phẩm có thành phần rau quả tại các siêu thị:
Theo các nhà khoa học của trường ĐH Boston, Mỹ, đa phần các nhà sản xuất không có nhiều chủng loại rau quả để tạo nên sự khác biệt trong các sản phẩm của họ như đã quảng cáo.

Thêm vào đó, thời gian bảo quản càng lâu thì các vitamin trong các rau quả chế biến sẵn càng bị mất đi. Rau quả tươi luôn là nguồn cung cấp dồi dào các vitamin và chứa ít calo.

- Không bao giờ ăn quá no, chỉ đạt đến 80% sức chứa của dạ dày.
Người Pháp thường ăn nhiều chất béo bão hòa, hút thuốc nhiều. Thế nhưng, tỷ lệ mắc bệnh tim của họ chỉ bằng 1/3 người Anh. Điều này bắt nguồn từ cách ăn uống rất chừng mực của người Pháp. Họ không ép mình ăn uống kiêng khem mà dùng một lượng vừa đủ, chủ yếu là thưởng thức hương vị. Do vậy, ta có thể giải thích được vì sao người Pháp lại có vóc dáng mảnh mai nhất châu Âu. Ngoài ra, thói quen uống một chút rượu vang mỗi ngày cũng giúp cho người Pháp hạ huyết áp, từ đó giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch.

- Ăn các thực phẩm ít năng lượng (75-150 cal trên 100g) nhưng giàu vitamin và khoáng chất như ngũ cốc, các thực phẩm chứa tinh bột như gạo, khoai tây, bắp… dưới dạng hấp, luộc; các loại lê ghim, nhất là dưa leo. Ăn các loại cá, sò ốc tôm cua. Ăn ít các loại thịt động vật như gà vịt (không ăn da), trứng, thịt ngựa, thịt bít tết.

- Ăn nhiều đậu nành:
Ngày nay, có rất nhiều bằng chứng cho thấy, tỷ lệ người dân mắc bệnh ung thư vú, tuyến tiền liệt, ruột kết ở Trung Quốc thấp hơn nhiều so với các nước khác. Lý do chính là bữa ăn của người Trung Quốc luôn có hàm lượng đậu nành cao. Một số kết quả nghiên cứu khoa học ở Trung Quốc cho thấy, những người có thói quen dùng nhiều đậu nành trong các bữa ăn và trong thời gian dài sẽ giảm được ½ nguy cơ mắc bệnh ung thư vú và ung thư ruột kết so với những người ít dùng đậu nành hơn. Nhiều người Trung Quốc còn thay thế thịt và các sản phẩm bơ sữa bằng các thực phẩm chế biến từ đậu nành. Điều này có thể tạo cho họ một “vỏ bọc” chắc chắn để chống lại bệnh ung thư.

Giáo sư Colin Campell, tác giả cuốn The China Study, giải thích: “Bữa ăn của người Trung Quốc thường rất ít đạm động vật, yếu tố làm tăng lượng hormone luân chuyển. Nếu lượng hormone này tăng cao, chúng sẽ dẫn đến việc phát triển những tế bào ung thư. Vì vậy, protein động vật là thủ phạm đẩy mạnh tiến trình ung thư. Nếu bạn có thể hạn chế ăn thịt như người Trung Quốc, nguy cơ mắc bệnh ung thư sẽ giảm đi đáng kể”.

- Mỗi ngày ăn nhiều khẩu phần rau quả để vừa cung cấp đầy đủ vitamin, muối khoáng, chất chống oxy hóa, chất sợi, nước nhưng ít calori và đỡ chán.

Cụ thể mỗi ngày, chỉ cần:

- Uống 100 – 200ml sữa trước khi đi ngủ + 1 viên vitamin C, 1 viên vitamin B tổng hợp. Nếu chưa quen tiêu hóa sữa tươi thì tạm thay bằng sữa chua hoặc sữa đậu nành (tuy hàm lượng canxi trong sữa đậu nành chỉ bằng một nửa trong sữa bò). Nhờ uống “một túi sữa bò mỗi ngày” mà người Nhật ngày nay đã cao bằng người Âu, Mỹ chưa nói đến tác dụng làm tăng trí thông minh, tăng sức đề kháng, chống các bệnh nhiễm khuẩn.
- Ăn 200g bột. Hạn chế khẩu phần bột là biện pháp giảm béo tức là giảm các tai biến tim mạch. Nên uống canh trước khi ăn cơm, khiến ta ăn chậm hơn, ăn ít hơn bình thường, dạ dày không quá căng, dáng người thon thả, nhanh nhẹn và khỏe mạnh.
- Vẫn ăn thịt, ăn trứng được nhưng chỉ nên ăn 1/3 lượng bình thường. Ăn thoải mái thì lại có hại, nhất là với người cao tuổi.
- Nên thường xuyên áp dụng “chế độ ít nhiệt lượng”. Nên ăn thức thô – mềm – không ngọt – không mặn (như: ngô bung, khoai lang luộc, cháo loãng 1 – 2 bữa/tuần); nên ăn thêm 2 bữa phụ mỗi ngày.
- Ăn chừng 400g rau xanh + 100g quả chín. Ăn nhiều rau quả tươi giảm được rất nhiều bệnh ung thư. Những người tính trầm mặc, hay phiền muộn mỗi ngày nên ăn 1 quả ớt chín đỏ (chọn loại ớt không quá cay).
- Ăn sống 1 quả cà chua chín mỗi ngày sẽ giảm được 50% số trường hợp viêm hoặc ung thư tuyến tiền liệt.
- Mỗi ngày uống 50 – 100ml rượu nho đỏ, rượu nếp cẩm (có màu đỏ tím phòng được bệnh xơ cứng động mạch).
- Nên ăn các loại rau, củ, quả có màu vàng, màu đỏ: cà rốt, dưa hấu, khoai lang đỏ, bí ngô, ngô hạt.
- Mỗi sáng ăn một bát cháo yến mạch hoặc ăn bánh làm bằng bột yến mạch.
- Ăn 5 – 10g mộc nhĩ đen mỗi ngày (xào, nấu canh, đúc chả trứng) hoặc lấy 10g mộc nhĩ đen, 50g thịt nạc, 3 lát gừng, 5 quả táo đen đem sắc lên (như sắc thuốc), thêm ít muối, rồi ăn, ăn liền trong 45 ngày. Ở mức bình thường, mộc nhĩ đen giúp máu lưu thông toàn thân và lên não đầy đủ hơn nên duy trì được trí nhớ, vận hành tốt các bộ phận, các giác quan của cơ thể.


- Ăn nhiều gia vị, thực phẩm chức năng và tảo: các gia vị cung cấp tính chất kháng sinh chống vi khuẩn và phòng ngừa sự hình thành cholesterol xấu. Còn tảo chứa nhiều muối khoáng, sợi, vitamin và chất chống oxy hóa và cũng là chất chống lại sự hình thành cholesterol.

- Ăn Chocolate: chocolate (bao gồm 70% là cacao) là một dạng thực phẩm phức hợp, có rất nhiều chất ngăn ngừa sự lão hóa. Mỗi ngày chỉ cần sử dụng vài thìa thì tim mạch của bạn cũng sẽ trở nên khỏe khoắn hơn (nhưng bạn cũng nên chú ý tới nhiệt lượng mà chocolate mang lại)

- Hạn chế ăn thịt đỏ: bạn càng ăn ít thịt đỏ thì càng trẻ lâu, đó là nhận định của các chuyên gia dinh dưỡng. Tập trung vào việc ăn nhiều rau quả và ngũ cốc nguyên hạt để cải thiện sức khoẻ của bạn bằng chế độ ăn uống. Một chế độ ăn chay cân bằng sẽ cắt giảm nguy cơ gây béo phì, bệnh mạch vành, huyết áp cao, tiểu đường và ung thư.


Sau nhiều năm nghiên cứu thực tế các trường hợp sống trên trăm tuổi và thực nghiệm trên đàn chuột, các nhà khoa học Mỹ (Đại học Michigan) đã đi đến kết luận: nếu ăn ít hơn, cuộc sống của chúng ta có thể kéo dài thêm một phần ba thời gian. Cụ thể, những người áp dụng thực đơn trong giới hạn 1.400-2.000 kcal/ngày sở hữu trái tim trẻ hơn 15 năm so với tuổi khai sinh.

Cần thiết kế thực đơn một cách hợp lý. Trong thành phần trước hết phải giàu chất xơ (ngũ cốc, rau xanh, hoa quả). Lưu thông qua hệ tiêu hóa, chất xơ phát huy tác dụng điều chỉnh chức năng ruột. Hệ quả, chất xơ làm giảm thiểu nồng độ cholesterol xấu và hạ thấp độ đường trong máu.


- Một ly rượu vang đỏ cho bữa trưa: rượu vang đỏ chứa số lượng lớn flavonoid, resveratrol. Những hợp chất phát huy tác dụng phòng ngừa viêm nhiễm, hạ thấp nồng độ cholesterol và ngăn ngừa ung thư. Nhờ thế máu có độ nhớt vừa phải, không bị nguy cơ máu vón cục. Resveratrol cũng có dạng viên tổng hợp. Một viên có liều lượng tương đương một chai rượu vang 0,70 lít.

- Uống nước chè tươi: (100g lá chè tươi pha với 2 lít nước sôi) uống cả ngày. Không nên uống buổi tối vì sẽ bị mất ngủ.

- Uống nóng để giải khát, kích thích tiêu hóa.
- Thông tiểu nhờ caféin, théophyllin và muối kali.
- Giải độc nhờ tanin, tăng cường sinh lực.
- Uống nước chè tươi pha 3 lát gừng tươi giúp làm ấm tỳ vị, ngừa bệnh tim mạch, làm hưng phấn thần kinh.
- Chè tươi có nhiều chất chống oxy hóa, chống lão hóa.




- Uống thêm tảo mặt trời Spirulina
Hàm lượng cao các chất chống oxi hóa trong Tảo Mặt trời như phycocyanin, chlorophyll… giúp hỗ trợ các cơ quan giải độc như gan, thận đào thải các chất độc trong cơ thể tốt hơn, tăng cường hệ miễn dịch, giúp giảm gánh nặng cho đường tiêu hóa, làm chậm quá trình lão hóa.

Mặt khác Tảo Mặt trời không chứa đường, chất béo, chất bột mà chỉ có một số axít béo có lợi cho cơ thể nên có thể nói Spirulina là một thực phẩm hoàn hảo cho con người.

- Hạn chế dùng thuốc giảm đau
Trong một cuộc điều tra mới đây của các nhà nghiên cứu thuộc đại học Harvard (Mỹ) với 16.000 nam giới tham gia đã cho kết quả như sau: Những người thường xuyên sử dụng thuốc giảm đau aspirin có nguy cơ cao huyết áp lên tới 38%. Vì vậy, bạn chỉ nên dùng thuốc giảm đau trong trường hợp cần thiết, tốt nhất nên tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi dùng.

- Không sử dụng thuốc giảm cân
Theo một nghiên cứu mới đây của trường ĐH Georgetown, Mỹ các loại thuốc giảm cân có chứa thành phần chính là citrus auratinum (một giống cam đắng) và cây ma hoàng sẽ làm nhão cơ bắp, tăng huyết áp và trong nhiều trường hợp sự tương tác của chúng với các loại thuốc khác có thể gây hại cho cơ thể. Vì vậy, hãy ăn uống lành mạnh và tập luyện để giảm cân.

- Bảo vệ men răng của bạn:
Bằng cách hạn chế các đồ uống có chứa acid citric như soda, nước ngọt có gaz hoặc các loại nước hoa quả đóng hộp. Các chất phụ gia trong những thức uống này thậm chí còn tác hại đến răng của bạn hơn cả đường. Chúng làm tăng nồng độ acid trong miệng bạn và phá hủy lớp men trắng.

Các thói quen sinh hoạt tốt mà chúng ta cần quan tâm:

Ăn chậm nhai kỹ:
Ăn một cách nhanh chóng sẽ làm bạn hấp thu thêm trung bình 100calo trong mỗi ngày. Ăn nhanh làm cho cơ thể tiết ra lượng axit tiêu hóa quá lớn, dễ làm tổn thương dạ dầy.

Kiểm tra răng định kỳ: 
Các nhà nghiên cứu trường ĐH Granada (Tây Ban Nha) nhận thấy, chất lượng của “bộ răng” có ảnh hưởng rất lớn đến các bệnh của nam giới trong đó có bệnh hói đầu. Vì vậy để đảm bảo cho mình có một cơ thể khoẻ mạnh, nam giới nên thường xuyên đến phòng nha sĩ để kiểm tra răng định kỳ.

Làm sạch kẽ răng: hãy làm việc này mỗi ngày. Nếu không, những vi khuẩn sống trong răng có thể phát triển và sinh sôi nhiều hơn. Nuốt các vi khuẩn này vào sẽ có nhiều nguy cơ bị bệnh tim mạch.

Sử dụng chỉ nha thường xuyên: giúp cho cơ thể bạn giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch – theo các nghiên cứu của đại học Case Western Reserve. Thói quen dùng chỉ nha khoa ngăn ngừa các bệnh về nướu – bệnh có thể dẫn đến các chứng viêm, nhiễm trùng và khiến cho các vi khuẩn có hại dễ dàng xâm nhập vào đường máu và gây nên bệnh tim.

Kiểm tra sức khỏe thường xuyên, định kỳ
Những chuẩn đoán bệnh tật từ sớm sẽ giúp bạn có những hành động tốt hơn. Ở mọi lứa tuổi và nhất là tuổi tác càng cao thì việc kiểm tra càng trở nên quan trọng.

Ngủ:
Giấc ngủ giúp phục hồi thần kinh, chống mệt mỏi, tái tạo sức khỏe. Khi đi ngủ thì bỏ ưu phiền để có giấc ngủ ngon, ngủ sâu, ngủ đủ giấc, đủ giờ. Nên ngủ tối, đèn phải tắt hết. Trừ người bệnh tiểu đường vì mắt đã kém nên phải có ánh sáng trong phòng ngủ.

Từ thập niên 1950, người ta đã biết đến tính an thần của Melatonin và ngày nay nó được nhắc đến rất nhiều như một loại thuốc trường sinh. Melatonin là nội tiết tố của tuyến tùng trong não, có công thức hóa học là N-acetyl-5-methoxytryptamine. Chất này được tiết ra nhiều nhất vào ban đêm trong giấc ngủ, khi mắt không nhận được ánh sáng. Vì vậy chúng ta nên ngủ không có ánh sáng đèn.

Giấc ngủ sâu và thoải mái: không ít người cho rằng những người lớn tuổi nên ngủ ít hơn. Quan niệm đó là hoàn toàn sai vì người lớn ở bất kỳ độ tuổi nào cũng nên ngủ 7- 8 tiếng mỗi ngày. Tuy nhiên vì có tuổi nên những người già thường khó chìm vào giấc ngủ hơn. Để có giấc ngủ sâu và thoải mái, bạn không nên uống cà phê hay rượu trước lúc đi ngủ một vài giờ. Hãy thư giãn cơ thể và tránh các yếu tố gây căng thẳng hoặc đòi hỏi sự tỉnh táo. Bạn có thể sử dụng một chiếc ga trải gường mềm mại trong một không gian yên tĩnh để chất lượng của giấc ngủ được tốt hơn. Nếu bị mất ngủ, nên áp dụng các phương pháp điều trị không dùng thuốc trước, nếu không hiệu quả mới dùng đến thuốc an thần.

Thật ra, ngủ quá nhiều không có lợi cho sức khỏe mà còn giảm tuổi thọ trung bình. Một nghiên cứu về giấc ngủ và những tai biến tim mạch tại Mỹ cho thấy ở nhóm tuổi từ 50-59 ngủ 10 giờ mỗi đêm có số tử vong cao hơn gấp 4 lần những người ngủ từ 7 giờ mỗi đêm. Còn ở nhóm tuổi 60-69, những người ngủ 10 giờ mỗi đêm có tỷ lệ tai biến về tim mạch gấp đôi những người ngủ 7 giờ mỗi đêm. Lý do ngủ nhiều ít vận động nên dễ bị xơ vữa động mạch mà bệnh này chính là yếu tố thúc đẩy cho nhiều bệnh tim mạch nguy hiểm khác như cao huyết áp, thiếu máu cơ tim, tai biến mạch máu não.

Nhưng ngủ ít hơn 4 giờ cũng chẳng sống thọ được bao lâu vì những người thiếu ngủ thường bị bệnh tiểu đường và áp huyết cao. Tóm lại, những người có giấc ngủ trong khoảng 6 - 7 giờ mỗi đêm có tuổi thọ khá cao.

Bảo vệ đôi chân của bạn
- Bằng cách luôn thoa kem chống nắng mỗi khi bạn mặc quần short hoặc váy ở ngoài trời nắng. Bạn thường không để ý đến đôi chân của mình, nhưng trên thực tế, các khối u hắc tố dưới da thường xuất hiện ở chân và đặc biệt là mặt sau của chân, nơi bạn nghĩ là ít bị phơi nắng nhất.
- Hãy thường xuyên kiểm tra đôi chân của bạn và hãy đến bác sĩ nếu bạn phát hiện những đốm lạ, sẫm màu hoặc có màu sắc khác lạ.
-Áp dụng cách chữa bệnh tự nhiên như bằng nước khoáng và tắm hơi. Thuỷ liệu pháp có nhiều lợi ích giảm stress, làm cho da mềm mại.

Tắm nắng 10 phút mỗi ngày
Khi thiếu vitamin D, cơ thể của nam giới sẽ có các triệu chứng như bong da, giảm ham muốn tình dục, chân tay mỏi mệt, đau cơ… Việc tắm nắng 10 - 15 phút mỗi ngày ( tốt nhất là vào buổi sáng ) sẽ giúp tăng cường lượng vitamin D cho cơ thể.

Tăng cường tập luyện các cơ vùng chậu



Việc chăm chỉ tập luyện các cơ vùng chậu sẽ giúp nam giới cải thiện chức năng của các bộ phận sinh dục như bàng quang, dương vật… Từ đó giúp ngăn ngừa nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến tuyến tiền liệt.

Vận động thân thể (đi bộ nhiều)

Hãy dậy sớm và tập thể dục! Tập thể dục không chỉ giúp duy trì thể trọng lý tưởng mà còn có lợi cho hoạt động tim mạch (giảm nguy cơ như cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, bệnh khớp,..)củng cố xương và làm tăng endorphin, hormon năng lượng của cơ thể. Không chỉ có thế, thể dục còn làm cho cuộc sống thú vị hơn, loại bỏ stress và nhiều bệnh tật nguy hiểm. Thực tế chứng minh, những người tích cực vận động cơ thể sẽ khỏe mạnh hơn và sống thọ hơn. Trong đó, đi bộ là phương pháp luyện tập sức khỏe tốt nhất đối với mọi lứa tuổi. Khoa học đã tổng kết, đi bộ làm cho động mạch từ cứng biến thành mềm, tuần hoàn máu tăng, khỏe gân cốt, đồng thời làm giảm lượng mỡ và cặn bã trong máu. Mỗi lần đi bộ ít nhất 3km, mỗi tuần đi bộ ít nhất 5 lần.

- Đi bộ: bước đều, hai tay đánh mạnh, thở ra, mỗi buổi sáng đi 45 phút. Tập tại chỗ các động tác tay, chân, gót, lưng, bụng, cổ, vai, gáy (như bài Thái cực quyền, Bát đoạn cẩm...) trong 15 phút, đều đặn 5-6 ngày trong tuần.

Việc tập thể dục thường xuyên có thể là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến tuổi thọ của bạn. Theo một nghiên cứu tại trường Đại học Pittsburgh (Mỹ), các bài tập có thể tăng thêm từ 3 đến 5 năm tuổi thọ cho mỗi người.
Một nghiên cứu khác tại trường Đại học McMaster cho thấy, vận động thường xuyên sẽ giúp trẻ hóa hệ thống cơ bắp ở những người sống thọ.

Đi dạo ngoài trời
Đây là cách hữu hiệu để làm cho tinh thần của bạn sảng khoái, phấn chấn, đặc biệt là đi dạo vào những ngày trời nắng đẹp.
Một nghiên cứu mới của trường ĐH Michigan cho thấy nếu bạn đi dạo ngoài trời khoảng 30 phút vào những ngày nắng đẹp có thể giúp bạn tăng trí nhớ và nảy sinh những ý tưởng tốt.
Nghiên cứu này cũng cho thấy những người phải ngồi trong nhà nhiều dễ cảm thấy trì trệ, chán nản.

Cười thật nhiều


Tiếng cười là đặc điểm riêng chỉ con người mới có, là một yếu tố sức khỏe, một phương pháp trị liệu có hiệu quả. Nhiều trung tâm y học trên thế giới đã áp dụng phương pháp trị liệu: tiếu liệu pháp - điều trị bằng tiếng cười. Trong dân gian thường nói “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”. Cười làm giảm các hormon gây stress như adrenalin và cortison, đồng thời làm tăng tiết endorphin - hormon kích thích tuần hoàn máu. Cười là bạn tốt của trái tim. Cười đẩy lùi trầm uất. Cười đặc biệt tốt cho đường hô hấp và đường tiêu hóa. Cười tránh được rất nhiều bệnh: thiên đầu thống, đau lưng, viêm khớp, táo bón, ung thư dạ dày, ruột vì khi cười tuần hoàn phát triển. Không thể phủ nhận chân lý: người coi trọng tiếng cười sẽ sống lạc quan hơn, từ đó tuổi thọ được kéo dài hơn những người tối ngày chỉ mang bộ mặt sầu thảm!

Hệ đề kháng khỏe mạnh có tác dụng kéo dài tuổi thọ. Nó loại bỏ tình trạng viêm nhiễm bên trong cơ thể và ngăn ngừa khả năng xuất hiện các khối u. Các nhà khoa học Mỹ đã khám phá ra chi tiết hết sức thú vị: cười phát huy khả năng kích thích hoạt động của hệ miễn dịch. Niềm vui làm gia tăng sản xuất tế bào đề kháng trong cơ thể - đội quân bảo vệ chúng ta trước các bệnh lây nhiễm và ung thư. Nụ cười cũng dẫn đến việc tạo ra hoóc-môn hạnh phúc endorfin trong não bộ. Vậy hàng ngày nên đọc vài ba mẩu chuyện cười hoặc dành thời gian thích hợp xem phim hài.

Ngồi chồm hỗm
Trước khi cười lớn vì lý do này, bạn nên biết rằng việc ngồi chồm hỗm giúp giảm nguy cơ ung thư trực tràng và hậu môn.

Giữ cho xương sống của bạn thẳng đứng
Đây là cách đơn giản để chống lại chứng đau lưng và mỏi cổ. Nó cũng duy trì sự săn chắc của cơ bắp.
Nếu công việc của bạn phải ngồi suốt 8 tiếng, thỉnh thoảng hãy đứng dậy và vận động nhẹ trong vòng 2 - 3 phút để giãn cơ bắp.

Sinh hoạt tình dục
Việc sinh hoạt tình dục đều đặn không chỉ tăng hưng phấn mà cũng rất tốt với các vùng cơ trong cơ thể. Sự gia tăng các hormone xảy ra trong quá trình hưng phần và cực khoái sẽ tập luyện cho bạn cảm giác bình tĩnh, sự gia tăng nhịp tim và lượng máu sau khi lên đỉnh là rất tốt cho các cơ quan cũng như hệ tuần hoàn trong cơ thể.

Theo các nhà khoa học Australia, sinh hoạt đều đặn trong vòng 1 tuần trước kỳ rụng trứng của nữ giới, có thể giúp nam giới cải thiện được chất lượng tinh binh của mình.

Các nhà nghiên cứu tại đại học Queens (Anh) đã theo dõi khoảng 1000 đàn ông ở lứa tuổi trung niên trong hơn 10 năm liền, thấy rằng những người thường xuyên ân ái và lên đỉnh có xu hướng sống lâu hơn gấp đôi những người không “thú vui” này.

- Với người Nhật Bản, kết hôn cũng là một trong những bí quyết để họ sống thọ hơn, đặc biệt là với những người có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Phụ nữ kết hôn, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ còn có thể tránh được nhiều căn bệnh nguy hiểm như ung thư, tim mạch.

Để vòng 3 phát triển
Một nghiên cứu của Đại học Oxford, Anh cho thấy, những người phụ nữ có thân hình quả lê – to phần hông, mông và đùi – thường ít bị bệnh về tim mạch và các bệnh liên quan đến quá trình trao đổi chất trong cơ thể. “Hình thể rất quan trọng, nó quyết định mỡ sẽ tập trung ở đâu.”
Mỡ tập trung ở hông và phía sau sẽ hút các loại axit béo có hại, ngăn ngừa nghẽn động mạch.
Mỡ ở xung quanh hông và đùi tốt cho bạn hơn là mỡ ở gần bao tử. Mỡ ở gần bụng sẽ dẫn đến nguy cơ bị bệnh tim cao hơn. Nghiên cứu cũng cho thấy, gen di truyền có góp phần quyết định mỡ sẽ tập trung ở đâu trên cơ thể.

Không để ví tiền ở túi sau
Có một loại bệnh được các nhà khoa học đặt tên là “bệnh do ví tiền”. Sở dĩ có tên như vậy là vì khi ngồi làm việc hay trong khi lái xe, nếu để ví tiền ở túi sau, nó sẽ chèn lên các dây thần kinh khiến bạn cảm thấy đau, tê ở chân và đùi. Tình trạng này nếu kéo dài có thể ảnh hưởng đến dây thần kinh ở cột sống, là một trong nguyên nhân gây bệnh đau lưng mãn tính.

Làm việc gần các loại cây, hoa
Các loại cây, hoa có tác dụng trang trí này sẽ giúp làm giảm căng thẳng, bệnh tật và tăng hiệu quả làm việc hơn bởi chúng hấp thụ những khí độc xung quanh bạn.

Học chơi đàn
Âm nhạc cũng là một giải pháp hữu hiệu cho sức khỏe và những người biết chơi một loại nhạc cụ nào đó thường có tuổi thọ cao hơn những người khác.

Việc ăn uống, tập luyện tùy theo cơ địa của mình mà thực hiện, không nên bắt chước người khác, vì âm dương, hàn nhiệt, khí huyết của mỗi người khác nhau.

Chú ý an toàn
Nguyên nhân chủ yếu gây ra tử vong là các sự cố. Đặc biệt chú ý đừng quá liều lĩnh khi chạy xe. Chậm một chút, nhường xe khác đi trước. Chỉ vì giảm bớt vài phút mà đặt mình trong tình trạng nguye hiểm thì thực sự không đáng.

Không gian sống trong lành
Nơi bạn sống sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ của bạn. Khí trời bạn hít thở mỗi sáng ngủ dậy, thực phẩm địa phương mỗi ngày bạn ăn, không gian sống để mỗi ngày bạn làm việc và vận động…, tất cả đều liên quan đến lối sống của bạn, và quyết định việc bạn có bị stress hay không, có cần thường xuyên dùng đến thuốc hay không. Theo đó, những vùng đồng quê, nông thôn, vùng biển, hay vùng núi yên tĩnh với không khí trong lành chính là không gian sống lý tưởng nhất để bạn kéo dài tuổi thọ. Theo các nghiên cứu thì vùng Hawaii, Minnesota và Utah ở Mỹ là nơi người dân có tuổi thọ cao nhất. Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng nước Ý và phía Bắc Costa Rica cũng là những vùng đất có thể giúp người dân sống lâu hơn.

Có trạng thái tâm lý tốt



Đảo Symi có tỷ lệ người dân sống thọ trên 100 tuổi cao nhất châu Âu. Được vậy không chỉ vì họ thường dùng dầu ôliu, ăn cá hay vì họ bước hàng trăm bậc thang mỗi ngày, mà là vì người dân ở đây sống rất vô tư và họ thậm chí không đóng cửa khi ngủ. Ở Symi hầu như không có tệ nạn trộm cắp. Nếu như điều gì chẳng hay xảy ra, họ cũng không quan trọng hóa vấn đề. Ngoài ra, lúc gặp chuyện phiền muộn, họ sẽ dễ dàng giải tỏa cảm xúc. Điều này giúp giảm stress và rất có lợi cho sức khỏe.

. Biết cách giảm Stress
Stress là một khái niệm bao gồm mọi tác nhân có khả năng gây ra trạng thái căng thẳng về tinh thần. Khi bị căng thẳng, cơ thể sẽ sản sinh ra chất cortisol (được gọi là hormone căng thẳng). Cortisol gây ức chế quá trình tái tạo tế bào mới, làm suy yếu hệ miễn dịch, làm tăng tốc độ lão hoá của cơ thể.

Mỗi người đều bị stress với mức độ nặng nhẹ khác nhau, nhưng không phải ai cũng biết quản lý nó! Trên thực tế, bản thân vấn đề rắc rối không gây căng thẳng nhưng phản ứng của chúng ta đã tạo nên cảm giác căng thẳng cho chính mình. Chẳng hạn như, nếu bạn đang bị mắc kẹt trong giao thông , thay vì bực tức và khó chịu, bạn hãy lắng nghe nhạc trên đài phát thanh hoặc ngồi thư giãn. Bạn sẽ nhận được lợi ích sức khoẻ tuyệt vời từ những hành động đơn giản ấy mà không gây căng thẳng cho mình. Chìa khóa là phải nhận thức được các vấn đề lớn trong đời sống của bạn và biết cách giảm nhẹ chúng.

Một nghiên cứu của Trường đại học Y khoa John Hopkins (Mỹ) thực hiện năm 2009 cho thấy, những người tỏ ra giận dữ khi gặp stress dễ bị bệnh tim gấp 3 lần, thậm chí 6 lần nếu ở tuổi 55 so với những người ít cáu giận. Sở dĩ như vậy vì khi cáu giận huyết áp dễ tăng cao.

Các biện pháp giảm stress:
- Sống lạc quan ít phiền muộn: tất cả những yếu tố tâm lý bất ổn như thất vọng, tinh thần sa sút, bi lụy, đố kỵ, lo lắng, bi quan nếu lặp đi lặp lại hoặc kéo dài đều gây tổn hại đến sức khỏe. Nhiều nghiên cứu cho thấy, người sống lạc quan giúp giảm được tỷ lệ chết sớm xuống 50% so với người bi quan. Kết quả rất đáng quan tâm: người sống lạc quan yêu đời ít bị stress hơn, biết cách xoay xở trước những bất hạnh theo hướng tích cực nên từ đó sức khỏe sẽ ít bị tổn hại hơn. Và, người sống lạc quan có huyết áp thấp hơn người bi quan.

- Tĩnh tâm: sự tĩnh tâm giúp con người có tâm trạng thư thái, yên bình hơn. 15 phút tĩnh tâm gây hiệu quả thư giãn đầu óc nhiều hơn 1 giờ ngủ sâu. Hoặc là, bắt đầu một ngày mới với bài tập tĩnh tâm khoảng 2 phút thôi cũng đem đến các lợi ích không nhỏ. Ngồi thẳng người và cố gắng giữ “trống” đầu óc bằng cách chỉ tập trung nghĩ đến một từ duy nhất nào đó.

- Nên xây dựng một nhân sinh quan đúng đắn phù hợp với lý tưởng cao đẹp. Tránh những tính toán vụn vặt, những ham muốn vật chất quá mức, ham muốn danh lợi, địa vị, vị kỷ, những lo âu căng thẳng triền miên rất có hại cho sức khỏe. Không tranh đua, không tham vọng, sống bình dị, không tạo áp lực lớn cho mình cũng là một cách điều hoà thần kinh, khiến cho cơ thể không bị “quá tải”. Trong sinh hoạt đời thường cần thoáng một chút: bao dung, thoải mái, tự nhiên đối với mọi người, mọi việc; lấy việc giúp người làm vui, lấy việc hiểu biết làm vui, hài lòng với cuộc sống hiện có.

- Một nghiên cứu vào năm 2005 tại Hungary thì cho thấy, những người cảm thấy cuộc sống của họ thú vị và ý nghĩa sẽ giảm nguy cơ mắc các bệnh ung thư và tim mạch cũng như tránh được nguy cơ đột tử. Vậy điều gì mang đến ý nghĩa cho cuộc sống? Có thể đó là bạn được làm công việc mình đam mê. Có thể đó là một sở thích. Cũng có thể là niềm vui và ý nghĩa cuộc sống đến từ những đứa trẻ. Điều đó có nghĩa rằng, mục đích bạn hướng tới trong cuộc sống không quá quan trọng. Quan trọng là cảm giác của bạn để đạt được mục đích đó mà thôi.

Trong cuộc sống của chúng ta không có gì là tuyệt đối hoàn hảo và bạn cũng sẽ không thể sống mãi mãi. Vì vậy, hãy sống với những gì đang xảy ra ở hiện tại, không nên lãng phí thời gian quý báu của mình để nghĩ về quá khứ hoặc lo lắng về tương lai. Hãy thưởng thức từng giây phút khi bạn ở cùng bạn bè, một đồng nghiệp cũ hoặc thậm trí là chuẩn bị đi vào giấc ngủ. Một điều quan trọng là hãy coi mỗi ngày giống như một món quà mà cuộc sống đã ban tặng cho chúng ta.

Người xưa có câu "Lạc giả trường thọ, ưu giả dị yểu" nghĩa là tinh thần vui vẻ lạc quan thì sẽ sống lâu hơn người hay ưu tư lo lắng. Nên giữ cho cơ thể dù có thân lão nhưng tâm bất lão. Trái lại, lối sống kiểu hiện đại ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe: cuộc sống căng thẳng, mất thăng bằng, lao động quá mức, ăn uống quá dư thừa, ngủ nghỉ không đầy đủ, thiếu rèn luyện thân thể, trạng thái tình cảm không ổn định chính là những nguyên nhân làm giảm tuổi thọ hiện nay

. Có niềm tin vào tôn giáo
Cho dù là đức Phật, thánh Allah hay Chúa Trời, chỉ cần tin vào sức mạnh siêu nhiên cũng có thể giúp bạn sống lâu hơn.
Một cuộc nghiên cứu nhỏ vào năm 2010 ở những bệnh nhân sống đời sống thực vật cho thấy: Những người có đức tin lớn thường sống được đến bốn năm sau đó.
Những người có thói quen tham gia các hoạt động về tôn giáo có thêm được ba năm vào cuối đời.
Các nhà nghiên cứu chưa tìm được lý do chắc chắn. Họ chỉ phỏng đoán rằng những hoạt động tích cực, hỗ trợ về mặt tinh thần và những hướng dẫn về đức tin có thể giúp giảm stress và mọi người có thêm mục đích để sống.
Read more…

Video

Back to top Go bottom