"Hiệu ứng con bướm" và Lý thuyết hỗn độn

03:18 |
Hiệu ứng con bướm - hiện tượng bất định và hỗn độn của các hệ thống phức tạp trong Tự nhiên và xã hội.

Bất chấp hàng loạt lý thuyết ra đời trong thế kỷ 20 dẫn tới những cuộc cách mạng đảo lộn vũ trụ quan cổ điển, đến nay tư tưởng chủ đạo của khoa học vẫn là chủ nghĩa tất định (determinism) – tư tưởng cho rằng vũ trụ vận hành theo những quy luật xác định và do đó, về nguyên tắc, khoa học phải dự báo được tương lai một cách chính xác.

Nhưng thực ra Tự Nhiên phức tạp, hỗn độn (chaotic) và khó dự đoán hơn ta tưởng rất nhiều: Tính ngẫu nhiên và bất định không chỉ tác động trong thế giới lượng tử, mà ngay cả trong những hệ phức tạp (complex systems) của thế giới vĩ mô.

Bản chất bất định và hỗn độn của Tự Nhiên đã được Lý thuyết hỗn độn (Theory of Chaos) mô tả một cách ẩn dụ bởi “Hiệu ứng con bướm” (Butterfly Effect): “Một con bướm vỗ cánh ở Tokyo có thể dẫn tới hậu quả là một cơn bão ở Florida một tháng sau đó”(1).

Lý thuyết hỗn độn đang ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, bởi vì người ta khám phá ra rằng có rất nhiều hệ phức tạp trong tự nhiên và xã hội chịu sự tác động của “hiệu ứng con bướm”: Từ cơ học thiên thể cho tới các chương trình computers, vấn đề dự báo thời tiết, vấn đề môi trường toàn cầu, hệ thống mạch điện, hiện tượng bùng nổ dịch bệnh, bùng nổ dân số, khủng hoảng kinh tế, vấn đề hoạch định chính sách, v.v.

Tuy phải đợi tới những năm 1960 thì hiện tượng hỗn độn mới được nghiên cứu thành những lý thuyết hệ thống, nhưng thực ra nó đã được khám phá lần đầu tiên từ cuối thế kỷ 19 bởi nhà toán học lừng danh Henri Poincaré – người được gọi là “Mozart của toán học” và là một trong những nhà toán học vĩ đại nhất của mọi thời đại.

1. Henri Poincaré và “bài toán ba vật thể”:

Nhà toán học Pháp Henri Poincaré

“Bài toán ba vật thể” (Three body problem) do Isaac Newton nêu lên từ năm 1687 trong tác phẩm Principia (Nguyên lý) nhằm nghiên cứu chuyển động của các thiên thể trong mối quan hệ tương tác hấp dẫn giữa chúng:

Hãy xác định vị trí của 3 vật thể chuyển động trong không gian nếu biết vị trí ban đầu của chúng.


Thoạt nghe, bài toán có vẻ khá đơn giản, nhưng thực ra lại phức tạp và khó đến mức thách thức những bộ óc siêu việt nhất của nhân loại.

Các nhà toán học vĩ đại như Euler, Lagrange, … đã từng lao vào giải, nhưng chỉ tìm được lời giải cho những trường hợp đặc biệt. Đến cuối thế kỷ 19 vẫn chưa có ai tìm được lời giải cho trường hợp tổng quát với n vật thể.

Năm 1887, nhà toán học Gosta Mittag Leffler đã kiến nghị với vua Thụy Điển và Na-uy lúc đó là Oscar II nên mở cuộc thi giải “bài toán ba vật thể” dưới dạng tổng quát để mừng sinh nhật lần thứ 60 của chính nhà vua vào năm 1889. Vua Oscar II chuẩn y và ban bố cuộc thi: Số tiền thưởng không lớn lắm (chỉ bằng khoảng một nửa tiền lương hàng năm của một viện sĩ hàn lâm), nhưng danh dự rất lớn – người thắng cuộc sẽ được coi là người giỏi nhất trong số những người giỏi nhất!

Nhà toán học Pháp Henri Poincaré, lúc ấy 33 tuổi, đang nổi lên như một trong những ngôi sao sáng nhất trên bầu trời toán học, đã mất tới 3 năm trời để giải bài toán, để rồi gửi tới hội đồng giám khảo một lời giải dài dòng và phức tạp đến nỗi hội đồng này không hiểu. Họ đề nghị ông giải thích. Poincaré liền gửi tới hội đồng một bản bình luận tiếp theo dài tới 100 trang để giải thích lời giải của ông. Sau khi hiểu được lời giải, hội đồng giám khảo quyết định trao tặng giải thưởng cho Poincaré. Đó là một sự kiện khoa học gây chấn động dư luận cuối thế kỷ 19.

Nhưng dư luận còn bị chấn động hơn nữa khi lời giải được công bố chính thức trên tạp chí Acta Mathematica (một trong những tạp chí uy tín nhất thời đó), bởi lẽ trong lời giải mới này, Poincaré đã chỉ ra sai lầm của chính ông trong lời giải đã đoạt giải thưởng trước đó:

Đó là một sai lầm về hình học – trong số các trường hợp hình học có thể xẩy ra, ông đã bỏ sót một trường hợp mà ông nghĩ rằng không quan trọng.

May mắn làm sao, và thú vị làm sao, khi nghiên cứu lại lời giải để gửi tới tạp chí, ông đã phát hiện ra trường hợp bị bỏ sót này. Càng nghiên cứu kỹ ông càng nhận thấy trường hợp bị bỏ sót này hoá ra lại quan trọng và thú vị hơn rất nhiều so với ông tưởng, bởi nó dẫn tới một kiểu chuyển động vô cùng phức tạp và kỳ lạ: Một trong các vật thể có xu hướng chuyển động hầu như ngẫu nhiên (không tuân theo một hướng xác định nào cả).

Đó là điều không thể tin được và cũng không thể hiểu được, vì hệ phương trình do ông thiết lập để giải bài toán là một hệ xác định, và do đó kết quả phải xác định, không thể là ngẫu nhiên. Nhưng trước một lời giải tự nó nói lên một sự thật khác thường, Poincaré nhận thấy một điều vô cùng quan trọng mà trước đó chưa ai nhận thấy: Nếu kết quả không phải là ngẫu nhiên thì ít nhất nó cũng không có một cấu trúc rõ ràng!

Poincaré dừng lại bài toán ở chỗ đó, rồi thốt lên: “Tôi không biết phải làm gì với kết quả này” (I don’t know what to do with this).

Lúc Poincaré dừng lại chính là lúc ông đã vô tình khép lại cánh cửa của Chủ nghĩa tất định và mở ra cánh cửa của Lý thuyết hỗn độn, mặc dù phải chờ tới năm 1963 thì Lý thuyết hỗn độn mới chính thức bước lên diễn đàn khoa học, nhờ khám phá ngẫu nhiên của nhà khí tượng học Edward Lorenz

2. Khám phá của Edward Lorenz:

Năm 1961, nhà khí tượng học Edward Lorenz đã thiết lập một hệ phương trình toán học để mô tả một dòng không khí chuyển động, lúc dâng cao, lúc hạ thấp tuỳ theo mức độ bị đốt nóng bởi ánh nắng mặt trời.

Sau đó ông mã hóa hệ phương trình này để tạo ra một chương trình chạy trên computer, nhằm nghiên cứu một mô hình dự báo thời tiết.

Vì chương trình viết cho computer bao gồm những phương trình toán học và những mã lệnh hoàn toàn xác định nên Lorenz nghĩ rằng trong những lần chạy thử chương trình trên máy, nếu “input” (dữ liệu đầu vào của chương trình) hoàn toàn giống nhau thì đương nhiên “output” (kết quả ở đầu ra) cũng phải hoàn toàn giống nhau.

Nhưng một lần, sau khi nạp vào chương trình những dữ liệu ban đầu mà ông nghĩ rằng giống hệt như những lần trước, rồi sau đó cho chương trình chạy thử, ông sững sờ ngạc nhiên khi thấy kết quả ở đầu ra hoàn toàn khác biệt – khác một cách nghiêm trọng so với những lần chạy trước đó.

Kiểm tra lại toàn bộ hoạt động của computer một cách kỹ càng, từ phần cứng tới phần mềm, Lorenz không tìm thấy bất cứ một sai sót nào, ngoài một chi tiết mà trước đó ông tưởng là một sai lệch không đáng kể: Đó là một thay đổi vô cùng nhỏ trong một dữ liệu, số 0,506127 được làm tròn thành 0,506.

Theo quán tính tư duy khoa học trước đó, một sai lệch vô cùng nhỏ ở đầu vào sẽ không có ảnh hưởng gì đáng kể ở đầu ra. Quán tính tư duy này sẽ đúng nếu đối tượng khảo sát chưa đạt tới mức độ đủ phức tạp. Nhưng hệ thống dự báo thời tiết là một hệ thống phức tạp, nên quán tính tư duy nói trên không còn đúng nữa.

Thật vậy, trực giác đã mách bảo Lorenz rằng một sai lệch vô cùng nhỏ trong dữ liệu ở đầu vào của chương trình dự báo thời tiết của ông có thể dẫn tới một sai lệch khổng lồ ở kết quả đầu ra. Ông lập tức tiến hành nhiều thử nghiệm tương tự để đi tới khẳng định kết luận của mình, rồi công bố khám phá trên các tạp chí khoa học. Một loạt các nhà khoa học khác trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau lập tức tiến hành những thử nghiệm tương tự, và cuối cùng đều đi tới chỗ xác nhận quan điểm của Lorenz. Từ đó, Lý thuyết hỗn độn chính thức bước lên diễn đàn khoa học.

Năm 1975, Benoit Maldenbrot cho ra đời cuốn “The Fractal Geometry of Nature” (Hình học fractal của Tự Nhiên), được đánh giá là một lý thuyết kinh điển về hỗn độn.

Tháng 12 năm 1977, Viện hàn lâm khoa học New York (New York Academy of Sciences) lần đầu tiên tổ chức hội nghị về lý thuyết hỗn độn, tập hợp các nhà nghiên cứu lý thuyết hỗn độn xuất sắc nhất trên toàn thế giới, như:

-David Ruelle, nhà toán học-vật lý người Bỉ-Pháp, chuyên về vật lý thống kê và các hệ động học,

-Robert May, nguyên chủ tịch Hội hoàng gia Anh, giáo sư Đại học Sydney và Đại học Princeton, chuyên áp dụng lý thuyết hỗn độn để nghiên cứu bệnh dịch và tính đa dạng của các quần thể sinh học phức tạp,

-James York, chủ nhiệm khoa toán thuộc Đại học Marryland ở Mỹ là người đầu tiên gieo thuật ngữ “chaos” (hỗ độn) vào trong thế giới toán học và vật lý,

-Robert Shaw, nhà vật lý Mỹ đã áp dụng Lý thuyết hỗn độn để nghiên cứu các kết quả ở đầu ra của máy quay roulette tại các sòng bạc, ….

Chính trong bối cảnh khám phá ra hàng loạt hiện tượng hỗn độn trong các hệ phức tạp của Tự Nhiên và xã hội, các nhà khoa học mới nhận ra rằng ngay từ hơn 60 năm trước, chính Henri Poincaré đã là người đầu tiên khám phá ra bản chất hỗn độn của các hệ phức tạp khi ông giải “bài toán n vật thể”: Thay vì chứng minh tính ổn định động học của hệ n vật thể, ông đã khám phá ra tính bất ổn định của các hệ động lực học phức tạp. Ngay nay khoa học đã biết rằng tính bất ổn định này xuất phát từ tính bất định trong các phép đo dữ kiện ban đầu.

3. Tính bất định của các phép đo:

Một trong những nguyên lý cơ bản của khoa học thực nghiệm là ở chỗ không có một phép đo nào trong thực tế có thể đạt tới độ chính xác tuyệt đối. Điều đó có nghĩa là các phép đo phải chấp nhận một mức độ bất định nào đó. Dù cho công cụ đo lường có hoàn hảo đến mấy thì mức độ chính xác cũng chỉ đạt tới một giới hạn nhất định. Về lý thuyết, muốn đạt tới độ chính xác tuyệt đối thì công cụ đo lường phải đưa ra những con số có vô hạn chữ số. Điều này là bất khả.

Nhưng người ta cho rằng sử dụng những công cụ đo lường hoàn hảo hơn, có thể giảm thiểu tính bất định xuống tới một mức độ nào đó có thể chấp nhận được, tùy theo mục tiêu của bài toán, mặc dù về nguyên tắc, không bao giờ triệt tiêu được tính bất định đó.

Khi nghiên cứu chuyển động của các vật thể dựa trên các định luật của Newton, tính bất định trong các dữ kiện ban đầu được coi là khá nhỏ, không ảnh hưởng tới kết quả dự đoán xẩy ra trong tương lai hoặc quá khứ.

Quả thật, dựa trên các định luật của Newton, Urbain Le Verrier đã tiên đoán chính xác sự tồn tại của hành tinh Neptune (Hải vương tinh). Những sự kiện tương tự như thế đã làm nức lòng người, củng cố niềm tin vào Chủ nghĩa tất định: Vũ trụ vận hành giống như một “chiếc đồng hồ Newton” (Newtonian clock), và do đó có thể dự báo tương lai một cách chính xác.

Nếu xuất hiện kết quả bất định trong các hệ động học, thì chắc chắn nguyên nhân xuất phát từ tính bất định trong các phép đo dữ kiện ban đầu, thay vì các phương trình chuyển động, bởi vì các phương trình này là hoàn toàn xác định. Và từ lâu người ta đã cho rằng nếu giảm thiểu đến mức tối đa tính bất định trong các phép đo thì con người sẽ có thể đưa ra những dự báo chính xác đến mức tối đa. Nhưng Chủ nghĩa tất định đã lầm: Những hệ động học phức tạp mang tính bất ổn định ngay từ trong bản chất của chúng.

4. Tính bất ổn định động lực học:

Trong “Bài toán n vật thể”, hệ phương trình chuyển động của các vật thể do Poincaré thiết lập hoàn toàn dựa trên các định luật Newton, và do đó là hoàn toàn xác định. Cụ thể, nếu biết vị trí, tốc độ của các vật thể tại một thời điểm cho trước, hoàn toàn có thể xác định được vị trí và tốc độ của các vật thể tại một thời điểm khác trong tương lai hoặc quá khứ.

Nhưng vì không thể xác định vị trí và tốc độ của các vật thể tại một thời điểm cho trước một cách chính xác tuyệt đối nên luôn luôn tồn tại một mức độ thiếu chính xác nào đó trong các dự báo thiên văn dựa trên các định luật Newton.

Tuy nhiên, trải qua hàng trăm năm kể từ khi các định luật Newton ra đời cho đến trước khi lời giải “Bài toán n vật thể” của Poincaré được công bố chính thức, trong giới vật lý và thiên văn đã tồn tại một “thoả thuận ngầm”: Sự thiếu chính xác tuyệt đối trong các dự báo thiên văn là một vấn đề nhỏ, bởi vì với tiến bộ không ngừng của công nghệ đo lường, sự thiếu chính xác này sẽ được giảm thiếu đến mức tối đa. Nói cách khác, người ta đã ngầm hiểu rằng giảm thiểu tính bất định của dữ kiện ban đầu thì cũng giảm thiểu tính bất định trong kết quả dự đoán. Tiến sĩ Matthew Trump tại Trung Tâm Ilya Prigorine tại Đại học Texas ở Austin gọi đó là quy luật “srhink-shrink” (giảm-giảm). Nhưng Poincaré đã tạo nên một cú shock khi chỉ ra rằng quy luật đó không còn đúng đối với những hệ thiên văn phức tạp!

Xin độc giả đọc kỹ ý kiến của Matthew Trump như sau:

Những hệ thiên văn điển hình không tuân thủ quy luật nói trên là hệ chứa ba hoặc nhiều hơn ba vật thể có quan hệ tương tác lẫn nhau. Poincaré chỉ ra rằng đối với những hệ loại này, một sai lệch vô cùng nhỏ trong dữ kiện ban đầu sẽ lớn dần lên theo thời gian với một tỷ lệ khổng lồ. Do đó đối với cùng một hệ chuyển động, hai tập hợp dữ kiện ban đầu hầu như không phân biệt có thể dẫn tới hai dự đoán kết quả khác nhau một trời một vực.

Poincaré đã chứng minh một cách toán học rằng hiện tượng “bùng nổ” của những bất định vô cùng nhỏ trong dữ kiện ban đầu thành những bất định khổng lồ trong kết quả dự đoán sẽ vẫn tiếp tục xẩy ra ngay cả khi những bất định ban đầu được thu nhỏ tới kích thước nhỏ nhất có thể tưởng tượng được. Nghĩa là, đối với những hệ này, dù cho bạn có thể thực hiện những phép đo dữ kiện ban đầu chính xác hơn tới hàng trăm hay hàng triệu lần hoặc hơn thế nữa, thì muộn hơn hay sớm hơn, tính bất định trong kết quả không hề giảm đi, mà vẫn vô cùng lớn.

Những phân tích toán học của Poincaré thực chất đã chứng minh rằng đối với những “hệ phức tạp”, muốn có một dự đoán kết quả chính xác ở bất kỳ cấp độ nào cũng đòi hỏi phải xác định được dữ kiện ban đầu với độ chính xác tuyệt đối. Nhưng điều đó là BẤT KHẢ (impossible)!

Matthew Trump viết tiếp:

Tính chất cực kỳ nhậy cảm của dữ kiện ban đầu được trình bày một cách toán học trong những hệ thống được nghiên cứu bởi Poincaré được gọi là tính bất ổn định động lực học (dynamical instability), hoặc đơn giản là “hỗn độn” (chaos).

Đó là lý do vì sao Henri Poincaré được coi là cha đẻ của Lý thuyết hỗn độn, mặc dù mãi đến những năm 1960, lý thuyết này mới thành hình.



Theo Matthew Trump:
Mặc dù công trình của Poincaré được một số nhà vật lý nhìn xa trông rộng đương thời đánh giá là vô cùng quan trọng, nhiều thế kỷ đã trôi qua trước khi những ẩn ý trong các khám phá của ông được toàn thể cộng đồng khoa học hiểu rõ. Một trong các lý do của sự chậm trễ này là vì phần lớn các nhà vật lý thời đó đang lao vào một lĩnh vực mới mẻ của vật lý, đó là Cơ học lượng tử – lĩnh vực vật lý thâm nhập vào vương quốc hạ nguyên tử.
Nhưng hiện nay, chính các nhà vật lý đang quan tâm tới Lý thuyết hỗn độn hơn ai hết.

5. Biểu hiện của hỗn độn trong Tự nhiên:

Hệ thống thời tiết là một hệ phức tạp điển hình, ở đó bộc lộ rất rõ đặc trưng hỗn độn, như độc giả đã thấy phần nào qua câu chuyện về khám phá của Edward Lorenz năm 1961.

Matthew Trump cho biết:
Thuật ngữ “Hiệu ứng con bướm” ra đời chính từ khoa học dự báo thời tiết: Một cái vỗ cánh của một con bướm ở một nơi nào đó trên trái đất có thể dẫn tới một cơn bão ở một nơi nào khác trên thế giới một năm sau đó.

Với hiệu ứng đó, hiện nay người ta buộc phải chấp nhận rằng việc dự báo thời tiết chỉ đạt được mức độ chính xác tương đối và ngắn hạn. Dù cho được trang bị những computer thông minh bậc nhất, khoa học dự báo thời tiết vẫn luôn luôn không tốt gì hơn những phỏng đoán.

Vậy nếu chúng ta thấy những dự báo thời tiết thiếu chính xác hoặc thậm chí sai hoàn toàn với thực tế, có lẽ cũng không nên dễ dàng trách móc các nhà khoa học làm dự báo, mà hãy “đổ tội” cho cái bản chất hỗn độn của những hệ phức tạp trong Tự nhiên.

Robert May (đã nhắc tới ở mục 2), cho biết:

Trong lĩnh vực nghiên cứu quần thể sinh học còn có những thí dụ phức tạp rắm rối hơn rất nhiều. Chẳng hạn tôi có thể chỉ ra những thí dụ về quần thể ruồi dấm hoặc quần thể bọ chét dưới nước mà tôi nuôi dưỡng chúng trong phòng thí nghiệm. Bạn không thể nào tiên đoán được mức độ tăng trưởng của chúng trong một số tình huống nhất định. Dưới điều kiện nhiệt độ và sinh trưởng nào đó, chúng phát triển đều đặn và hoàn toàn có thể tiên đoán được, giống như động học Newton cổ điển vậy. Nhưng dưới điều kiện nhiệt độ và/hoặc môi trường khác, chúng trở nên vô cùng hỗn độn, và mặc dù những phương trình dùng để mô tả sự tăng trưởng của chúng rất đơn giản, mức tăng trưởng của chúng là không thể dự đoán được. Sự sinh trưởng của chúng tăng hay giảm thất thường tuỳ theo từng nơi chốn.

Có thể chỉ ra rất nhiều hệ phức tạp khác nhau mà ở đó tính hỗn độn biểu lộ. Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia:

Lý thuyết hỗn độn đã sử dụng để nghiên cứu tính hỗn độn trong các mạch điện, chùm lasers, các hiện tượng dao động, các phản ứng hoá học, động học chất lỏng, các máy móc cơ học và máy cơ-học-từ-tính.

Khoa học cũng đã quan sát những ứng xử hỗn độn trong chuyển động của vệ tinh trong hệ mặt trời, sự “tiến hoá của thời gian” (time evolution) trong từ trường của các thiên thể, sự tăng trưởng số lượng của các quần thể sinh học, “tiềm năng tác động” (action potentials) trong các neurons thần kinh, và các dao động của phân tử.

Hàng ngày chúng ta có thể chứng kiến tính hỗn độn của thời tiết và khí hậu. Và hiện người ta đang tranh luận về tính hỗn độn trong hiện tượng “kiến tạo bề mặt trái đất” (plate tectonics) cũng như trong hệ thống kinh tế.

Tóm lại, Lý thuyết hỗn độn đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực: toán học, sinh học, khoa học computer, kinh tế học, công nghệ học, hệ thống tài chính, triết học, vật lý, chính trị, động học về mức tăng trưởng của các quần thể, tâm lý học và khoa học robots. Một trong những ứng dụng thành công nhất của Lý thuyết hỗn độn là trong sinh thái học, trong đó mô hình của Ricker đã được sử dụng để chỉ rõ các quần thể sinh học tăng trưởng như thế nào. Lý thuyết hỗn độn cũng được áp dụng trong y khoa để nghiên cứu bệnh động kinh, … và vô số ứng dụng khác nữa.

6. Vài vấn đáp trên chủ đề “hiệu ứng con bướm” và hỗn độn:

1/ Có người thắc mắc, xét cho cùng thì Poincaré vẫn chưa giải xong “Bài toán ba vật thể”, vậy tại sao ông vẫn đoạt Giải Oscar II?

Một trong các thành viên hội đồng giám khảo là nhà toán học kiệt xuất Karl Weierstrass đánh giá: “Công trình này chưa thật sự được xem như đưa ra một lời giải đầy đủ của vấn đề đã được đặt ra, nhưng điều vô cùng quan trọng là nó sẽ mở đầu cho một kỷ nguyên mới trong lịch sử của cơ học thiên thể”.

Và dưới ánh sáng khoa học hiện đại, nhà toán học Ian Stewart, giáo sư Đại học Warwick ở Anh, nhận định: “Đúng là ông chưa giải xong bài toán, nhưng ông đã tạo ra một tiến bộ đáng kinh ngạc tiến về phía trước. Ông đã sáng tạo ra một lĩnh vực hoàn toàn mới, một cách tư duy hoàn toàn mới”.

2/ Nếu chuyển động của n vật thể là hỗn độn thì tại sao hệ mặt trời lại ổn định?

Câu trả lời thuộc về các nhà vật lý thiên văn, tuy nhiên chúng ta có thể cho rằng hệ mặt trời thoả mãn những điều kiện xác định, làm cho nó trở thành một hệ đơn giản, thay vì một hệ phức tạp như các đối tượng nghiên cứu của Lý thuyết hỗn độn.

3/ Phải chăng giống như Định lý bất toàn, Lý thuyết hỗn độn chứa đựng yếu tố “chống khoa học”, bởi vì khoa học không thể là cái gì khác ngoài những định luật phản ánh tính quy luật của Tự nhiên? Bản thân khái niệm hỗn độn đã là một cái gì đó phản lại tính quy luật, tức là phản lại khoa học?

 Có lẽ cần phải nhận thức lại khái niệm khoa học là gì. Khoa học không đơn giản chỉ là những định luật phản ánh tính quy luật của Tự nhiên, mà còn là tập hợp mọi nhận thức phản ánh trung thực bức tranh hiện thực. Định lý bất toàn và Lý thuyết hỗn độn là khoa học, bởi nó phản ánh bức tranh hiện thực chính xác hơn, đầy đủ hơn, trung thực hơn.

4/ Phải chăng toàn bộ vũ trụ là hỗn độn? Phải chăng tính bất định và hỗn độn tồn tại xen kẽ trong Tự nhiên, hoặc cái này bao trùm lên cái kia?

Câu trả lời vẫn bỏ ngỏ. Hiện nay chúng ta chỉ mới biết một phần nào đó của vũ trụ. Không ai có thể đưa ra một phán quyết rằng toàn bộ vũ trụ là tất định hay hỗn độn. Có những hệ đơn giản thể hiện tính tất định, nhưng cũng có rất nhiều hệ phức tạp mang bản chất bất định và hỗn độn. Có người cho rằng tính hỗn độn chỉ là một biểu hiện tương tác vật chất trong một phạm vi hẹp của một trật tự lớn hơn bao trùm, có nghĩa là quy luật tất định vẫn chiếm ưu thế.

Phải nói rằng phần lớn các nhà vật lý hiện nay vẫn là những môn đệ nhiệt thành của Chủ nghĩa tất định, trong đó Albert Einstein có lẽ là môn đệ nhiệt thành nhất, vì ông từng tuyên bố “Tôi muốn biết được ý Chúa”. Đó là lý do để ông quyết tâm xây dựng Lý thuyết trường thống nhất (Theory of Unified Field), và hậu duệ của ông đã tiếp tục sự nghiệp này dưới ngọn cờ Lý thuyết về mọi thứ (TOE – Theory of Everything).

Nhưng những nghiên cứu của Gregory Chaitin trong toán học lại ủng hộ tư tưởng bất định và hỗn độn nhiều hơn là tất định:

Chaitin đã chứng minh rằng có một số vô hạn những sự kiện toán học nhưng phần lớn những sự kiện đó không liên hệ với nhau và không thể trói buộc chúng với nhau bằng những định lý thống nhất. Nếu các nhà toán học tìm thấy bất kỳ liên hệ nào giữa những sự kiện này thì đó chỉ là may mắn tình cờ. Phần lớn toán học đúng mà chẳng có lý do đặc biệt nào cả, toán học đúng bởi những lý do ngẫu nhiên … Chaitin nhận ra rằng số Omega đã nhiễm độc toàn bộ toán học, đặt ra giới hạn căn bản đối với cái chúng ta có thể biết. Hơn thế nữa, Omega mới chỉ là sự khởi đầu, thậm chí còn có nhiều con số phiền toái khác mà Chaitin gọi là những số Siêu-Omega – những con số thách thức mọi tính toán ngay cả khi chúng ta cố gắng mọi cách để hiểu được Omega. Dòng giống Omega – dòng giống những con số không thể tính được – đã để lộ ra rằng toán học không chỉ bị nhậy cắn thủng lỗ chỗ, mà hầu như đã bị thủng bởi những lỗ hổng toang hoác: Tình trạng hỗn độn, phi trật tự hoá ra là bản chất cốt lõi của Vũ Trụ (2).

Ý kiến của Robert May (đã dẫn) có lẽ là công bằng nhất:

Tôi muốn nói rằng chúng ta vẫn đang ở trong tình trạng mà hầu hết những gì được dạy trong trường phổ thông và đại học vẫn tuân theo cách nhìn kiểu Newton – phần lớn những điều chúng ta được dạy là thế giới vẫn tuân theo một trật tự … thế giới ấy có thể dự đoán được, còn ở đâu có chuyện rắm rối phức tạp và không thể dự đoán được, chẳng hạn như tại chiếc bàn quay roulette trong các sòng bạc, thì chẳng qua đó chỉ là một đống lộn xộn. Nhưng tình hình đã hoàn toàn thay đổi. Hiện nay chúng ta đã biết rằng khi quy luật đủ đơn giản thì hiện tượng xẩy ra cũng đơn giản, nhưng mặt khác, chúng ta không thể tạo ra “chiếc đồng hồ đơn giản kiểu Newton”. Với những phương trình mô tả chiếc đồng hồ Newton, quả lắc đồng hồ đôi khi có thể dao động bình thường như bạn dự đoán, nhưng nhiều lúc khác nó lại gây nên tình trạng hoàn toàn hỗn độn và không thể dự đoán được.

5/ Liệu có thể “Tây phương hoá”, tức là logic hoá và toán học hoá những lý thuyết có khả năng tiên tri của khoa học Đông phương cổ truyền, như Kinh Dịch hoặc Tử vi, … để bổ sung cho khả năng tiên tri của khoa học Tây phương hay không?

Có hai lý do để tham vọng này khó biến thành hiện thực:

Một, khoa học Đông phương không dựa trên logic suy diễn và chứng minh, mà chủ yếu dựa trên cảm nghiệm trực giác, mặc dù nó có những nguyên lý cơ bản vô cùng cô đọng đã được hình thức hoá. Vì thế, tham vọng logic hoá các khoa học cổ truyền Đông phương là đi ngược lại phương pháp tiếp cận chân lý của chính Đông phương cổ truyền.

Phương pháp suy diễn logic và chứng minh của khoa học Tây phương tự bản thân nó đã không đủ để chứng minh mọi chân lý. Định lý bất toàn gợi ý rằng thế giới nhận thức của con người lớn hơn thế giới logic chứng minh rất nhiều. Chỗ hơn hẳn của con người so với tư duy logic máy móc chính là trực giác: Khả năng cảm nhận chân lý một cách trực tiếp không cần suy luận. Vậy logic hoá và toán học hoá Kinh Dịch e rằng chỉ làm giảm giá trị của Kinh Dịch, thay vì nâng nó lên một tầm cao hơn của nhận thức. Đã có một giáo sư vật lý Việt Nam thực hiện một công trình toán học hoá Kinh Dịch rất công phu(3), nhưng công trình này không để lại một ấn tượng nào đủ lớn trong cộng đồng khoa học Việt nam cũng như thế giới. Có lẽ vì nó không đủ sức thuyết phục.

Hai, giả sử toán học hoá và logic hoá Kinh Dịch hoặc Tử vi thành công, tôi e rằng hệ thống dữ kiện ban đầu của nó không đủ để khắc phục được “Hiệu ứng con bướm” – hiện tượng bất định và hỗn độn của các hệ thống phức tạp trong Tự nhiên và xã hội.

Chẳng hạn, có trường hợp hai chị em sinh đôi cùng trứng, và tất nhiên là cùng năm cùng tháng cùng ngày cùng giờ và cùng nơi sinh. Vậy mà số phận lại khác nhau một trời một vực. Một người thì liên tục gặp may mắn, một người thì gặp hết rủi ro này đến rủi ro khác. Phải chăng sự khác biệt vô cùng lớn này xuất phát từ một khác biệt vô cùng nhỏ nào đó trong dữ kiện ban đầu (lúc sinh ra đời) của hai chị em này? Nếu nhận định này đúng thì có nghĩa là “hiệu ứng con bướm” và bản chất hỗn độn cũng tác động ngay cả trong khoa học chiêm tinh! Vì thế khoa học chiêm tinh cũng chỉ đúng với những “hệ” đơn giản và ngắn hạn, và sẽ “hỗn độn” với những “hệ” phức tạp và lâu dài! Vậy có cách nào bổ sung cho hệ thống dữ kiện ban đầu của các khoa học Đông phương cổ truyền hay không? Nhưng dù có bổ sung đến mấy đi chăng nữa, như đã nói ở các phần trên, sẽ chẳng bao giờ có một hệ thống dữ kiện ban đầu tuyệt đối chính xác – bản chất bất định của các phép đo dữ kiện ban đầu. Điều đó có nghĩa là “hiệu ứng con bướm” và bản chất hỗn độn là không thể khắc phục được đối với bất kỳ hệ phức tạp nào, dù là Tây phương hay Đông phương!

Nhưng tại sao vẫn có những tiên tri đúng đến mức làm mọi người phải kinh ngạc, như tiên tri của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nostra Damus, hay gần đây hơn là Nicolas Tesla, …?
Có lẽ các nhà tiên tri này chỉ dựa một phần nào vào những mô hình logic tất định (Tây phương hoặc Đông phương) để đưa ra những tiên tri kỳ lạ của họ, mà chủ yếu dựa trên trực giác đặc biệt – một thứ “Don de Dieu” (một ân huệ của Trời). Sự thật có đúng như vậy không? Điều này vẫn là một ẩn số lớn của chiêm tinh học mà khoa học ngày nay chưa thể giải mã, và cũng vượt quá phạm vi thảo luận của bài viết này.

7. Kết:
Xét cho cùng thì “Hiệu ứng con bướm” và bản chất hỗn độn của Tự nhiên cũng đã được kinh nghiệm dân gian truyền tụng từ lâu. Đó là câu ngạn ngữ “Sai một ly đi một dặm”!

Chú thích:

(1): Một kiểu diễn đạt “Hiệu ứng con bướm” của Melvyn Bragg trong cuốn “On Giant’s Shoulders” (Đứng trên vai những người khổng lồ), chương nói về Henri Poincaré.
(2): Xem “Tính ngẫu nhiên của toán học” của Phạm Việt Hưng trên Khoa Học & Tổ Quốc tháng 9-2009
(3): Một công trình nghiên cứu rất công phu của cố Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương.

Tài liệu tham khảo:

· “On Giant’s Shoulders”, Melvyn Bragg, Sceptre publication, London, 1998
· “What is Chaos?”, Matthew Trump, 14-08-1998 , có thể tìm trên mạng, địa chỉ: http://order.ph.utexas.edu/chaos

· Wikipedia, mục từ “Henri Poincaré” và mục từ “Three body problem”.

Phạm Việt Hùng (Theo Vietsciences)

Read more…

Từ hiệu ứng con bướm đến pháp giới Hoa nghiêm

03:01 |
Pháp giới Hoa Nghiêm


Tư tưởng Hoa Nghiêm trình bày vạn pháp do tâm sanh. Tâm là thực thể của vạn pháp. Tâm vọng thì vạn pháp hoạt hiện sai biệt hình hình sắc sắc, trùng trùng duyên khởi, cái này có cái kia có và ngược lại, như lưới đế châu. Tâm chơn thì pháp giới tánh với Tâm là một, vạn pháp đồng nhất thể. Tâm thanh tịnh thì thấu đạt chơn lý Phật tánh, suốt thông pháp giới vô ngại, thể nhập bất tư nghì giải thoát hạnh môn. Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật chỉ cho chúng-sanh thấu rõ cội nguồn của xum la vạn tượng do mê thức vọng tưởng nghiệp duyên hình thành, các pháp hiện hành trong vũ trụ là huyễn hóa, như hoa trong gương, như trăng trong nước. Tất cả vạn pháp trong pháp giới đều từ tâm sanh. Tâm trùm khắp cả pháp giới. Tất cả vạn hữu vũ trụ có thể nằm gọn trong hạt cải. Hạt cải có thể thâu nhiếp tất cả vũ trụ vạn pháp. Thể tánh của Tâm nhiếp thâu tất cả. Tất cả là một, một là tất cả. Ðó là bản tánh vô ngại của Tâm. Bản tánh chơn tâm suốt thâu vạn pháp hữu tình và vô tình; lấy toàn thể pháp giới tánh làm lượng; lấy xứng tánh bất tư nghì vô ngại giải thoát làm thể.

Các kinh văn Phật học đều có nói đến con đường tu tập của Đức Thế Tôn qua nhiều giai đoạn khác nhau, kể từ khi Ngài còn là Thái tử đi dạo quanh bốn cửa thành và nhìn rõ sự khổ đau của sinh, lão, bệnh, tử cho đến khi Ngài trải qua 5 năm tìm thầy học đạo, 6 năm tu khổ hạnh. Về công hạnh thiền định (của ngoại đạo), Ngài đã thăng chứng ở những quả vị cao nhất. Tuy vậy, Ngài thấy rằng tất cả đều đưa đến trạng thái hư vô, sự khổ đau của sinh tử vẫn cứ trói chặt thân phận con người. Sau cùng, suốt 49 ngày tư duy thiền định ở cội Bồ đề, vào canh ba, lúc sao Mai vừa xuất hiện và ngay lúc đó Ngài chứng đắc giác ngộ giải thoát tối thượng. Chặng đường quan trọng nhất của Ngài là chặng đường tư duy thiền định, quan sát tường tận giáo lý duyên sinh. Quá trình này đã tạo nên một bước nhảy vào thế giới tâm linh, vĩ đại, siêu thế gian. Từ đây chúng ta được khai mở một thế giới quan vừa xuất hiện sau khi Đức Phật thành đạo đó là thế giới Hoa Nghiêm (Gandavyùha).

Thế giới Hoa Nghiêm là một thế giới huyền nhiệm, một thế giới toàn bích của tâm linh của chư Phật, chư Bồ Tát và đương nhiên của con người, một khi đã loại bỏ ngả chấp và đã đạt được siêu việt nhị nguyên (chủ - khách thể phân biệt). Tất cả sinh hoạt ở đây đều tỏa ánh sáng trùng trùng điệp điệp, không có cái được sinh ra, không có cái bị mất đi trong thế giới giao thoa tương tức tương nhập giữa các luồng ánh sáng năng động và rực rỡ.

Theo các luận sư Phật học, trọng tâm của Hoa Nghiêm là học thuyết về Tâm. Điều này biểu hiện trong toàn bộ hoạt cảnh và các nhân vật, tất cả đều có mục đích phô diễn, trần thuật tính chất kỳ vĩ diệu dụng của Tâm. Thiết chế trong Hoa Nghiêm là “Tam giới duy tâm” tức là trong 3 cõi và tất cả thế giới sự vật hiện tượng, từ vật nhỏ nhiệm (hạt hay nguyên tử) đến các hành tinh xa xôi đều do Tâm tạo tác, Tâm duyên sinh.

Để được minh thị, tránh những hiểu lầm, lẫn lộn ta có thể nhìn nhận Tâm dưới hai góc độ.

+ Về công năng của Tâm: Nổi bật nhất là công năng tạo tác, sáng tác, tác thành v.v… Tâm này sinh ra sum la vạn tượng, nó thu nhận phản ánh mọi hiện tượng sự vật, mọi trạng thái tâm lý, v.v… Hình ảnh biểu tượng của Tâm trong các kinh là người họa sư, ông ta vẽ ra ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành và thức) và tất cả những hiện tượng của các thế giới.

+ Về tính năng: Bản chất của Tâm là trong sạch, gắn liền với các đặc trưng về tính thiện như luân lý, đạo đức, toàn bích, viên minh, nhưng do sự duyên khởi với trần tục mà gây nên các loại nghiệp (thiện, bất thiện). Nhưng cũng do bản tính trong sạch nên Tâm có năng lực chuyển hóa mọi cấu uế, ô nhiễm để trở về với thực tại vĩnh hằng.

Trên nền tảng của hai đặc trưng này, Hoa Nghiêm nhìn sự tồn tại bao hàm một năng lực hiện hữu, trong hiện hữu (dòng vận hành) lại hàm chứa sự sáng tạo mạnh mẽ biểu hiện trong ý nghĩa thế giới vô biên trong một niệm và ta hiểu được lý do tại sao Hoa Nghiêm chú trọng đến hạt nhân sinh khởi thế giới và giá trị vô lượng thế giới trên hạt vi trần. Cố nhiên Hoa Nghiêm là một thiết chế thuộc Duy Tâm luận nên cơ sở của nó không phải là không gian ba chiều và thời gian trôi theo chiều quá khứ, hiện tại đến tương lai. Những biểu hiện của Kinh cố nhiên nằm phía sau và trong chiều sâu của ngôn ngữ. Chẳng hạn nói đến vi trần là nói đến sự ẩn dụ về một đơn vị nhỏ nhất, siêu nhỏ nhưng vi trần được quy chiếu về công năng và tính năng tác thành nên vũ trụ và sự sáng tạo là vô biên.

Nói tóm lại, hạt vi trần được ghi nhận trong ý nghĩa biểu trưng mang tính quy chiếu. Đó là:

- Toàn bộ vũ trụ được sinh ra từ vi trần.
- Mỗi vi trần tiềm tàng toàn thể vũ trụ.
- Khả năng sáng tạo mỗi vi trần là mênh mông.
- Tất cả các vi trần tác hợp bằng tương duyên.

Bốn tính năng nói trên là nguồn gốc sinh thành thế giới hiện hữu.

Với ý nghĩa sâu lắng của tồn tại bao giờ cũng hàm chứa năng lực hiện hữu, trong đó ẩn tàng một năng lực sáng tạo biểu thị “thế giới vô biên trong một niệm” hoặc một hạt nhân qua luật tương duyên cấu tạo nên hằng sa thế giới. Đây là khái niệm phổ biến trong thế giới tâm lý hay vật lý, khi phóng xuất thì nó bao la, khi thu nạp thì nó như vi trần.

* * *

Cảm giác đầu tiên khi đọc Hoa Nghiêm ta choáng ngợp đến khó chịu vì đó là một thế giới vô cùng linh động và sự linh động này vượt ngoài tư duy của con người, cái tư duy hoạt động trong thế giới thường nghiệm giàu hư vọng. Trong thế giới Hoa Nghiêm, mỗi cái thấy, cái nghe, mỗi sự vật hiện tượng đều bừng sáng chiếu rọi nhiệm màu. Hòn đá lăn, chiếc lá rơi, dòng sông chảy, áng mây trôi, v.v… tất cả đều bừng sáng bởi thứ ánh sáng giao thoa, bởi rào dậu bằng phê lê ngọc ngà, đất đá bằng kim cương, v.v…, bởi những thứ mà con người luôn luôn bị ám ảnh. Vì vậy, khi đọc phải cần một sự giao cảm tâm linh, giao cảm với những gì nằm ở bề sâu và ở đằng sau của ngôn ngữ. Sự giao cảm này chỉ xuất sinh bởi khoa thiền định như: Chỉ (theo dõi hơi thở ra vào) và Quán (quan sát như thật về con người và thế giới). Thực nghiệm cho thấy trong Chỉ có Quán và trong Quán có Chỉ. Khi hiểu được tâm mình ta sẽ tìm được một điểm quy chiếu để có thể hiểu được Hoa Nghiêm theo 2 ý nghĩa:
· Tâm để quan sát thế giới.
· Tâm để biết vạn cảnh do tâm và theo 2 giá trị.
- Siêu việt mọi biên giới và dung thông cả chủ lẫn khách.
- Năng lực vốn hằng hữu và bất biến dù là hiện thực hay tiềm năng.

Theo thầy Pháp Tạng, muốn hiểu biết Hoa Nghiêm chúng ta cần phải quán thế này.

- Quán sát tường tận bản tính trong sáng của Chân Tâm, nơi duyên sinh ra mọi hiện hữu (sự vật hiện tượng có mặt trong cuộc đời dù tâm lý hay vật lý).
- Quán sát rằng Chân như (như thực vĩnh hằng) và mọi ảnh tượng luôn luôn tồn tại và phản chiếu trong nó.
- Quán sát tự tính của thế giới sai biệt là do tâm duyên sinh.
- Quán sát sự bí mật viên dung của Tâm và cảnh.
- Quán sát rằng chủ và khách thể cả hai cùng hiện hữu tồn tại trong mối tương duyên.

Như vậy thế giới Hoa Nghiêm là một thế giới siêu việt trần tục được Đức Phật xây dựng tại rừng Thệ Đa và thế giới đó tồn tại ngay trên trần gian này, biểu trưng cho một cõi sống tâm linh và trong cõi tâm linh ấy, trái tim đại từ, đại bi của đức Phật tự nó sinh khởi và khởi mở thành một cõi vô biên.

Đọc Hoa Nghiêm rất dễ nhầm lẫn hai khái niệm thế giới hay gọi là thế gian giới và pháp giới. Tuy nhiên hai khái niệm này lại hàm các nội dung rất khác biệt.

Thế giới chỉ cho sự tồn tại và hiện hữu các sự vật, hiện tượng. Mỗi sự vật, mỗi hiện tượng đều tồn tại ở mức độ khác nhau về hình dáng hay bản chất. Cái cây viết là cây viết, cái lọ mực là lọ mực. Cây viết hoàn toàn khác lọ mực. Con người và con gà là hoàn toàn khác. Các đặc trưng của công dụng và cấu trúc của thế giới sự vật và hiện tượng là rất khác biệt, mâu thuẫn, đối lập, vì vậy sự thẩm định nó cũng dựa vào nền tảng của phân biệt.

Pháp giới biểu thị cho ánh sáng mà bản thân nó không có tính đối lập, tính mâu thuẩn. Ánh sáng có thể dung hóa nhau, có thể xua tan bóng tối dù nó có màu sắc gì đi nữa. Một đặc tính quan trọng của ánh sáng là khả năng phản chiếu, tương dung, tương nhiếp lẫn nhau, và đây là một biểu thị rất đích thực và cơ bản của pháp giới. Ánh sáng có đặc tính nhẹ nhàng, linh hoạt, không có sức ỳ như gỗ, đá v.v...

Pháp giới không có sự phân biệt cái này khác cái nọ vì bản thân nó không lệ thuộc vào quá trình sinh thành hoại diệt như thế giới sự vật hiện tượng. Nó không được sinh thành và tồn tại theo quy ước của thời gian và theo những biên giới của không gian.

Pháp giới là một hiện hữu trong lòng thế giới và không cách ly thế giới, nó không phải là trống rổng và cũng không đồng nhất với hư vô.

Để hiển bày sự huyền diệu của Pháp giới cũng như sự kỳ diệu của các khái niệm tương dung, tương tức, tương nhập, một trong tất cả, tất cả trong một, v.v… ta kể lại thực nghiệm của Đại sư Pháp Tạng trình hiện cho Nữ hoàng Võ Tắc Thiên xem. Chuyện kể lại rằng: Trong một căn phòng kín, tường và sàn, trần nhà đều được lợp bằng các tấm kiến phẳng đối mặt vào nhau. Một tượng Phật đặt cạnh một cây đuốc đang cháy ở giữa phòng. Ồ, thật lạ lùng, tuyệt diệu, bà thốt lên khi chăm chú nhìn toàn cảnh do sự phản chiếu vô cùng tận. Thầy Pháp Tạng dẫn giải cho bà: Trong mỗi tấm gương và mọi tấm gương đều có sự phán chiếu của mọi tấm gương cùng với tượng của đức Phật trong chúng. Đó là tình huống trình hiện nguyên lý tương nhiếp, tương nhập và cũng ngay tại đây ta thấy rõ điển hình của “một trong tất cả” và “tất cả trong một”. Và cố gắng đếm thì không tài nào đếm nổi có bao nhiêu hình tượng Phật, điều này giúp ta hiểu được khái niệm trùng trùng vô tận.

Hoa Nghiêm quan niệm rằng mọi sự thể trong thế gian quy về 4 pháp giới, nói cách khác Pháp giới sở hữu 4 tính chất.

1. Sự pháp giới: là cảnh giới của những hiện tượng, sự vật phân biệt khác nhau và độc lập. Một dòng sông, chim bay cá lội, lửa nóng, nước đá lạnh, v.v…

2. Lý pháp giới: là cảnh giới gồm các nguyên lý trừu tượng nằm sâu bên dưới hiện tượng. Đây là cảnh giới siêu quá các nhận thức của giác quan, chỉ có trí năng hay trực giác mới có thể nắm bắt. Tất cả những nguyên lý hay các quy luật chi phối các biến cố trong thế giới hiện tượng đều thuộc phạm trù này. Các luận sư Hoa Nghiêm quan niệm chỉ có một “Lý tối tượng uyên nguyên” bằng các thuật ngữ: Như như, Như thị hoặc Nhất Tâm hay Tính Không.

Tổng quát hơn Lý được quan niệm như một nguyên lý đa phương có tính hàm dung và là nền tảng cho mọi hiện hữu tồn tại.

3. Lý sự vô ngại pháp giới: đây là cảnh giới mà Lý và Sự được xem là một thể bất khả phân, có thể hiểu rằng Sự là biểu hiện của Lý và Lý được xem là nhân hiển thị ra Sự. Trong trường hợp này Lý và Sự đi kèm nhau trở thành một khái niệm nhiều ý nghĩa. Một biến cố (Sự) nào đó vốn luôn luôn là một biểu hiện cua một nguyên lý ẩn khuất ở bên dưới (Lý) và ngược lại trong giáo lý Tính Không.

Trên bình diện “Tỉnh” thì chân lý tuyệt đối là Bản thể, nhưng trên trạng thái “Động” thì chân lý đó đồng nhất với cái thể hiện của nó qua hiện tượng tức là Sự. Hai trạng thái này không thể rời nhau và trở thành nguồn gốc cho tất cả hiện hữu tồn tại trong vũ trụ, chúng đều đồng thời phát sinh bởi luật nhân duyên, tương dung, tương nhiếp.

4. Sự sự vô ngại pháp giới: Ba pháp giới: Lý pháp giới, Sự pháp giới, Lý sự vô ngại pháp giới là những phương thức thích hợp để mô tả pháp giới Sự sự vô ngại. Đó là một pháp giới mà mỗi và mọi Sự riêng lẻ đều nhập vào và hợp nhất, chan hòa với tất cả mọi Sự khác một cách tự do.

Sự sự chỉ cho mỗi và mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ. Trong pháp giới có vô số sự vật hiện tượng, tuy có hình tượng khác nhau, bất đồng nhau nhưng Lý tính lại dung thông, bình đẳng, không phân chia ngăn cách và nhờ Lý mà Sự sự được dung thông vô ngại. Cùng một lúc, cái này dung nhập trong cái kia, cái kia lại chan hòa trong cái này, mỗi sự chan hòa trong mỗi sự từng cái một lẫn nhau. Chủ và Khách, Tâm và Vật đồng hóa với nhau.

Mỗi vật trong ẩn có hiện, trong không gian có thời gian, trong thiện có ác, trong quá khứ có vị lai, trong phúc có họa, trong tương đối có tuyệt đối, trong nhân có quả, trong quả có nhân và không một cái gì hoàn toàn biệt lập. Mỗi thái độ, mỗi hành động của một cá nhân này tác động dây chuyền đến các cá nhân khác trong cộng đồng phải gánh chịu trong mối liên hoàn trùng trùng điệp điệp.

Những hiện tượng trong trời đất có thể ví như các sợi tơ dệt chằng chịt thành một dải lụa mà sự phức tạp của nó vượt quá sức tưởng tượng, cái một và cái nhiều tương tức, tương nhập liên kết mật thiết với nhau.

Tóm lại: nói sự sự vô ngại tức là nói:
- Không gian dung thông với không gian.
- Thời gian dung thông với thời gian.
- Không và thời gian dung thông với nhau.
- Một không gian dung thông với tất cả không gian.
- Một thời gian dung thông tất cả thời gian.
- Một dung thông với tất cả và ngược lại

Đối với chúng ta sự thể nhập vào thế giới sự sự vô ngại là vô cùng khó khăn khi cái ngả nặng nề trầm luân còn trói chặt trong vòng đai vô hình của nó. Chúng ta chỉ thâm nhập vào thế giới đó khi nhìn muôn sự ở cõi đời dàn trải ra trước mắt dưới cái của diễn biến vô thường vô ngã và chỉ khi đó trực giác tâm linh mới mở được cánh cửa đi vào thế giới này mà thôi.

Hiệu ứng con bướm


Cho đến cuối thế kỷ 19, các nhà Vật lý học vẫn còn lòng vòng trong vành đai của Vật lý Newton. Quan niệm của Newton về một vũ trụ mang tính rời rạc, cơ giới, bị chi phối bởi nguyên lý tất định khô khan, cứng nhắc. Các nhà vật lý còn say đắm trong “Tất định luận Laplace” và ung dung trong phương pháp “quy giản luận” để nhìn về bức tranh sống động của tự nhiên.

Năm 1905 A-Einstein bằng lý thuyết tương đối của mình đã xóa đi luận cứ của Newton về một không gian và thời gian tuyệt đối. Những năm 1920 – 1930, sự xuất hiện lý thuyết cơ học lượng tử với khái niệm “nhòe lượng tử” đã loại trừ niềm tin vào khả năng đo đạc chính xác và sau cùng “tất định luận” lại tỏ ra hụt hơi bởi “lý thuyết hổn độn”. Thuật ngữ hổn độn theo ý kiến chung bao hàm nghĩa khoa học là “không thể dự đoán” hay không thể “dự báo dài hạn được”. Người tiên phong suy nghĩ vấn đề này là nhà Toán học lừng danh Henry Poincaré, tuy nhiên lúc bấy giờ máy tính chưa có nên không có công cụ hỗ trợ để cho các nhà toán học ngoại suy.

Edward Lorenz, nguyên là nhà nghiên cứu toán học và có điều kiện làm việc tại Học viện Công nghệ MIT, ông thường xuyên dùng máy tính để tính toán khí tượng. Lorenz đã bước đầu thành công khi quy giản kết quả của dự báo thời tiết qua 2 tham số tương tác là chuyển động không khí và nước thông qua máy tính in ra những đường lượn sóng cho biết hiện tượng biến thiên theo thời gian.

Mùa đông năm 1961, muốn kiểm tra một trong những đoạn biểu đồ trên một thời gian dài. Thay vì cho chạy lại từ đầu, ông lại nhập những con số (những thông tin) từ tờ in kết quả gần nhất, xong ông bỏ đi và một giờ sau ông trở lại, điều quá bất ngờ đập vào mắt ông: nhìn vào biểu đồ thấy dự báo lần này khác xa lần cũ không ăn nhập gì với nhau. Ông chợt hiểu được một sự thật nằm ở chỗ số mã ông nhập vào bộ nhớ lần sau. Bộ nhớ máy tính lưu giữ con số có 6 số thập phân. Chẳng hạn số: 0, 5056127 nhưng ông chỉ lấy 3 số thập phân 0,506 để nhập vào máy cho lần sau. Sự không ăn khớp của kết quả dự báo lần sau và lần đầu có nguyên nhân đó vì cả hai lần ông dùng cùng một hệ phương trình tất định. Ông đã nghĩ rằng sự khác biệt quá nhỏ (một phần nghìn) nên không để tâm đến sự phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu thường được gọi là “hiệu ứng con bướm”. Một cái đập cánh của con bướm ở Braxin có thể gây ra bão tố ở Texas.

Về nguyên tắc của dự báo, người ta truyền cho máy tính dữ liệu thu thập như áp suất, nhiệt độ, độ ẩm và những dữ liệu địa lý các dãy núi, các đại dương cùng với định luật vật lý mô tả hành trạng của khối lượng khí. Máy tính sẽ theo yêu cầu mà tính toán đưa ra dự báo trong vài ngày đầu thì thực tế và dự báo không mấy sai biệt, nhưng 6, 7 ngày sau lại là chuyên khác do những thăng giáng nhỏ trong khí quyển, nhỏ đến mức không thể phát hiện được. Những mầm mống của sự không hiểu biết đó không tách rời sự vận động của tự nhiên. Dự báo dài hạn là vấn đề ảo tưởng cũng giống như làm tròn con số thập phân của Lorentz.

Quy giản luận - Một vấn đề triết lý của tự nhiên

Quan niệm chung tổng thể về tự nhiên là một lưới đan xen của nhiều bộ phân, trong đó mỗi bộ phận tương tác với bộ phận khác tạo nên một tổng thể hài hòa. Chẳng hạn, sự rơi một vật, về nguyên tắc được quyết định bởi không những hấp lực của quả đất mà còn chịu hấp lực của mặt trăng, mặt trời và các tinh tú nữa. Quan điểm chia tự nhiên thành nhiều bộ phận, đồng thời mỗi bộ phận được nghiên cứu một cách riêng rẻ độc lập với nhau, sau đó đem lắp ghép với nhau thì có thể hiểu được tổng thể, đó là phương pháp quy giản luận. Khoa học Tây phương được xây dựng phần lớn theo phương pháp này. Sự hiệu quả của phương pháp quy giản nhờ hai tính chất: tính chất tuyến tính và tính cục bộ.

- Tính chất tuyến tính: khi toàn bộ bằng đúng tổng các thành phần, do đó ta chỉ cần nghiên cứu riêng lẻ hành vi cá thể của mỗi thành phần rồi lấy tổng lại để có hành vi toàn bộ. Chẳng hạn ta lấy ví dụ: một miếng xốp rất nhẹ có trọng lượng không đáng kể. Ta bắt đầu thả lên nó một thìa nước có trọng lượng x, miếng xốp trở thành có trọng lượng là x. Nếu đổ thêm 4 thìa thì miếng xốp có trọng lượng là 5x. Mối liên hệ giữa miếng xốp và nước là quan hệ tuyến tính. Đến lúc sau, miếng xốp không hút được nước nữa thì trọng lượng nước đổ lên miếng xốp không còn tỷ lệ với trọng lượng miếng xốp, lúc đó hành vi có được gọi là hành vi phi tuyến. Trong thực tế hầu hết các hiện tượng vật lý đều trở thành phi tuyến khi vượt qua một giới hạn dung sai và trở thành hổn độn, một hệ thống không thể dự báo được mức độ trật tự và trở nên rất nhạy cảm đối với mỗi lần có biến động của thành phần của hệ. Cái “hệ quả” có khi trở nên quá lớn đối với cái “nguyên nhân”, một cánh bướm đập nơi này có thể gây bão tố nơi khác.

- Tính chất cục bộ: là một hệ thống mà hành vi của nó chỉ phụ thuộc vào ảnh hưởng trong phạm vi trực tiếp gần với nó, nếu xét về các lực thì một hệ chỉ chịu tác động của các lực từ môi trường gần kề nó.

Chính vì 2 tính chất vừa nêu trên mà các nhà khoa học khi khám phá tự nhiên đã tách riêng ra rất nhiều hệ có tính chất tuyến tính và tính chất cục bộ, từ đó làm nên khoa học để từng bước hiểu sâu thêm thế giới, lý thuyết hổn độn ra đời và giữ vai trò cuộc cách mạng thứ 3 sau 2 cuộc cách mạng của lý thuyết tương đối và lý thuyết lượng tử.

Điều suy ngẫm

Thời đại ngày nay, vũ trụ đối với chúng ta hẳn đã không quá xa lạ nữa. Chúng ta đã vượt qua giai đoạn mà sự sống đã phó mặt hoàn toàn cho những thịnh nộ hay những ân sũng của Thần linh, Đất trời.

Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày…

Khoa học đã nâng cao tri thức và đời sống nhân loại, nhưng khoa học mãi không bao giờ đi đến cuối cùng để hiểu hết các bí ẩn của vũ trụ cũng như sự tồn tại bản thân vũ trụ. Lý trí con người có những giới hạn nhất định không thể đạt đến chân lý tuyệt đối như định lý bất toàn Godel đã công bố. Mặt khác, cho dù lý thuyết hỗn độn cùng với sự hỗ trợ tiến bộ của máy tính thế hệ mới thì mọi bí ẩn của vũ trụ vẫn ngự trị trong trí óc nhân loại, làm sao có được cái nhìn như thật của đức Phật trong pháp giới sự sự vô ngại của Hoa Nghiêm.

Cách đây cả trăm năm nhà Bác học vĩ đại A-Einstein đã xác tín rằng: “Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao trùm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” hoặc như Egerton C.Baptist: “Kiến thức siêu việt của Phật giáo bắt đầu nơi mà ở đó khoa học kết thúc.

Cách đây trên 25 thể kỷ, đức Phật ở trong Hoa Nghiêm, Ngài trụ trong Đại định tam muội, là một loại thiền định hợp chất của 2 yếu tố: Đại trí năng và Đại bi tâm để trong một sát na, tâm lực đức Phật dàn trải phủ lấp cả thế giới này. Nói rõ hơn, Ngài vẫn là con người bình thường nhưng cõi sống tâm thức hoàn toàn không giống như con người. Tâm thức ấy không bị chiêu cảm bởi sắc, thanh, hương, bởi lục dục thất tình và tâm thức ấy không phải là biểu hiện của trí năng giàu tưởng tượng. Ngài khai mở điều kỳ diệu như đã mô tả trong pháp giới Hoa Nghiêm, và Pháp giới Hoa Nghiêm được khai thị ngay trong lòng của thế giới. Thế giới nó có không gian và thời gian, có biên tế đối lập và tận cùng bởi các quan năng hữu hạn của con người. Trí năng con người không thể đạt đến cảnh giới Hoa Nghiêm của chư Phật, chư Bồ tát, chỉ có trực giác mới đưa con người đến được khi và chỉ khi trong con người lòng trần đã được buông xả.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thiền luận Suzukí tập 3: Trúc Thiên dịch, NXB Tổng Hợp thành phố 2001.
2. Triết học Phật Giáo Hoa Nghiêm Tông: GARMA G.C CHANG Thích Thiện Sáng dịch 2006, NXB Tôn Giáo.
3. Hỗn độn và hài hòa: Trinh Xuân Thuận, NXB KHKT năm 2005.
4. Hiệu ứng con bướm đến Hỗn độn: James Gleick, NXB Trẻ 2009, bản dịch.
Read more…

Ông hoàng Vật lý: Không có hố đen trong vũ trụ

21:31 |
Ông hoàng vật lý Stephen Hawking đã thừa nhận sai lầm trong lý thuyết của mình và cho rằng không hề có hố đen bí ẩn trong vũ trụ.

Mới đây, “ông hoàng vật lý” Stephen Hawking đã khiến giới khoa học quốc tế sửng sốt khi tuyên bố rằng ánh sáng và thông tin có thể thoát ra khỏi hố đen, một tuyên bố hoàn toàn trái ngược với lý thuyết đã tạo nên danh tiếng của ông trong giới khoa học.

Năm 1974, Hawking đã đưa ra lý thuyết về hố đen và bổ sung thêm khái niệm về cơ học lượng tử, châm ngòi cho một cuộc tranh luận gay gắt giữa các nhà khoa học hàng đầu thế giới cho đến tận ngày nay.

Ông hoàng vật lý Stephen Hawking

Tuy nhiên, sau một cuộc đánh cược với một nhà vật lý khác gần đây, Hawking đã tuyên bố rằng vật chất có thể thoát ra khỏi hố đen, đồng nghĩa với việc khái niệm “hố đen” của ông hoàn toàn sụp đổ.

Theo tạp chí New Scientist, ông hoàng vật lý Hawking đã từng tuyên bố rằng khi một hố đen chết đi, nó sẽ hút theo mọi thứ vào bên trong, tuy nhiên quan niệm này lại mâu thuẫn với lý thuyết lượng tử.

Lý thuyết lượng tử lại cho rằng “năng lượng và thông tin có thể thoát khỏi hố đen”. Để giải thích được toàn bộ quá trình này, Hawking cho rằng cần phải có một lý thuyết mới có thể hợp nhất thành công trọng lực với các lực cơ bản khác của tự nhiên. Đây chính là điều đã làm đau đầu các nhà vật lý trong gần một thế kỷ, và Hawking cũng phải thốt lên: “Cách giải thích đúng đắn vẫn còn là một bí mật.”

Hình dung về hố đen trong vũ trụ "nuốt chửng" tất cả vật chất và năng lượng

Tuy nhiên 40 năm sau, ông lại cho rằng ánh sáng và thông tin có thể thoát ra khỏi những hố đen này.

Theo New Scientist, hố đen có các “chân trời biểu kiến”, đó là những mặt phẳng có thể hút giữ ánh sáng, tuy nhiên các chân trời biểu kiến này có thể thay đổi về hình dạng giúp ánh sáng có thể thoát ra ngoài.

Hawking đã tuyên bố rằng giải pháp để giải thích mâu thuẫn là từ bỏ mọi khái niệm từ trước tới nay về thứ đã khiến hố đen trở nên vô cùng bí ẩn, đó chính là “chân trời sự kiện”. Theo lý thuyết của Hawking, “chân trời sự kiện” có thể hút mọi thứ vào bên trong mình và không có vật chất nào có thể thoát ra khỏi nó.

Trong dịp sinh nhật lần thứ 70 của mình được tổ chức trong tháng này, Hawking đã tuyên bố rằng ông coi ý tưởng về việc thông tin bị hủy diệt trong các hố đen là “sai lầm ngớ ngẩn nhất” của mình.

Trí Dũng (Theo New Scientist) (Khampha.vn)
Read more…

Ý thức và vật lý lượng tử

21:26 |
(Đặng Công Hanh)


Luận điểm nổi bật hàng đầu của truyền thống triết học Duy Thức mang một nội dung uyên áo: “Nhất thiết duy tâm tạo” hay cách phát biểu tương tự “Tam giới duy tâm“, “chính tâm là tam giới“. Tất cả đều nói lên ý nghĩa là “Thế giới không gì khác hơn là tâm“. Sự xác quyết như vậy, hệ thống Duy Thức muốn nhấn mạnh rằng tất cả đều sinh từ tâm: sinh tử hay Niết – bàn, khổ đau hay hạnh phúc, chúng sinh hay Phật, Bồ tát.v.v. tất cả đều biểu hiện của tâm – ý – thức.

Ngài Bồ tát Thế Thân (Vasubandhu) có viết rằng: “Do giả lập nên nói có ngã và có pháp“, tức biểu hiện cả hai phần: chủ thể nhận thức và đối tượng được nhận thức. Như vậy biểu hiện của thức là thế giới sơn hà đại địa, sum la vạn tượng mà con người nhận biết. Sự liên hệ chặt chẽ giữa con người và thế giới (chủ thể – khách thể) tựa hồ trạng thái khi ta nhìn các vì sao nhấp nháy trong sâu thẳm mênh mông của bầu trời đêm, ta đã mất hút trong nó và nó đang hiển thị phô trần trong ta. Trạng thái bất khả ly giữa chủ thể tri giác và khách thể đối tượng được tri giác gọi là Duy thức chứ hoàn toàn không phải chỉ có tâm thức mà không có thực tại khách quan.

Như một tiên đề toán học, Duy thức học xác định: Tất cả các pháp (sự vật hiện tượng) đều vô tự tính có nghĩa là nó hiện hữu do duyên hợp mà thành. Do đó khi nói về ngã (chủ thể nhận thức) và pháp (đối tượng nhận thức) chỉ là công ước giả định đối với tất cả hiện tượng sự vật trên cả hai phương diện tâm lý hay vật lý, tuỳ thuộc vào sự biến tấu của tâm thức nên có thể gọi thức – năng biến. Và thức – năng biến có thể nhìn dưới tác năng cụ thể thành 3 loại; đó là Dị thục, Tư lượng và Liễu biệt cảnh.

1/ Dị thục thức còn gọi là Tàng thức và nhất thiết chủng thức. Các danh từ này khác nhau nhằm giải minh tính năng của thức thứ 8.

+ Khái niệm “tàng” chỉ sự dung chứa hay năng lực cất giữ và duy trì các đối tượng của ý thức. Ý thức thực dụng là kho lưu trữ ký ức và kinh nghiệm của mỗi cá nhân, nói chung là tất cả các đối tượng của tâm – ý – thức như hình ảnh, ngôn ngữ, biến cố, khái niệm, ý niệm… Chẳng hạn, một kỷ niệm vui, buồn thời thơ ấu xa xưa ta vẫn còn nhớ được là nhờ vào năng lực của ký ức và ký ức là một trong các chức năng của tàng thức.

+ Nhất thiết chủng thức có ý nghĩa là dung chứa tất cả các hạt giống ý niệm không phân biệt chọn lựa thiện, ác, tốt xấu. Vậy nó có năng lực vô ký hay trung tính. Thông thường mọi hiện tượng diễn biến trong thế giới khách quan cũng như trong tâm thức luôn luôn được sinh khởi từ các hạt giống ý niệm ẩn sâu trong tâm thức và khi chúng ngủ yên ta gọi là “nhân” và sự hiện khởi của nó ta gọi là “quả”.

+ Khái niệm dị thục chỉ rõ sự chín mùi của nghiệp quả hay sự kết tinh “khí chất” của mỗi con người, hoặc nói đến năng lực diễn biến tương quan nhân quả của dòng tâm thức. Vì vậy tính chất tương tục của Tàng thức là luôn luôn trôi chảy như một dòng sông không có sóng vỗ và không bị lôi cuốn theo các giác quan.

2/ Tư lượng thức còn gọi là Mạt na thức, nó ở vị trí thứ 7 (thứ 8 là Tàng thức). Một tên khác là chuyển thức vì có chức năng lưu chuyển hai chiều; một mặt đưa các hạt giống ý niệm mới thu nhận (tân huân) vào Tàng thức; mặt khác tác động làm cho hạt giống ý niệm có sẵn trong Tàng thức trở thành hiện hành. Với chức năng là chuyển thức hai chiều với Tàng thức nên lấy Tàng thức là chỗ dựa để hoạt động nên xem đó là cái bản ngã vĩnh hằng của mình, vì vậy tính khí của Mạt na thức thường biểu hiện cùng với bốn phiền não.

+ Ngã kiến tức là quan niệm sai lầm về tự ngã.

+ Ngã si tức là si mê về tự ngã

+ Ngã mạn hay sự kiêu hãnh về tự ngã

+ Ngã ái hay sự yêu thích tự ngã, yêu cái tôi, cái của tôi.

Bốn dạng phiền não này có thể khái quát bằng khái niệm cơ bản cho Mạt na là “Tình”. Tình ở đâu là dục ái hay bản năng của dục vọng, vừa là nền tảng, vừa mang tính cách bao quát toàn bộ đời sống nhu cầu sinh lý. Do vậy, hình thái của Mạt na chính là sự vận hành của “tư duy hữu ngã” theo nguyên tắc của dục ái kích hoạt tâm lý con người đi tìm sự thoả mãn dục vọng, khoái lạc – một thứ hạnh phúc giả tạo đầy mộng mị phù vân và điên dại chốn trăm năm. Có thể thấy rằng cả hai thức gồm Tàng thức và Mạt na thức là trưng tính và thụ động, không tự giải thoát ra khỏi những chủng tử, những tập khí nhiễm bất tịnh, bất thiện.

3/ Khái niệm Liễu biệt cảnh tức là thức thứ 6 trong hệ thống tám thức, còn gọi là ý thức và năm thức giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Ý thức hoạt động với tư thế: một mặt quan hệ trực tiếp với Mạt na thức, mặt khác tiếp xúc với thế giới thực tại thông qua năm thức giác quan của mắt, mũi, lưỡi, tai và thân. Đây chính là hệ quả của nhận thức (tri giác), sự nhận thức đó gọi là ý thức. Trong hệ thống 8 thức, ý thức có tính năng động và tinh xảo nhất trong mọi tư duy thực hành, ý chí, tâm lý… Chức năng chính là tạo tác, tạo ra các loại nghiệp, từ các hạnh thiện, các mưu mô, tính toán xảo quyệt để làm điều ác bất thiện và cả hạnh không thiện, không ác. Vì vậy các luận sư Duy thức định danh là “Công vi thủ, tội vi khôi“.

Dòng tương tục của ý thức là vô thường, gián đoạn trong các trường hợp: ngủ mê không mộng mị, chết giả khi ngất xỉu hay bất tỉnh, trú trong cõi vô tưởng. Ý thức có phạm vi hoạt động rất rộng và bao quát hơn Tàng thức và
Mạt na, lại mang tính năng thẩm sát nhưng lại không có tính năng hằng hữu.

Ý thức khởi hiện trong các tình huống cơ bản như sau:

- Hiện khởi theo cùng 5 giác quan (tai, mắt, mũi, lưỡi và thân)

- Hoạt động độc lập một mình không quan hệ với các quan năng

- Hoạt động phóng tính ở trong định

- Hoạt động trong lúc thiền định

- Ý thức trong sự điên loạn.

Tóm lại, trong hệ thống tám thức có thể gọi chung là Tâm – ý – thức thì Tàng thức là căn bản thức, trên thực tế là tầng thức sâu xa nhất có tính chất tương tục trôi chảy không hề gián đoạn, có bản chất không bị ô nhiễm (vô phú), không bị điều động qua thiện, ác (vô ký). Đây là cái thấy – biết của Tâm trinh nguyên không nhuộm màu sắc của cảm xúc vui buồn, không khổ không lạc và do vậy nên là dòng nghiệp quả đang tuôn chảy từ vô tận quá khứ. Trái lại, Mạt na thức còn gọi là “Tình thức”, vai trò nền tảng cho sự nhiễm, tịnh vì đối tượng nhận thức của nó là ảo ảnh mà ngỡ là thật, và sự si mê này là bản tính tự nhiên chứ không do ý niệm thiện ác chi phối (vô ký, hưởng phú). Nó trở nên thanh tịnh khi kết duyên với thiền định hay chánh niệm và cũng trở thành phiền não nếu kết duyên với tam độc tham lam, si mê, sân hận.

Cuộc cách mạng thực sự của Tâm chính là ý thức. Đối tượng bao quát của nó gồm thực tại (tánh cảnh), bóng dáng của thực tại (đới chất cảnh) và ảnh tương ẩn dấu trong nội tâm (độc ảnh cảnh). Bản tính của nó gồm có cả thiện, ác và vô ký. Nó có cả trực giác và suy luận (đúng hoặc sai).

* *

Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng và rực rỡ của khoa học vật lý, các nhà bác học tin rằng chúng ta phải vượt qua giới hạn của 5 giác quan tới mức độ lượng tử mới có thể hiểu được trí não và ý thức. Họ khẳng định rằng ngoài các “quá trình phân tử và tế bào vật chất Newton diễn ra trong não bộ và trong cơ thể, còn có sóng dao động, và hoạt động hạ nguyên tử chỉ có thể giải thích bằng vật lý lượng tử”.

Xin nhắc lại: Lượng tử hay hạt có hai loại phẩm tính là tĩnh và động. Tĩnh có đặc trưng quan trọng là khối, điện tích, số spin. Biểu trưng của động của hạt như là vị trí, xung lượng và chiều của spin. Lượng tử vật chất hay lượng tử ánh sáng đều có hai hành tướng hạt và sóng, hành tướng nào phát hiện là tuỳ vào trạng huống trong đó thí nghiệm được thực hiện. Nói theo ngôn ngữ Phật học thì lượng tử là một pháp hữu vi siêu việt và hàm dung hai hành tướng sóng – hạt tương đãi đối nghịch. Và thông tin lượng tử được mô tả là truyền tải các tài nguyên lượng tử mà đơn vị lượng tử là “bit lượng tử”, quantum bit hay vắn tắc là qubit. Đơn vị thông tin lượng tử được miêu tả bởi trạng thái lượng tử của hệ thống lượng tử 2 thứ nguyên. Hai trạng thái lượng tử của qubit gọi là trạng thái cơ bản tương ứng với 2 trạng thái 0 và 1 kí hiệu ½0> và ½1>. Tuy thế hạt nào có R trạng thái lượng tử khác nhau thì tất yếu có vô số trạng thái chồng chập.

Các nghiên cứu hiện đại về trí tuệ – não bộ đã có thể kết luận rằng: “Não bộ là trạng thái đầu tiên, các phần hạ nguyên tử chờ đợi để phát huy tiềm năng bên trong và bên ngoài thể vật chất. Trí não có tiềm năng về năng lượng dao động, cũng trông chờ những kích hoạt từ tư duy, tiếp nhận một thế lực cao hơn để tổng hợp chúng lại thành ý nghĩa, phương hướng và của các sự việc tự nhiên. Quan điểm mới về sự khám phá trí tuệ và nhận thức theo phương pháp lượng tử cho thấy được tính hạn chế do vùng chức năng của “chùm nơ – ron” và giúp cho con người hiểu hơn về trí não, đồng thời các quá trình tư duy.

Cuộc cách mạng về công nghệ đã hỗ trợ những cuộc khảo sát sâu và tỉ mỉ thông qua hoạt động của các electron trên não bộ: chẳng hạn máy (EEG) thông thường hay máy ghi điện não. Phương pháp chụp X quang (PET) cho chúng ta nhìn thấy những vùng trên não có liên quan đến một quá trình tương ứng như vùng não có chức năng suy nghĩ từ ngữ hiển thị màu đỏ, lúc hiển thị màu vàng khi hoạt động của não ít căng thẳng và chủ thể nói ra từ ngữ đó. Phương pháp chụp X quang (PET) và phương pháp hình ảnh cộng hưởng từ (fMRI) dựa trên sự tác dụng liên kết chặt chữ giữa hoạt động thần kinh, sự tiêu thụ năng lượng và dòng máu cục bộ.

Sự phát triển của khoa học vật lý và công nghệ phát biểu với nhân loại rằng: bản chất của thế giới vật chất không phải là vật chất. Những chất liệu cần thiết của vũ trụ lại là phi chất liệu. Vật lý lượng tử nói rằng; “Nguyên tử, đơn vị cơ bản vật chất không phải là thực thể cứng chắc, mà là một hệ thống phân tầng, các trạng thái thông tin và năng lượng trong một khoảng không. Cơ thể con người (sắc thân) được tạo ra từ các nguyên tử, các nguyên tử đến lượt nó được tạo ra từ các hoạt động của hạt hạ nguyên tử chuyển động với vận tốc rất lớn trong khoảng không đó. Các hạt hạ nguyên tử không phải là vật chất, các hạt này chúng là các dao động của năng lượng và thông tin trong một khoảng không. Dưới một ý nghĩa nào đó, cơ thể con người được nhìn nhận từ vật lý không gian thì nó tựa như không gian giữa các thiên hà: cỡ 99,999% cơ thể chúng ta là khoảng trống rỗng: còn 0,01% có vẽ gọi là chất liệu vật chất có dáng vững chắc. Rõ ràng với tỷ lệ chênh lệch đó, cơ thể con người (sắc thân) thực sự chẳng làm bằng gì cả.

Chúng ta tự vấn, cái gì là bản tính của hư không mà mọi thứ đến từ đó? Ý thức (tư duy) rốt cuộc có phải là sự dao động của năng lượng và thông tin? Quan niệm mới của khoa học vật lý thì bản thân vũ trụ là thông tin và năng lượng, thế nên ý thức (tư duy) của con người cũng chỉ là tập trung và định xứ năng lượng và thông tin trong một vũ trụ sống động đầy thông tin và năng lượng. Vì vậy các suy tư chẳng qua chỉ là các sự việc lượng tử tự biến hình đổi thành các sự kiện không – thời gian.

Thông tin lượng tử được xem như thông tin hình thành cơ sở nhận thức (các nhà khoa học có khuynh hướng xem ý thức là sự nhận thức) chuyển thành các tính chất ở cấp độ phân tử…. Mỗi sự trải nghiệm là một sự kiện không – thời gian nên cơ thể con người là một dòng sự kiện không – thời gian. Cơ thể có quá trình khởi đầu và kết thúc, khởi đầu từ hạt thông tin trên ADN, sau đó được tăng trưởng thành một cấu trúc 3 chiều trong không – thời gian và tất cả những trải nghiệm đều là các sự kiện không – thời gian. Thông tin được truyền từ môi trường với hỗn độn lượng tử trong vũ trụ, được biến đổi và được mã hoá theo một cách nào đó trong não bộ và trong toàn cơ thể, sau đó được lưu trữ và sử dụng.

Cấu trúc xử lý của não bộ gồm các dao động điện, ở góc độ nào đó có thể gọi là một chương trình phát thanh hay truyền hình. Chương trình này mã hoá các thông tin bằng cách cuốn lấy không – thời gian thành những sự điều biến thành các tần số các loại sóng (bộ phận tiếp nhận trên đài hay trên ti vi cũng được giải mã theo kiểu cách này). Tương tự như vậy, mạch điện trên bề mặt của não mở ra, giải mã, các quá trình phân phối của mạng lưới liên lạc thành các khu vực kinh nghiệm không – thời gian thông thường.

Cơ thể con người không phải là một kết cấu có tổ chức cố định trong không – thời gian. Nó giống như một dòng sông đang chảy đầy ắp năng lượng, thông tin, kể cả sự thông minh. Thông qua hoạt động sinh lý, trong quá trình đó ta đã làm mới cơ thể. Các nghiên cứu y học cho biết, trong một hành vi hít thở ta đã dựa vào cơ thể từ 10 đến 20 nguyên tử từ vũ trụ và cũng đưa ra ngoài cũng chừng ấy nguyên tử từ nội tạng, và như vậy có hàng vô lượng nguyên tử đã luân chuyển qua các cơ thể của bất kỳ một sinh vật nào sống trên hành tinh này từ quá khứ xa xăm. Cơ thể vật lý là các nguyên tố được tái sinh như đất nước, không khí đều có ý nghĩa trong các hình thức lượng tử, thể khí, thể lỏng và thể rắn. Nó đến rồi đi chỉ trong nháy mắt.

Quả thật, trí não có khía cạnh cơ học, nó thực có một hệ thống năng lượng phát toả, chịu ảnh hưởng và chịu điều khiển bởi các nơ – ron và là một hệ thống chủ đạo của những tương tác hoá học. Điều kỳ diệu hơn cả là khi các nhà khoa học khảo sát các lớp của não bộ, họ gặp một hiện tượng rất lý thú gọi là kẻ “quan sát giấu mặt“. Về sau tại phòng thí nghiệm của Đại học Stanford, các nhà tâm lý học Ernest và Josephine Hilgard đã tiến hành nghiên cứu trên đối tượng người bị thôi miên và nói rằng “kẻ quan sát giấu mặt” dường như có “ý thức“?

Một nhà khoa học khác cũng vừa là nhà phẫu thuật thần kinh nổi tiếng Wilder Penfield đã bị hấp dẫn bởi ý tưởng này và khởi đầu một hành trình tìm kiếm “kẻ quan sát mật“. Khi làm phẫu thuật cho các bệnh nhân bằng cách gây tê cục bộ và dùng một que thăm điện để kích thích các phần khác nhau của vùng não cảm giác; kết quả là bệnh nhân này nhớ lại những hoài niệm xa xưa thông qua giác quan như ngửi thấy mùi hoa cúc, nếm được chiếc bánh kem, nhìn thấy bãi cỏ – nhưng khi Penfield hỏi: “Có phải cô đang đi dã ngoại không?” thì cô trả lời “tôi đang trong phòng phẫu thuật”.

Trong một lần khác, ông kích thích phần vỏ não vận động của một bệnh nhân và tay của bệnh nhân này nâng lên. Ông bất chợt hỏi; “Anh đang chuyển động cánh tay đúng không? Người đó lại trả lời “Tay tôi đang đưa tay“. Sau đó ông lại hướng dẫn: thay vì để tay giơ lên thế này, khi tôi kích thích vào não vận động thì hãy điều khiển tay di chuyển sang chỗ khác, bệnh nhân đã làm đúng y như thế. Vậy ai là người đã đưa ra sự lựa chọn này, trong khi phần vỏ não vận động không thực hiện được điều đó.

Tỷ như trong một giây phút nào đó, ta có nhiều sự chọn lựa như đi phố, nghe nhạc, uống cà phê, đọc sách… và ta chọn việc uống cà phê, thì theo Penfield sẽ không tìm thấy “cái gì” ở trong vỏ não hay trong cơ thể mà nơi đó các tác động đến sự quyết định chọn lựa này. Nói cách khác, sẽ không có cái “ta” thực chất trong cơ thể.

Điều này đã được minh thị qua lời dạy từ 26 thế kỷ của Đức Phật: Con người chẳng có gì khác ngoài 5 uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành và thức kết thành thân xác hiện hữu. Năm uẩn là hiện hữu của cả con người và thế giới, thậm chí những vấn đề của đau khổ và hạnh phúc cũng được xem là các biểu hiện của 5 uẩn. Do đó, Đức Phật dạy:

“Năm uẩn là gánh nặng

Kẻ gánh nặng là người

Cầm lấy gánh nặng lên

Chính cái khổ ở đời.

Đặt gánh nặng ấy xuống

Chính là lạc ở đời“.

Đức Phật sau khi giác ngộ đã tuyên bố rằng tất cả các pháp đều vô thường, vô ngã và không có thực thể. Thuyết vô ngã dạy rằng không tìm thấy gì bên trong hay bên ngoài các hiện tượng Duyên khởi. Vấn đề “ngã” và “vô ngã” là giáo pháp trung tâm của Phật học. Duyên khởi là tiền đề đi vào “Tánh Không” và dưới đôi mắt tuệ giác của Ngài mọi hiện hữu không thể được xem là có hay không, hiện hữu là hiện hữu của Duyên sinh.

Quan niệm của Phật giáo về cả hai bình diện triết học và tôn giáo được đặt trên nền tảng của thuyết Vô ngã và thuyết Duyên khởi. Vì vậy thế giới hiện tượng và đời sống con người chỉ là hiện hữu tương đối không bền vững y cứ trên sự hiện diện của hai yếu tố vật chất và tinh thần đều không có thực thể độc lập tự thân và trống rỗng, nghĩa là Vô ngã.

Trong Trung bộ Kinh Nikàza, Đức Phật dạy: “Tuỳ thuộc vào dầu và tim đèn mà ngọn lửă bùng cháy. Nó không sinh ra từ trong cái này, cũng không phải từ trong cái khác và cũng không có một nguyên động lực trong chính nó. Hiện tượng giới cũng vậy, nó không có cải gì thường tại trong chính nó. Tất cả hiện hữu là không thực có, chúng là giả danh, chỉ có Niết Bàn là chân lý tuyệt đối” .



SÁCH THAM KHẢO

1/ Luận thành Duy thức – Huyền Trang – Tuệ Sĩ chú và dịch – NXB Phương Đông – 2009.

2/ Tâm lý học Phật giáo – Thích Tâm Thiện – NXB TP.Hồ Chí Minh – 2000.

3/ The Emerging mind – Karen Nesbi Shanor – Bản dịch của Văn Thị Hồng Viết – NXB Tri thức năm 2007

4/ Lược sử thời gian: Stephen Hawking – NXB trẻ 2007.

5/ Cái toàn thể và trật tự ẩn - David Bohm – NXB Tri thức 2011

6/ Bản ngã và não bộ – Poper.K.R và J.C. Zccles – NXB New York 1977
Read more…

TÂN VẬT LÝ & VŨ TRỤ LUẬN

21:06 |
Tên sách : Tân Vật lý & Vũ trụ luận
Tác giả : Arthur Zajonc
Dịch giả : Pháp Hiền
Ngôn ngữ : Việt
Số trang : 731
Nhà xuất bản : Văn Hoá Văn Nghệ
Năm xuất bản : 2012
Phân loại : Nghiên Cứu - Khảo Luận
MCB : 12010000011753
OPAC :



Tóm tắt :
TÂN VẬT LÝ & VŨ TRỤ LUẬN

The New Physics and Cosmology
Phật giáo và thế giới lượng tử
Những mẫu đối thoại của các nhà Vật lý mới và Vũ trụ luận với đức Dalai Lama XIV
Arthur Zajonc biên soạn
Pháp Hiền cư sỹ dịch
Thượng tọa Thích Nguyên Giác
Giới thiệu và hiệu đính

Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ

TP. Hồ Chí Minh - 2012

Lời tựa

Nhà vật lý học thiên tài người Đức, Albert Einstein, vào đầu thế kỷ 20 đã có một nhận xét khá đặc biệt về Phật giáo: “If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism riqires no revision to keep it up to date with recent scientific fidings. Buddhism needs no surrender its view to science, because it embraces science as well as goes beyond science.” Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng những nhu cầu của khoa học hiện đại, thì đó là Phật giáo. Phật giáo không đòi hỏi phải xét lại mình để cập nhật với những khám phá gần đây của khoa học. Phật giáo không cần từ bỏ quan điểm của mình để đi theo khoa học, vì nó bao gồm khoa học cũng như vượt qua khoa học.

Việc ông dành cho Phật giáo một vị trí nổi bật như vậy giữa tất cả các tôn giáo đang có mặt trên thế giới, xuất phát từ niềm thao thức đi tìm một đạo lý có giá trị phổ biến, bao quát cả đời sống thiên nhiên lẫn tinh thần, để xây dựng một cuộc sống an lạc đầy ý nghĩa trên hành tinh này, trong bối cảnh khoa học đang có những khám phá mới làm thay đổi các quan điểm cũ mà một thời từng được xem như những chân lý tuyệt đối.

Trên mặt vi mô, vật lý học lượng tử đối mặt với những khám phá mới liên hệ tất yếu đến vai trò của dụng cụ quan sát trong việc quyết định các tính chất ánh sáng, như lưỡng tính sóng
– hạt (wave – partile duality), tính ngẫu nhiên khách quan của các sự kiện lượng tử (objective randomness of quantum events – Những sự kiện lượng tử vô thủy), tính phi định xứ của hạt (nonlocality), tính liên kết giữa nhiều hạt (multiparticle entanglement) v.v…

Trên mặt vĩ mô, thiên văn học mở ra cho con người thấy một vũ trụ mới mẻ, sinh động và bao la. Vũ trụ không phải chỉ có một hệ mặt trời, một dải ngân hà được xếp đặt trong một trật tự cố định, mà thực tế, dưới những ống kính thiên văn có công suất lớn, và dưới cái nhìn của thuyết Big Bang, vũ trụ hiện ra kỳ diệu, bao la với vô số hệ mặt trời, vô số thiên hà đang trong quá trình hình thành và hủy diệt không ngừng.

Những khám phá mới mẻ này một mặt làm đảo lộn các giá trị cổ điển trong hệ thống vật lý học Newton và các quan điểm vật lý khác trước đó. Mặt khác, lần đầu tiên trong lịch sử khoa học nhân loại, nó xóa tan lằn ranh ngăn cách giữa dụng cụ quan sát với đối tượng, nghĩa là giữa chủ thể và khách thể. Khách thể không còn là một sự vật độc lập ngoài chủ thể và ngược lại. Chính điều này làm người ta thấy nội dung những khám phá khoa học mới mẻ ấy ảnh hiện thấp thoáng trong giáo lý Phật giáo, một giáo lý đặt cơ sở trên nguyên lý duyên khởi (pratītyasamutpāda), gồm nhiều điều do chính đức Phật tuyên thuyết cách đây trên hai ngàn rưỡi năm, hay những hệ tư tưởng được các bộ phái hình thành về sau.

Người ta có thể tìm thấy nội dung tương đồng giữa những khái niệm mới mẻ trong khoa học lượng tử với những khái niệm căn bản của Phật giáo, chẳng hạn khái niệm lưỡng tính sóng hạt với Duy Thức (vijnaptimatra) mà trong kinh Phạm Võng đức Phật trình bày một cách cụ thể: “Tayidam, bikkhave, Tathāgata pajānāti: ime ditthitthānā ‘ti tanca Tathāgato pajānāti tato ca uttaritaram pajānāti.”

“Này các Tỷ-kheo, Như Lai biết điều này: “Rằng những quan điểm này được nắm bắt như vậy, được chấp trước như vậy, sẽ hình thành những đường đi như vậy, những định mệnh như vậy.” Như Lai biết điều ấy, và Như Lai còn biết nhiều hơn điều ấy nữa.”

Hay tính ngẫu nhiên khách quan của các sự kiện lượng tử với khái niệm vô thủy trong Phật giáo: “Purimā koti na panāyati bhavatanhāya – io pubbe bhavatanhā nāhosi atha pacchā sambhavī’ti, eancetam vuccati. Atha ca pana pannayati – īdaccayā bhavatanhā (Anguttara X. 61-62 Āhāra): Không thể biết điểm tối sơ của hữu ái để nói rằng trước điểm đó không có hữu ái, sau này nó mới xuất hiện. Nhưng có thể biết được rằng do duyên cái này mà có hữu ái.

Tính phi định xứ với khái niệm vô ngã (nairātmya) hoặc tánh không (sūnyatā); Tính liên kết giữa nhiều hạt với khái niệm trùng trùng duyên khởi.

Tính chất quan trọng nhất trong các nội dung tương đồng này là sự tương quan giữa dụng cụ quan sát và đối tượng, giữa chủ thể và khách thể, mà khoa học mô tả bằng khái niệm “lưỡng tính sóng hạt”, còn Phật giáo thì bằng khái niệm “duy thức”

– Vũ trụ được định hình do Thức Căn, tức nghiệp của chúng sinh. Tính chất này mở đường cho tính nhân văn trong khoa học. Khoa học không những phải có trách nhiệm đạo đức trong cách nghiên cứu của mình, mà còn có thể khám phá ra những cơ sở khoa học của nền đạo đức ấy cho thế giới. Phương pháp luận về giải thoát đặt nền móng trên tư tưởng Tánh Không và Duy Thức của Phật giáo hứa hẹn gì cho những nghiên cứu của khoa học trong phương diện này? Albert Einstein đã thấy gì khi ông nói:

“The religion of the future will be a cosmic religion. It would trascend a person God and avoid dogmas and Theology. Covering both the natural and spiritual, it should be based on a religious sense, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism ansers this description.” Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên một đấng thần linh, và không còn giáo điều, và thần học. Bao quát cả tự nhiên và tinh thần, tôn giáo ấy phải đặt nền móng trên một ý thức đạo lý khởi lên từ cái kinh nghiệm thấy toàn thể mọi vật, tự nhiên và tinh thần, là một thể thống nhất đầy ý nghĩa. Phật giáo đáp ứng điều kiện này”.

Những vấn đề nêu trên là những đề tài được thảo luận chi tiết và thẳng thắn giữa các nhà khoa học hàng đầu trong vật lý học lượng tử và vũ trụ học với đức Đạt-lai Lạt-ma cùng các phụ tá của ngài. Cuộc đối thoại này giữa các nhà đại diện cho Khoa học và Phật giáo diễn ra tại Dharamsala, thủ phủ của Phật giáo Tây Tạng và đã được Arthur Zajonc ghi lại trong cuốn “The new physics and Cosmology, Dialogues with the Dalai Lama”.

Phật tử Pháp Hiền có duyên tiếp xúc với cuốn sách trên, và đã dịch ra tiếng Việt. Làm việc này, trước hết anh muốn san sẻ niềm vui hiểu biết của mình với những ai quan tâm đến Khoa học cũng như Phật giáo. Thứ nữa, trong cương vị một người Phật tử, bằng niềm tin chân chánh, anh muốn góp phần vào việc hoằng pháp lợi sanh. Dịch xong, anh ngỏ ý nhờ chúng tôi viết lời tựa cho dịch phẩm của mình. Thể theo chỗ thân tình, chúng tôi mạo muội viết đôi lời trân trọng giới thiệu dịch phẩm của anh với độc giả. Mong rằng tâm nguyện của anh sẽ được như ý.

Tayidam, bikkhave, Tathāgata pajānāti: ime ditthitthānā evam gahitā evam prāmatthā evam gatikā bhavanti evam abhisamparāyā ‘titanca Tathāgato pajānāti tato ca uttaritaram pajānāti; tanca pajānanam na paramasati, aparāmasato cassa paccattann eva nibbuti vidtā / vedānam samudayan ca atthangaman ca assādan ca ādīnavan ca nissaranan ca yathābhūtam vidittvā anupādāvimutto, tathāgato.

Ime khoti, Bikkhave, dhammā gambhirā duddassa, duranubodhā santtā panātā atakkāvacarā nipunā panditavedanīyā, ye tathāgato sayam abhinnā sacchikatvā, pavedeti yehi tathāgatassa yathābhuccam vanam sammā vadamānā vadeyyuh.

Này các Tỷ-kheo, Như Lai biết điều này: “Rằng những quan điểm này được nắm bắt như vậy, được chấp trước như vậy sẽ dẫn đến những đường đi như vậy, những định mệnh như vậy.” Như Lai biết điều ấy, và Như Lai còn biết nhiều hơn điều ấy nữa. Dẫu biết điều ấy, Như Lai không chấp trước nó, và nhờ không chấp trước, Ngài cảm nhận được sự an tịnh trong nội tâm. Sau khi biết như thật sự tập khởi, sự diệt trừ, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly các cảm thọ. Này các Tỷ-kheo, Như Lai giải thoát khỏi sự chấp thủ.

Này các Tỷ-kheo, những pháp này sâu xa, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, tuyệt diệu, ngoài tầm lý luận và chỉ người có trí mới chứng nghiệm được.

Thích Nguyên Giác


MỤC LỤC

Lời tựa
Tự ngôn
Những người tham dự
Khúc dạo đầu
Thực nghiệm và ngịch lý trong vật lý lượng tử
Quán chiếu triết học trên thực tại lượng tử
Không gian, thời gian và lượng tử
Quan điểm của Phật giáo về không gian và thời gian
Lý luận học lượng tử hội ngộ cùng lý luận học Phật giáo
Tác dụng tham gia và tri kiến đặc thù (tri kiến tự chứng)
Sự liên hệ giữa tri thức khoa học và kinh nghiệm loài người
Trầm tư thế giới, mặc tưởng thức tâm
Chân dung mới của vũ trụ
Nguồn gốc vũ trụ và quan hệ nhân quả trong Phật giáo
Khoa học trong sự tìm kiếm một thế giới quan đích thực
Tri kiến và khổ đau.


Read more…

Khả năng “Thần giao cách cảm” của con người

02:16 |
Có rất nhiều câu chuyện ly kì về những người có khả năng cảm nhận được suy nghĩ của người khác. Trong một số hoàn cảnh đặc biệt, một số người có thể linh cảm được những mối nguy hiểm, sợ hãi hay vui mừng... xảy đến đối với người thân của họ (mà người ta hay gọi là giác quan thứ 6). Những cảm nhận này thường tập trung ở những người có mỗi quan hệ rất thân thiết, gần gũi như cha mẹ - con cái, anh chị - em, đặc biệt xảy ra nhiều đối với các cặp song sinh.


Đó là những trường hợp xảy ra tự nhiên. Liệu con người ta có thể tạo ra khả năng này một cách chủ động (thông qua luyện tập) được không? Trong cuốn “Huyền thuật và đạo sĩ Tây Tạng”, tác giả Alexande David Nill đã kể lại khá chi tiết những điều bà tận mắt chứng kiến về vấn đề này (đây là 1 học giả người Pháp rất nổi tiếng, bạn nào đã học tiếng Anh bằng cuốn “Cause and Effect” chắc hẳn đã biết về bà). Bà đã đi khắp Tây Tạng và tiếp xúc với rất nhiều vị Lạt ma có khả năng kì lạ. Một số Lạt ma có thể đọc được suy nghĩ của người khác một cách dễ dàng, thậm chí họ còn có thể liên lạc được với nhau qua những khoảng cách rất xa nhờ ý nghĩ!
Điều kì lạ còn ở chỗ: suy nghĩ của con người có thể bị đọc bất chấp sự khác biệt về mặt ngôn ngữ (ban đầu Tác giả còn chưa biết tiếng Tạng, các Lạt ma thì hiển nhiên không biết tiếng Pháp! Vậy mà các Lạt ma dường như đọc được mọi suy nghĩ của bà).

Vậy phải giải thích vấn đề này như thế nào? Liệu suy nghĩ của con người có thể bức xạ ra ngoài không gian hay không, và con người có thể cảm nhận được bức xạ suy nghĩ của người khác hay không?

1. Nghiên cứu khả năng bức xạ tín hiệu của bộ não

Trong bài viết về khí công, ta đã biết về khả năng bức xạ của cơ thể nói chung. Tất nhiên bộ não cũng không ngoại lệ. Vấn đề là ở chỗ: Bộ não là trung tâm tư duy của cơ thể, và sóng bức xạ từ bộ não ra ngoài có chứa đựng các thông tin về khả năng tư duy, các ý nghĩ của con người hay không?

Bộ não điều khiển cơ thể bằng cách nào?
Khi bộ não muốn ra lệnh cho một bộ phận của cơ thể, tín hiệu điều khiển sẽ đi theo các dây thần kinh tới bộ phận đó. Tín hiệu thần kinh cũng là 1 loại sóng điện từ đặc biệt - sóng sinh học. Nhưng khác với Khí, sóng thần kinh có mang “thông tin điều khiển” (suy nghĩ), còn khí đơn thuần thì không mang thông tin về ý thức.

Người ta có thể đo được các sóng thần kinh này, thông qua đó kiểm tra trạng thái hoạt động của bộ não, phát hiện được các bệnh liên quan đến não. Y học hiện đại gọi đó là phương pháp điện não (chắc hẳn mọi người đều biết phương pháp này, nó rất phổ biến trong các bệnh viện). Người ta gắn quanh đầu bệnh nhân các điểm tiếp xúc, có dây dẫn tới thiết bị xử lý, vẽ, rồi in ra các đồ thị trạng thái (điện não đồ).

Ý thức có thể bức xạ ra ngoài cơ thể hay không?
Tín hiệu điện não có thể lan ra ngoài hộp sọ, tới bề mặt ngoài cùng của đầu, lại theo dây dẫn tới máy đo (như đã nói trong phương pháp điện não). Vậy thì việc dao dộng điện não đó tiếp tục lan truyền từ bề mặt cơ thể ra ngoài không gian cũng là điều dễ hiểu. Điều cần xem xét là tín hiệu đó truyền được bao xa, và con người có thể điều khiển được tín hiệu đó ở môi trường bên ngoài hay không?

Để nghiên cứu vấn đề trên, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều thí nghiệm khác nhau. ở đây chỉ xin trình bày 2 thí nghiệm (đã chiếu trên VTV2).

a) Thí nghiệm ở Italia:
Người tham gia thí nghiệm được gắn các điểm tiếp xúc vào đầu (giống như phương pháp điện não). Các điểm này được nối dây tới một máy tính. Người đó sẽ tập trung suy nghĩ, điều khiển bộ não tới những trạng thái khác nhau (thư thái, vui vẻ, nóng giận...). Các tín hiệu này được truyền về máy tính. ứng với các trạng thái đó, trên màn hình sẽ hiện ra 1 chữ cái. Từ đó người tham gia thí nghiệm có thể soạn thảo được một văn bản bằng ý nghĩ mà không cần đụng tay vào bàn phím!

b) Thí nghiệm ở Thuỵ Sĩ:
Cũng tương tự thí nghiệm trên, người tham gia thí nghiệm được gắn các điểm tiếp xúc, nhưng dây dẫn được nối tới 1 robot đơn giản. Bằng ý nghĩ của mình, người đó có thể điều khiển robot chuyển động theo ý muốn (tiến, lùi, rẽ trái, rẽ phải...)

Qua các thí nghiệm trên ta thấy: ý nghĩ của con người có thể được truyền ra khỏi cơ thể, và con người hoàn toàn có khả năng điều khiển được các bức xạ ý thức này.

2. Sự cảm nhận tín hiệu của bộ não con người

Làm cách nào con người có thể cảm nhận được môi trường xung quanh? Đó là nhờ các giác quan. Tất cả những thông tin mà các giác quan thu nhận được sẽ chuyển thành các tín hiệu thần kinh và truyền về não. Não nhận tín hiệu này, phân tích, xử lý, lưu trữ... Như vậy, có rất nhiều loại thông tin khác nhau như ánh sáng, âm thanh, mùi, vị... được chuyển hoá thành dạng tín hiệu thần kinh phù hợp với bộ não, để não có thể thu nhận được.

Nói một cách đơn giản, con người giống như một chiếc máy tính, thông tin có thể đưa vào máy tính dưới nhiều dạng khác nhau: Hình ảnh (scanner), âm thanh (micro), bàn phím, chuột... nhưng khi đã đưa tới bộ phận xử lý thì tất cả các thông tin đó đều phải chuyển về dạng nhị phân hết!

Từ đó, người ta đặt ra câu hỏi: có phải ngũ quan (5 giác quan) là con đường duy nhất để con người tiếp nhận thông tin từ bên ngoài? Nếu trong không gian có tồn tại những tín hiệu mang thông tin phù hợp với não thì bộ não có khả năng cảm nhận nó trực tiếp mà không cần 5 giác quan kia không? Rõ ràng về mặt logic, điều đó là hoàn toàn hợp lý. Tiếc rằng với trình độ của khoa học hiện nay chưa thể chế tạo được các thiết bị có khả năng bức xạ ra các sóng như vậy. Nhưng, như đã trình bày ở phần trên, chính bộ não của con người - bộ máy tuyệt vời của tự nhiên - lại làm được điều đó.

Bộ não làm việc hầu như không ngừng nghỉ (kể cả khi ngủ), đồng thới nó liên tục bức xạ các sóng thần kinh ra môi trường xung quanh. Nếu vậy, tại sao hầu như tất cả mọi người không cảm nhận được tín hiệu này? Có nhiều nguyên nhân khác nhau:

+ Đối với đa số người, tín hiệu thần kinh bức xạ ra là yếu, và nó còn bị suy hao do ảnh hưởng của môi trường, do đó nó chỉ có thể đi được một khoảng cách ngắn chứ không thể truyền xa. Chỉ những người được luyện tập bài bản, nội khí mạnh mẽ, sóng thần kinh của họ mới phát xa được. Đôi khi những hoàn cảch đặc biệt như sợ hãi, hoảng hốt, hay vui sướng cực độ cũng có thể kích thích bộ não người bình thường phát ra những bức xạ mạnh.

+ Mỗi bộ não lại có đặc điểm riêng và phát ra những bức xạ riêng. Do đó, mỗi bộ não chỉ có thể cảm nhận được những tín hiệu thần kinh phù hợp với nó chứ không phải mọi tín hiệu có trong môi trường. (Giống như một chiếc đài chỉ có thể thu được những sóng trong dải tần của nó, ngoài dải đó ra thì không thể thu được). Hiện tượng thần giao cách cảm tự nhiên (mà ta đề cập tới ở đầu bài viết) xảy ra chủ yếu đối với những người thân trong một gia đình, có lẽ là nhờ có những điểm tương đồng trong bộ não của họ.

Một số người do luyện tập có thể đạt được khả năng cảm nhận được nhiều loại sóng khác nhau. Tâm trí họ phẳng lặng, giống như một mặt nước, mà bất cứ một rung động nhỏ nào trong không gian cũng có thể tạo ra một gợn sóng trên đó.

Còn vấn đề về rào cản ngôn ngữ thì sao? Rõ ràng dù là người Anh, Pháp, hay Trung Quốc thì khi suy nghĩ cũng vẫn chỉ phát ra “các sóng thần kinh của con người” mà thôi, mà các sóng này đâu có phân biệt ngôn ngữ hay quốc tịch!

Một trường hợp nữa mà ta muốn đề cập tới ở đây, đó là: liệu một bộ não có thể cảm nhận được bức xạ thần kinh của chính bộ não đó hay không? Tất nhiên bức xạ thần kinh của bộ não đó thì phải phù hợp với khả năng cảm nhận của chính nó. Tuy nhiên, khi bức xạ đã phát ra ngoài thì nó thường bị suy hao hết do môi trường. Một số trường hợp do bức xạ đó quá mạnh (hoặc chứa các vi hạt không suy hao), truyền trong môi trường, đập vào các vật cản của môi trường (mà không bị suy hao hết), phản xạ trở về bộ não chủ, mang theo thông tin phản ánh về môi trường cho bộ não. (giống như nguyên lý hoạt động của rađa, hay cách tìm đường của con dơi). Nhờ đó tạo ra những khả năng đặc biệt của con người như nhìn xuyên (thấu thị), xuất vía... (vấn đề này còn có nhiều tranh cãi, rất mong các bạn góp ý, đặc biệt là những người có kinh nghiệm trực tiếp).

3. Luyện tập “Thần giao cách cảm”

Trong cuốn “Huyền thuật và đạo sĩ Tây Tạng”, bà A. D. Nill đã mô tả về một lớp học thần giao cách cảm như sau:

Đầu tiên, các học viên phải học tập trung tư tưởng, tập thở, tập thiền... Khi đã đạt một trình độ nhất định, họ sẽ được ngồi chung phòng với người thầy (thường là một vị lạt ma nhiều kinh nghiệm). Người thầy sẽ phát ra những luồng suy nghĩ lặp đi lặp lại, còn người học sẽ tập trung để cảm nhận suy nghĩ của người thầy. Khoảng cách giữa thầy và trò ban đầu là ngắn, sau tăng dần tuỳ thuộc vào sự trưởng thành của người học. Thường thì đa số học viên có thể nhận được thông tin từ thầy, nhưng không phải ai cũng có thể phát lại thông tin trả lời (khi ở khoảng cách xa).

Trong Thế chiến thứ 2, quân đội Mỹ rất quan tâm tới khả năng đặc biệt này của con người. Nhiều lớp huấn luyện đặc biệt cho các nhân viên tình báo đã được tổ chức. Họ được đào tạo về khả năng thần giao cách cảm, phục vụ cho việc trao đổi thông tin tình báo. Nhiều cuộc thí nghiệm cho thấy họ có thể truyền tin cho nhau ở khoảng cách xa hàng trăm Km. Có 1 thí nghiệm như sau:
Một nhân viên tình báo ở trên 1 con tàu bằng thép ở xa ngoài khơi, một người khác thì ở trên bờ. Kết quả là họ vẫn có thể trao đổi thông tin, dù tín hiệu điện não phải đi xuyên qua lớp thành tàu bằng thép dày hàng chục centimet! (thông tin này tôi đọc trên tạp chí Tri thức trẻ).

Ở Việt nam cũng có những lớp học về khả năng này. Tại một trường ĐH ở Hà nội có một giảng viên rất giỏi về khí công. Ông thường lựa chọn trong số SV của mình những người có tố chất để huấn luyện. Kết quả của các lớp học khá khả quan (tất nhiên là chưa thể đạt được trình độ cao như ở trên). Vào các buổi kiểm tra, ông thầy thường tập trung suy nghĩ vào 1 chữ cái hoặc chữ số, sau đó yêu cầu các SV trả lời (tỷ lệ thành công đạt tới trên 60%).

(Theo tinmoi.vn)
Read more…

Mấy Thấy Tu Huyền Bí Ở Tây Tạng Và Mông Cổ

03:40 |

MỤC LỤC TỔNG QUÁT

MẤY LỜI ĐẦU

PHẦN THỨ NHÁT: CUỘC VÂN DU CỦA MỘT BÀ ĐẠO NHÂN
1.Vị sư kỳ lạ
2 .Cây linh thiêng của đức Tsong-Khapa
3.Mấy vị thượng tọa tái sanh
4.Một gương nghị lực
5. Phép chạy đường trường
6. Phép chuyển lửa trong mình
7. Phép chuyển di tư tưởng
8. Tu thiền

PHẦN THỨ HAI: MỘT NGƯỜI PHÁP LÀM THẦY TU
9. Một người Pháp làm thầy tu Tây Tạng
10. Tại chùa Chumi-Jadsa
11. Thỉnh chư thần hộ trợ
12. Đến Lhassa, gặp thần tiên tri
13 . Vị sư làm sấm sét
14. Buổi mật nghị
15. Trên đường tu luyện
16. Nơi miền an lạc

PHẦN THỨ BA: MỘT TU SĨ Ở MÔNG CỔ
17. Một vị sư chiến sĩ.


MẤY LỜI ĐẦU

Sách này được phân làm ba phần:

Phần thứ nhất, từ mục thứ nhất đến mục thứ 9, là những điều trông thấy của bà Alexandra David Neel trong thời gian bà du hành bên xứ Tây Tạng.

Phần thứ hai, từ mục thứ 10 cho đến mục thứ 17, ghi lại những cuộc khảo sát và nghiên cứu của ông Jean Marquès Rivière, một người Pháp có đến Tây Tạng và thọ giới xuất gia, tu trì trong các ngôi chùa lớn bên ấy. Riêng về ông J. M. Rivière, sẽ được đề cập đến trong mục thứ 10.

Phần thứ ba, trích dịch trong quyển “Từ Súc sinh, Nhân loại đến Thánh thần” của ông Ferdinand Ossendowski, một nhà mạo hiểm người Ba-lan đã từng đến Mông Cổ và Tây Tạng. Ông này được một vị thượng tọa chùa Na-ra-băn-si, là người được tôn sùng như một vị Phật sống thời nay, ban cho một chiếc nhẫn quý. Nhờ vậy, nên khi đi qua các nơi trong xứ Mông Cổ và Tây Tạng, ông thường được người ta ủng hộ một cách nhiệt thành. Nhất là giới tăng sĩ ở các chùa luôn đón tiếp ông như một người đã đắc Đạo đi truyền Pháp. Nhờ vậy mà ông được biết lắm điều huyền bí trong chốn cửa Thiền.

Ở đây, xin nói qua về bà Alexandra David Neel. Bà là một nhà tu người Pháp. Có kẻ nói bà là người Mỹ, song theo lời tự nhận của chính bà, thì bà là người Pháp. Vì ham mộ giáo lý đạo Phật nên bà đã từng đặt chân đến nhiều nơi có những ngôi chùa xưa và tham học với nhiều vị danh tăng. Bà đã viếng khắp cõi Thiên Trúc, có làm lễ ở những nơi thờ dấu tích và tro tàn xá-lợi của đức Phật. Bà cũng có đến nước Nhật, dự nhiều buổi lễ trang nghiêm trong các chùa lớn do các vị lão tăng chủ trì. Bà có sang Trung Hoa, từng sống cuộc đời thanh tĩnh giữa chư tăng trong một số ngôi chùa cổ ở Bắc Kinh. Đặc biệt là bà có viếng qua khắp những miền linh thiêng trong xứ Tây Tạng, nương náu trong vòng mười bốn năm ở các đỉnh núi tuyết, gần gũi với các vị danh tăng đạo cao đức cả. Chính bà có quen thân với đức Ban-thiền Lạt-ma, một trong các vị đứng đầu hàng tăng sĩ Tây Tạng mà khắp xứ đều tôn trọng và xem như là hóa thân của đức Phật A-di-đà. Bà là người tận tâm với Phật Pháp, đã từ bỏ nếp sống phong lưu, quý phái mà chịu nhọc nhằn sống đến các nơi hẻo lánh để cầu Đạo, cho nên bà biết nhiều chuyện tích rất hay. Tuy chính phủ Tây Tạng vẫn cấm người da trắng vào xứ này, song bà được chính giới tăng sĩ giúp đỡ nên bước đường tu niệm và nghiên cứu của bà đều được dễ dàng hơn. Bà có soạn nhiều quyển sách giá trị về Phật giáo và về phong tục xứ Tây Tạng. Có thể kể ra đây một số như là:

– Những cuộc thuyết pháp của các vị Lạt-ma)

– Cuộc du hành của một người phụ nữ Paris đến Lhassa( )

– Pháp thuật vì ái tình và tà thuật – Những phong tục xứ Tây Tạng mà rất ít người biết đến

– Vị Lạt-ma đắc ngũ thông

– Mấy thầy tu huyền bí và chư vị Pháp sư ở Tây Tạng( )

Phần thứ nhất trong sách này có 9 mục, được soạn từ nơi quyển “Mấy thầy tu huyền bí và chư vị Pháp sư ở Tây Tạng” vừa kể trên. Quý độc giả có lòng muốn tu học, nên xem qua cho biết sự tu luyện khó nhọc, cam go của các vị tăng sĩ trên vùng cao núi tuyết. Quý ngài sẽ thấy nhiều sự linh diệu, ly kỳ và nhiều phép huyền vi của các vị tu hành chân chính.

Soạn dịch và cho ra đời quyển sách này, tôi mong muốn là sẽ góp được một phần nào phổ biến rộng thêm giáo lý nhà Phật, khuyến khích những ai còn nghi ngờ trở nên tin chắc, giúp cho các vị cư sĩ tu tại gia đem lòng tín phục mà công nhận rằng: tinh thần được trau luyện kỹ thì trở nên mạnh mẽ vô ngần, và cầu cho các bậc xuất gia càng dũng mãnh mà tiến tới trên đường đức hạnh và giải thoát.

Đoàn Trung Còn

Phần thứ nhất: CUỘC VÂN DU CỦA MỘT BÀ ĐẠO NHÂN

1.Vị sư kỳ lạ (Theo lời tự thuật của bà A. DAVID NEEL)

Năm ấy tình hình chính trị trong xứ có những biến động nghiêm trọng nên đức vua Tây Tạng ngự giá ra khỏi xứ. Ngài đến đóng trại nơi biên thùy trong cõi Thiên Trúc. Thật là cơ hội rất may cho tôi để bệ kiến ngài và cầu ngài giải đáp những điều tôi muốn biết về đạo Phật ở Tây Tạng.

Những người ngoại quốc được phép đến chầu ngài thật ít lắm. Tuy ngài đi tỵ nạn, nhưng cũng không để cho một người đàn bà ngoại quốc nào đến gần long thể. Thật ra, trong hàng phụ nữ ngoại quốc, duy có mình tôi được bệ kiến ngài thôi.

Một buổi sáng mát mẻ mùa xuân, tôi từ giã thành Darjeling để đến thành Kalimpong, chính là nơi đang dừng binh hạ trại của đức vua.

Trong khi ngựa bước gập ghềnh theo sườn non, tôi những tưởng cuộc du hành của mình chắc cũng chẳng lâu lắm, và vẫn nghĩ rằng sẽ đến phỏng vấn đức vua rồi thôi, chẳng ngờ đâu cơ hội ấy hóa ra lại là một dịp may đưa tôi đi khắp các nơi trong nước Tây Tạng. Sau khi gặp vua, lòng tôi bỗng sinh ra vô cùng ngưỡng mộ giáo lý đạo Phật đang lưu hành trong xứ Tây Tạng, thành ra cuộc hành trình của tôi kéo dài ra hơn mười năm.

Khi gặp vua, ngài có nói với tôi một câu rằng: “Bà nên học tiếng Tây Tạng.” Câu nói của Ngài càng làm tôi thêm hừng chí. Lúc đầu, khi mới ra đi, tôi nhớ tới lời ấy mãi, và tôi bỗng có ý tưởng ngộ nghĩnh rằng, dường như Ngài là một người trông thấy có kẻ đi vòng ngoài rào toan tính vào nhà mình, bèn chỉ ngõ cho kẻ ấy biết để mà vào cho nhanh.

Quả thật, lời nói ấy cũng như Ngài muốn chỉ cho tôi cách thức để đi vào xứ sở nghiêm cấm của Ngài, để gặp được những cao tăng danh đức, để thọ giáo với những bậc tu hành đắc đạo ở toàn xứ Tây Tạng, và nhất là ở kinh thành Lhassa.

Tại Kalimpong, đức vua ngự trong một cảnh biệt thự rộng lớn của vị đại thần ở triều vua xứ Bhoutan. Từ con đường chính đi vào đến hành cung, hai bên đường đều có dựng những cây phướn có câu chân ngôn “Án ma ni bát di hồng” và một số cây phướn có hình con ngựa bay với những câu linh phù. Theo chầu quanh vua có cả trăm người, hết thảy đều có dáng vẻ ung dung, tự tại. Và lúc nào cũng có quan khách cùng đi với những người hầu cận đến để xin bệ kiến đức vua tại hành cung.

Trước hôm từ giã ngài, tôi có chứng kiến một cuộc thủ hộ do ngài ban phép lành cho cả ngàn người. Sự thủ hộ của vua Dalai-Lama có khác với nghi lễ ban phép lành của đức Giáo hoàng ở thành La Mã. Đức Giáo Hoàng thường ban phép chung cho nhiều người, có khi là cả ngàn người một lượt. Còn ở Tây Tạng, đức vua ban phép lành riêng cho từng người. Đối với những người theo chi phái Lạt-ma giáo của đạo Phật ở Tây Tạng, có ba cách thủ hộ, theo mức độ khác nhau. Cách thứ nhất là lấy hai bàn tay mà sờ lên đầu người thọ phép, tức là cách thủ hộ vinh dự và cao diệu hơn hết. Cách thứ hai là lấy một bàn tay mà sờ đầu, hoặc có khi dùng hai ngón tay, thậm chí một ngón tay mà sờ lên đầu người thọ phép, cũng đều là cách thủ hộ có tánh cách trân trọng. Cách thủ hộ thứ ba là cách thông thường nhất và thường được áp dụng rộng rãi nhất cho mọi người, là dùng cây phất trần có những mảnh lụa khác màu buộc vào nơi cán mà gõ nhẹ lên đầu người thọ phép.

Người đạo Phật ở Tây Tạng tin rằng việc làm phép thủ hộ tức là truyền sự thanh tịnh, trong sạch của chư Phật xuống đến người ban phép thủ hộ, và cũng truyền sức huyền diệu của phép thủ hộ qua cho người thọ phép, cho nên các vị mới cần phải lấy tay mà sờ vào đầu người thọ phép.

Những người có thiện tâm hành cước đến thành Kalimpong để thọ lễ thủ hộ của vua thật là đông đảo vô cùng. Điều ấy cho thấy rằng dân chúng vẫn sùng bái Ngài nhiều lắm. Người ta lần lượt kéo nhau đi ngang dưới ngai rồng giờ này qua giờ kia không dứt. Chẳng những người đạo Phật gốc xứ Tây Tạng thọ phép thủ hộ mà thôi, mà người các đạo khác ở xứ Bengale cũng đến để chờ được sự ban phép lành của đức vua. Chính mắt tôi thấy có nhiều người, ban đầu chỉ định đến xem cho biết, nhưng rồi sau cùng như chịu một sức hấp dẫn huyền vi nào đó, thúc giục họ đến nhập bọn mà thọ phép thủ hộ.

Trong khi nhìn quang cảnh ấy, tôi để ý thấy từ xa có một người ngồi dưới đất, tóc rối, quấn tròn theo kiểu những vị tu khổ hạnh bên Thiên Trúc. Nhưng người ấy dáng vẻ không phải là người Thiên Trúc. Người che thân bằng một cái áo của hàng sa-môn Lạt-ma giáo, vẻ như đã rách nát tự lâu đời, và có để một cái túi vải bên mình. Ông thầy tu ấy ngồi nhìn mọi người với một vẻ rất khinh miệt. Thấy vậy, tôi mới gọi Dawasandup là vị sư đang làm thông ngôn cho tôi và chỉ cho thầy xem. Thầy Dawasandup đáp rằng: “Chắc là một vị sư huyền bí Naldjorpa đi lữ hành.” Thấy tôi tò mò muốn biết thêm, thầy liền đến hỏi chuyện với vị sư ấy. Khi trở lại, thầy có vẻ nghiêm nghị mà nói rằng: “Ngài là một vị sư Lạt-ma gốc ở xứ Bhoutan, thường đi khắp đó đây. Khi thì ngài ở chỗ này, khi thì ở chỗ khác, có khi ở trong động đá, có lúc ở trong mấy cảnh nhà bỏ hoang, hay ở dưới cội cây trong rừng. Ngài ghé lại đây ít hôm và ngụ trong một ngôi chùa nhỏ gần đây.

Tôi chú ý ngay đến vị sư này và định bụng sẽ đến cảnh chùa ấy mà viếng ngài. Tôi lấy làm lạ khi thấy ngài có vẻ như khinh thường đối với nhà vua và những người có thiện tâm đến để thọ phép thủ hộ. Tôi nghĩ, chắc là có lý do gì đây.

Tôi mang ý kiến ấy mà bàn với thầy Dawasandup. Thầy cũng thuận tình đi theo tôi. Chúng tôi lên ngựa cùng đi. Chẳng bao lâu thì đến một ngôi chùa, trông giống như một tòa nhà rộng lớn ở miền quê. Vị sư đang ở trong chánh điện, ngồi trên một chiếc gối đặt trước một cái bàn thấp. Ngài đang thọ trai có vẻ như vừa xong. Thấy chúng tôi vào, vị sư trụ trì đem gối đến lót mời chúng tôi ngồi và bưng nước trà đến tiếp đãi. Tôi chưa tiện nói chuyện với vị sư lữ hành, vì thấy ngài vẫn còn đang nhai cơm trong miệng. Chúng tôi chào ngài một cách có lễ phép, song ngài chỉ đáp lại bằng một tiếng “hự” trong cổ họng mà thôi. Tôi đang tìm lời để mở đầu câu chuyện thì ngài bỗng cười lên mà thốt ra ít lời. Thầy thông ngôn cho tôi có vẻ lấy làm khó chịu. Tôi liền hỏi:

-Ngài dạy điều chi vậy?

Thầy đáp:

– Xin lỗi bà. Mấy vị sư này thường hay dùng những lời không mấy thanh nhã. Không biết tôi có nên dịch ra cho bà nghe hay chăng…

Tôi đáp ngay:

– Thầy nên cứ tự nhiên. Tôi đi đây là để ghi nhận những điều tai nghe mắt thấy, lại càng muốn nghe những điều có tính cách đặc biệt.

– Xin lỗi bà vậy … Ngài nói rằng: “Con mẹ ngu ấy đến đây mà làm gì?”

Tôi nghe xong vẫn không lấy làm lạ, và thật cũng không có lòng hờn giận chi cả. Bên Thiên Trúc tôi cũng biết rằng mấy vị sư khổ hạnh vẫn hay giả vờ chửi mắng những ai đến cầu Đạo với mình.

Tôi nói với thầy thông ngôn rằng:

– Nhờ thầy thưa lại thế này: “Tôi viếng ngài để hỏi xem tại sao ngài ra vẻ khinh miệt những người đến để thọ phép lành của đức vua.”

Vị sư ấy liền đáp bằng một giọng ậm ừ trong miệng rằng:

– Toàn là hạng người tự cao. Họ cứ tưởng rằng việc làm của họ là hệ trọng lắm… Ấy chẳng qua là giòi trong cứt đó thôi.

Cuộc đối đáp đến đây thật đã có chiều ngộ nghĩnh. Tôi liền thưa hỏi rằng:

– Thế còn ngài, xin hỏi ngài có ra khỏi đống phẫn uế ấy không?

Ngài cười, tiếng nghe rổn rảng:

– Hễ càng lánh xa thì càng chui đầu sâu vào hơn nữa. Bần tăng đây lăn nhào vào đó như con heo, tiêu hóa nó ra, chuyển cho nó thành cát vàng, thành suối nước trong. Ấy cũng như lấy cứt chó mà làm thành những ngôi sao. Như vậy mới là công phu hành đạo.

Ngài cố ý lấy những từ chỉ vật ô uế mà làm tỷ dụ. Ấy phải chăng cũng là một cách nói chuyện của hạng người thoát tục!

Tôi lại thưa rằng:

– Những người có tín tâm ấy, nhân dịp có đức vua ngự hành đến mà cầu ngài ban cho phép lành, ấy chẳng phải là một điều chính đáng sao? Họ là hạng người chất phát chẳng biết xem kinh đọc sách, chẳng hiểu triết lý thuần lạc, nên đành nương cậy ở sự ban phước của nhà vua.

Ngài ngắt lời tôi mà nói rằng:

– Bà nên biết, muốn cho một cuộc thủ hộ có hiệu quả, thì người ban phép phải có một mãnh lực để truyền ra. Người có mãnh lực ấy thiếu gì cách dùng đến nó. Nếu đức vua hẳn có cái mãnh lực ấy, ngài có cần chi quân lính để chống cự với binh Trung Hoa hoặc những bọn phản nghịch nào khác? Sao ngài không dùng nó mà đuổi giặc ra khỏi xứ Tây Tạng và bao bọc đất nước bằng một hàng rào vô hình mà chẳng ai có thể vượt qua? Đức vua Padmasambhva có được mãnh lực huyền bí ấy. Ngài đã về cảnh Cực Lạc rồi, nhưng hiện nay có ai thật tâm cần đến thì Ngài cũng còn truyền phép thủ hộ cho. Bần tăng tuy là kẻ học đạo tầm thường, song cũng…

Câu nói dứt ngang nửa chừng ấy như tỏ ra rằng ngài có đắc phép huyền bí nào đó. Vị thầy thông ngôn của tôi lấy làm khó chịu. Thầy rất kính mộ đức vua Dalai-Lama, song thầy cũng nể sợ vị sư lang thang này lắm.

Tôi định ra về. Nghe thầy trụ trì cho hay rằng vị sư ấy hôm sau sẽ ra đi, tôi bèn trao vài quan tiền cho thầy thông ngôn, nhờ đến cúng dường để ngài mua thức ăn đem theo đường. Ngài chẳng nhận, nói rằng đồ ăn còn rất nhiều, mang theo không hết. Thầy thông ngôn muốn nài ép, liền bước đến toan để tiền trên cái bàn thấp gần ngài. Bất chợt, thầy bước chưa được ba bước thì liền lảo đảo, thối lui và chạm mạnh lưng vào vách, dường như bị ai đẩy mạnh lắm vậy. Khi ấy, thầy kêu to lên và lấy tay ôm bụng. Vị sư đứng dậy và bước ra khỏi phòng, vừa đi vừa cằn nhằn.

Thầy thông ngôn nói với tôi rằng:

– Tôi bị vị sư ấy dùng phép thần thông mà đánh rất đau. Chắc là ngài giận tôi. Không biết có bề gì không.

Tôi phải an ủi thầy và khuyên giải rằng vì thầy xây xẩm mà tự té đó thôi, chứ vị sư kia đâu có thấy đánh đập gì. Tuy vậy nhưng thầy vẫn chưa an lòng…

2 .Cây linh thiêng của đức Tsong-Khapa

Ngôi chùa Koum-Boum nổi tiếng là nhờ một cây linh thiêng từ đời đức Tsong-Khapa. Tên chùa cũng do cây linh thiêng ấy mà ra.

Đức Tsong-Khapa ra đời năm 1355, tại làng Amdo về phía Đông Bắc xứ Tây Tạng, là nơi có ngôi chùa Koum-Boum bây giờ. Ngài là nhà cải cách đạo Phật ở Tây Tạng, đã sáng lập ra phái Gelougs-pas, tức là chi phái tu sĩ mũ vàng, áo vàng.

Khi ngài sanh ra, đức Lạt-ma Doubtchén Karma Dordji có tiên đoán rằng cuộc đời của ngài sẽ trở nên anh linh kỳ diệu lắm và người ta phải giữ cho tinh khiết vùng đất chỗ bà mẹ sanh ra ngài. Chẳng bao lâu, nơi ấy có một cái cây mọc lên. Người ta cho rằng cây ấy sanh ra là nhờ thọ lấy huyết bồn của bà mẹ đức Tsong-Khapa lúc ngài vừa ra đời.

Ban sơ, cấy ấy cũng bình thường, chẳng có chi khác lạ. Song, vì biết gốc tích kỳ lạ của nó, nên người ta có lòng tôn trọng. Có một vị sư bèn đến gần đó cất lên một cái am để ở mà tu niệm. Đó là chỗ khởi đầu của một ngôi chùa to lớn tráng lệ sau này.

Thời gian trôi qua, đức Tsong-Khapa lớn lên, tu hành đắc đạo, khởi sự thi hành cuộc cải cách về Phật giáo trong nước. Bấy giờ, bà mẹ vì xa cách lâu, nhớ con nên viết thư gọi ngài về. Đức Tsong-Khapa đang ở tại miền trung tâm xứ Tây Tạng. Ngài tham thiền nhập định, biết rằng dẫu về làng Amdo cũng chẳng có ích gì. Ngài bèn viết thư cho mẹ. Trong khi đưa thư cho sứ giả, ngài cũng đưa cho hai bức chân dung của ngài, một bức để tặng bà mẹ và một bức tặng bà chị ngài. Ngài cũng gởi kèm theo một bức tượng của đức Bồ-tát Văn-thù và nhiều bức tượng của Bồ-tát Cambara mà người họa phép linh bên Tây Tạng đều có thờ phụng. Sứ giả về tới quê nhà, giao chân dung và tượng cho gia quyến ngài. Cũng trong khi ấy, ngài đang ở xa, thế mà ngài chuyển phép thần thông làm cho hình đức Văn-thù và đức Cambara hiện ra rất rõ ràng trên mặt mỗi lá cây linh, đến nỗi chẳng họa sĩ nào có thể vẽ cho rõ hơn. Ngoài hình tượng của hai đức Bồ-tát, nơi cành cây và thân cây còn thấy hiện ra những câu linh chú Án ma ni bát di hồng.

Vì phép linh ấy hiển hiện ra, từ đó về sau người ta gọi ngôi chùa ấy là chùa Koum-Boum. Trước đây, trong một cuộc thám hiểm đến xứ Tây Tạng, có hai linh mục Thiên chúa giáo là Huc và Gabet có đến viếng thăm cây linh thiêng ấy. Hai người đều thấy được những dòng chữ Án ma ni bát di hồng hiện ra nơi cành lá và thân cây. Cho đến gỡ đi một chút vỏ cây thì liền thấy hình tượng chữ trong vỏ non hiện ra, hoặc khi một lá non vừa nhú ra thì đã có tượng hình mấy chữ linh thiêng đó rồi.

Hiện nay người ta có xây cất một đỉnh tháp bề cao chừng mười lăm mét, bao quanh cây linh thiêng ấy. Người ta có chiết từ cây mẹ ra được một nhánh đem trồng trước cửa chùa, ngoài có hàng rào bao bọc. Dân chúng thường đến lễ bái và chiêm ngưỡng. Người ta cũng trồng được một nhánh khác trong vườn hoa trước chùa. Cây này mọc lên mạnh mẽ, cao lớn hơn. Hai cây ấy hiện nay đều còn, lá cây và thân cây đều có những câu chú linh thiêng ấy. Mỗi khi có lá nào rụng thì các vị tăng nơi đây nhặt lấy để dành phân phát cho những vị hành cước từ phương xa đến.

3.Mấy vị thượng tọa tái sanh

Ở Tây Tạng, trong nhiều ngôi chùa lớn, người ta đều truyền rằng những vị thượng tọa sau khi chết có khả năng tái sanh trở lại để cầm quyền nơi ngôi chùa của mình như trước. Có một số ít vị được người ta gọi là Phật sống,( ) tuy đã tu hành đắc đạo song cũng còn tái sanh để hộ trì ngôi Tam bảo,( ) hoặc để thực hiện cho xong hạnh nguyện của mình. Sau khi những vị Lạt-ma ấy thác đi, thì người ta liền tìm kiếm nơi họ tái sanh ra để mà thỉnh về chùa. Có khi các ngài đầu thai vào những gia đình ở cách chùa rất xa, chẳng tiện cho người ta tìm kiếm, rồi ngẫu nhiên một hôm thầy trò gặp nhau, cùng ôn lại những chuyện xưa cũ mà nhận ra nhau. Soạn giả dịch thuật dưới đây hai chuyện do bà Alexandra David Neel đã tận mắt chứng kiến.

Năm ấy tôi ở tại Koum-Boum, trong đền của đức Lạt-ma tái sanh tên là Pegvai. Gần đó có đền của đức Lạt-ma tái sanh khác tên là Agnai-Tsang. Vị này tịch đã bảy năm rồi, song người ta chưa tìm ra được nơi tái sanh của ngài. Trong lúc ấy, viên tri sự xem ra không lấy gì làm buồn bã. Ông tự cai quản điền sản của vị thượng tọa đã mất và của mình đôi bên đều được thuận tiện. Cơ nghiệp của ông càng ngày càng mở mang phát đạt.

Một hôm, nhân việc giao dịch ông phải đi về một vùng quê xa xôi, bèn ghé lại một nhà nông dân xin nước uống và nghỉ chân. Trong khi bà chủ pha trà đãi khách, ông này lấy trong túi vải ra một bộ đồ hút nước bằng ngọc thạch. Vừa kê miệng vào hút thì một đứa trẻ đang chơi gần đó bỗng chạy đến ngăn ông lại, đặt tay lên bộ đồ hút, vừa hỏi ông với giọng quở trách rằng:

– Sao lại dùng bộ đồ hút nước của ta?

Viên tri sự dường như bị sét đánh. Thật ra, bộ đồ hút nước quý báu ấy thật chẳng phải của ông. Ấy là của vị sư Agnai-Tsang đã qua đời. Không phải ông muốn chiếm đoạt, song sẵn có thì ông cứ lấy mà dùng hằng ngày. Lúc ấy, ông lính quính, run rẩy, còn đứa trẻ thì nhìn ông, gương mặt bỗng khác đi, trở nên nghiêm nghị, hờn giận và chẳng còn có vẻ chi là trẻ con nữa.

Cậu truyền lên rằng:

– Trả bộ đồ hút nước đây. Nó là của ta.

Viên tri sự lấy làm hối quá, sợ sệt, hổ ngươi, bèn quỳ mọp và lạy dưới chân ông thầy tái sanh của mình.

Ít hôm sau, tôi thấy người ta làm lễ long trọng mà thỉnh vị thượng tọa tái sanh trở về chùa. Ngài mặc một cái áo gấm màu vàng, cỡi một con ngựa ô rất đẹp, còn viên tri sự thì theo phò tá, nắm lấy dây cương. Khi cả đoàn vào tới đền, vị sư trẻ mới hỏi rằng:

– Sao lại rẽ qua tay trái mà vào cái sân thứ nhì? Ta nhớ cửa vào ở bên mặt mà.

Quả đúng thế! Sau khi vị thượng tọa qua đời, vì một nguyên do gì đó, người ta mới bít cái cửa bên mặt và mở một cửa khác bên trái để ra vào.

Mấy sư trong chùa thấy vậy càng lấy làm tin phục, biết rằng cậu bé ấy hẳn là chủ cũ của mình. Người ta thỉnh thượng tọa vào thất riêng của ngài và đem trà dâng lên.

Vị sư trẻ tuổi ngồi trên một chồng gối, nhìn một cái tô bằng ngọc thạch với dĩa bằng bạc mạ vàng có nắp bằng ngọc bích, để trên một cái bàn trước mặt ngài.

Sư dạy rằng:

– Hãy đem cái tô sứ cho ta.

Mọi người không ai biết. Ngài bèn tả cái tô sứ Trung Hoa và chỉ rõ hình vẽ trên tô ấy. Nhưng không ai thấy cái tô ấy bao giờ. Viên tri sự và chư tăng đều cung kính bạch rằng chẳng có cái tô ấy trong chùa.

Vị sư dạy thêm rằng:

– Các ngươi cứ tìm kỹ đi, rồi sẽ thấy.

Rồi như có một ánh sáng nào đó lóe lên trong trí, ngài nhớ ra và bảo đến tìm trong cái tủ sơn để trong một căn phòng, nơi người ta vẫn cất giữ những đồ vật ít dùng đến.

Chư tăng theo lời đi tìm gần nửa giờ thì mang lại cái tô với dĩa và nắp, quả là để dưới đáy tủ mà ngài thượng tọa đã chỉ.

Viên tri sự bèn thưa rằng:

– Tôi có ngờ cái tô để ở đó đâu. Chính tự tay ngài cất, chúng tôi đâu biết. Vì trong phòng ấy chỉ để những thứ tầm thường mà thôi.

Tôi cũng có chứng kiến việc cuộc tìm ra một vị thượng tọa tái sanh khác nữa. Câu chuyện rất ly kỳ. Việc này xảy ra trong một quán trọ ở vùng quê, thuộc vùng sa mạc Gobi.

Trên con đường diệu vợi từ Mông Cổ( ) chạy dài xuống Tây Tạng, có nhiều đường tẻ chật chội và hiểm trở, cho nên khách lữ hành phải đi từng đoàn trên lưng lạc đà.

Một hôm, lúc mặt trời gần lặn, tôi vừa đi đến một quán nhỏ. Tôi hơi thất vọng khi thấy trong quán đã choán đầy một đoàn lữ khách. Những người ấy coi bộ xôn xao, dường như có việc chi hệ trọng vừa mới xảy ra. Tuy vậy, với sự nhã nhặn thường lệ của họ, và thấy Yong-đen( ) với tôi đều mặc y phục của các vị Lạt-ma, nên họ vui lòng nhường cho bọn tôi một phòng trong quán và một cái tàu cho mấy con thú của chúng tôi.

Tôi với Yong-đen đang đứng nhìn mấy con lạc đà nằm trong sân, bỗng thấy một cái cửa phòng mở ra. Một thiếu niên dáng người cao ráo, gương mặt thanh nhã, vận y phục nghèo nàn theo lối Tây Tạng, đến đứng nơi cạnh cửa và hỏi chúng tôi có phải là người Tây Tạng chăng. Chúng tôi đáp phải, cũng trong lúc ấy, một vị Lạt-ma lớn tuổi, theo cách trang phục thì chúng tôi đoán ra là chủ đoàn, ra đứng phía sau thiếu niên ấy và cũng hỏi thăm chúng tôi bằng tiếng Tây Tạng.

Trong những dịp gặp gỡ như vậy, đôi bên hỏi thăm quê quán, ở đâu đến và đi về đâu là chuyện thường.

Vị Lạt-ma ấy từ bên Mông Cổ đi qua, tuy đang là mùa đông lạnh lẽo, nhưng ngài cũng nhất định hành cước đến kinh đô Lhassa. Song bây giờ đi nữa cũng vô ích, nên ngài sắp trở về. Bon tùy tùng của ngài nghe vậy đều có vẻ hài lòng. Tôi lấy làm lạ về sự thay đổi trong cuộc hành trình của họ. Đã toan hỏi thăm vị Lạt-ma, song thấy ngài lui gót vào phòng nên tôi không tiện đi theo.

Tuy vậy, tối lại họ có hỏi thăm bọn của chúng tôi về việc làm, rồi đến mời chúng tôi sang uống trà. Nhờ vậy, tôi mới biết rõ mọi việc. Người thiếu niên thanh nhã ban chiều ấy tên là Migyur, gốc người ở tỉnh Ngari xa xôi, thuộc miền Tây Bắc xứ Tây Tạng. Dường như chàng có thuật Nhãn thông. Từ thuở bé thơ, chàng đã từng thấy ra rằng xứ sở nơi chàng sanh trưởng không phải là xứ sở thật của mình. Đối với làng mạc, đối với gia tộc, chàng như người xa lạ… Trong giấc ngũ, chàng thường trãi qua những phong cảnh mà chàng không thấy ở tỉnh Ngari: những quảng đồng thanh vắng với cát trắng xóa bát ngát bao la, những trại bằng nĩ giăng tròn và xa trên ngọn đồi, lố dạng một ngôi chùa. Có khi trong lúc thức, những hình ảnh ấy cũng hiện lại cho chàng, chất chồng trên những nhân vật thật chung quanh mình, làm cho những nhân vật này lu mờ đi, và làm cho chàng mãi mãi thấy một cảnh bào ảnh quanh mình. Đến năm mười bốn tuổi, chàng cất mình ra đi, vì không chịu nổi với sự muốn biết sự thật của những hình ảnh hiện ra trước mắt. Từ đó, ra thân phiêu bạt, làm thuê chỗ này, xin ăn chỗ kia mà sống lang thang qua ngày. Trong thời gian ấy, chàng cứ xao xuyến mãi, không ở yên được chỗ nào, cứ lần bước đi mãi theo sự tưởng tượng của mình. Vừa rồi, chàng ở phía Bắc đồng cỏ Aric mà đi đến đây.

Theo lệ thường, chàng cứ đi tới mãi, đi mà không biết mình sẽ đi đâu. Vừa tới cái quán trọ nhỏ, trước tôi chừng vài giờ. Thấy đoàn lạc đà trong sân, chàng bước vào và đi ngay lại cửa, chẳng biết mình đi vào đó để làm gì. Kế gặp vị lão sư Lạt-ma… Và thật bất ngờ, nhanh như làn chớp, chàng nhớ ra những việc đời trước của mình.

Vị sư Lạt-ma tuy già, song chàng xem như hàng tuổi nhỏ, đệ tử của mình. Còn chàng thì tự thấy mình chính là vị Lạt-ma lớn tuổi, chủ trì trong chùa. Chàng nhắc rằng, một thuở nọ, cũng trên con đường này, hai người đồng đi hành hương đến các nơi thánh địa ở Tây Tạng và trở về ngôi chùa cao ẩn trên đồi non.

Chàng nhắc những việc ấy với vị Lạt-ma chủ đoàn một cách rõ ràng, chi tiết. Và chàng cũng nhắc đến những sự tỉ mỉ hằng ngày hồi hai người còn ở trên chùa.

Vị lão sư lấy làm bằng lòng. Mục đích ngài đến kinh đô Lhassa là để cầu đức vua chỉ cho tìm vị Lạt-ma tái sanh của chùa mình. Bây giờ tìm được rồi thì đi Lhassa có ích gì? Vậy nên đoàn lữ hành sắp trở về, trở về với vị thượng tọa tái sanh, sau hai mươi năm cách biệt. Chắc đây rồi thế nào họ cũng làm lễ tạ ơn đức Phật sống Đạt-lai Lạt-ma.( ) Vị họ nghĩ rằng nhờ có sức ủng hộ của ngài nên mới khiến cho thầy trò gặp nhau, chứ từ lâu họ đã lắm công dò hỏi, song hạc nội mây ngàn, hồ dễ tìm đâu cho thấy!

Cũng xin nói thêm với bạn đọc rằng, khi tìm được và nhìn nhận rồi, họ còn phải thử nữa; sau khi ấy họ mới nhất quyết. Cách thử thông thường là thế này. Vị lão sư lấy trong hành lý ra nhiều món đồ. Trong những đồ đó, có ít món là của riêng của vị Lạt-ma qua đời và hồi còn sanh tiền ngài rất thích dùng. Bấy giờ, thiếu niên phải lựa món đồ của mình. Lựa trúng thì hẳn là vị thượng tọa tái sanh, không còn nghi ngờ gì nữa.

Hôm còn ở nán lại trong quán, tôi thấy đoàn lữ hành ra đi theo nhịp chân chầm chậm của lũ lạc đà và mất dạng vào phía chân trời nơi đồng cát trắng Gobi vắng lặng. Đây rồi vị Lạt-ma tái sanh sẽ sống một cuộc đời kỳ diệu nơi ngôi chùa mà ngài đã từng cai quản từ lâu…

4.Một gương nghị lực

Sư Karma Dordji vốn xuất thân là con nhà hàn vi hạ tiện. Từ thuở bé, ông đã được cha mẹ gởi vào tu học trong một ngôi chùa. Song những bạn đồng tu thuộc giai cấp cao hơn thường hay khinh miệt ông. Khi lớn lên, những sự khinh miệt ấy cũng thay đổi tính cách, không chỉ lời nói của họ mới làm ông đau đớn, mà cử chỉ, hành vi cho đến cách lặng thinh của họ cũng đủ làm cho ông hiểu rằng họ vẫn khinh ông là thuộc giai cấp thấp hèn.

Karma Dordji là một nhà sư tự trọng và rất có nghị lực, cương quyết. Từ lúc còn trẻ, ông đã tự nguyện rằng sẽ lướt lên cao hơn bọn quý phái đã khinh chê mình.

Ở vào thân thế và hoàn cảnh của ông, chỉ có một phương tiện để đạt mục đích thôi: ông phải trở nên một nhà tu huyền bí, một bậc pháp sư có phép thần thông, có thuật chế ngự và sai khiến quỷ thần. Thấy phép linh của ông, bọn xấc xược mới khiếp sợ và kính nể, rồi ông sẽ hài lòng. Như vậy là ông báo thù đó.

Với những ý nghĩ ấy, ông đến ra mắt thượng tọa trong chùa và cầu xin vắng mặt một độ hai năm để vào sơn lâm ngồi tịnh.

Một nhà sư thỉnh cầu như vậy thì lúc nào cũng được như ý. Ông bèn lên núi, chọn một chỗ phải thế, gần suối nước và cất lên một cái cốc.( ) Liền đó, theo gương mấy vị tu khổ hạnh đắc phép nội công chuyển lửa trong mình, ông bỏ hết y phục và để tóc ra dài. Lâu lâu, một hai vị sư ở chùa mới đem thức ăn lên, thấy ông ngồi bất động, mình trần giữa mùa đông nhập trong cơn thiền định.

Người ta đã khởi sự nói chuyện với ông rồi. Song ông cho rằng chưa đạt chí nguyện của mình. Ông hiểu ra rằng ngồi thiền nơi chỗ thanh tịnh và tu mình trần như vậy chưa đủ làm cho người ta hoàn toàn kính phục. Vì vậy, ông xuống núi mà về chùa.

Lần này, ông cầu đức thượng tọa cho ông ra khỏi xứ mà tìm thầy dắt dẫn.( ) Ông cũng được toại lòng.

Ông tìm mãi, song chưa gặp được bậc pháp sư đáng cho ông tín nhiệm. Ông bèn định dùng đến phương pháp huyền vi. Ông vốn tin nơi chư quỷ thần hộ trợ Phật Pháp, lại sẵn biết thuật tạo ra vòng phép,( ) ông liền xuống một trũng núi, lấy đá sắp thành vòng tròn, làm phép tự hộ trợ và ngồi vào vòng. Ông bắt ấn niệm chú cầu chư quỷ thần Hộ pháp đưa ông đi tìm thầy. Ngồi đến đêm thứ bảy, bỗng có một tiếng nổ vang dội rất lớn. Dòng nước chảy dưới trũng vùng nổi lên. Một cái vòi nước bắt từ trên núi tuôn xuống rất mạnh. Vòi nước ấy tràn ngập nơi eo núi chỗ ông ngồi và rồi cuốn ông đi cùng với cái vòng phép và đồ vật dụng của ông. Lăn từ hòn đá này qua hòn đá nọ, song may mắn lạ kỳ, ông không chết chìm và không bị thương tích chi cả, lại được đưa xuống một chỗ thung lũng bát ngát mênh mông. Sáng ra, thấy trước mặt có một cảnh am tự ẩn sau vách đá, trên sườn non.

Am tự với vách vôi, dưới bóng trời ban mai, xem ra sáng hực, ửng hồng. Nhà sư thoát chết dường như thấy có những luồng hào quang phóng ngay vào trán mình. Bèn tưởng quyết rằng: ở trên đó, thế nào cũng có bậc tôn sư mà mình đang mong cầu. Trong việc này, âu cũng là một sự đưa đường dẫn lối của chư quỷ thần đây. Nghĩ vậy, ông mạnh dạn bước chân lên am, chẳng thiết nghĩ đến đồ ăn, quần áo và vật dụng đều đã lạc mất đi tự lúc nào.

Vừa đến nơi, ông gặp một đệ tử của vị sư ẩn cư đi xuống múc nước. Thấy dị nhân xuất hiện trước mặt mình, vị đệ tử hoảng kinh và đánh rơi cái chậu đang xách nơi tay.

Phong thổ ở miền Tây Tạng núi non thật là lạnh lẽo gay go, không mấy ai dám để mình trần. Họa chăng một vài vị tu hành huyền bí lánh mình nơi động đá trong chốn non xa, lâu lâu mới xuất hiện ra, nên ai thấy mà không kinh sợ?

Ngài Karma Dordji liền hỏi:

– Ai ở trên am này?

– Thầy tôi, là đức Lạt-ma Tobsgyais.

Không cần hỏi thêm chi nữa, vì ông đã biết trước rồi, chư quỷ thần hộ pháp thật đã đưa ông đến gặp tôn sư. Ông bèn nói một cách cao kỳ rằng:

– Xin phiền sư huynh lên bạch với đức Lạt-ma rằng: chư vị hộ pháp có đưa đến một người đệ tử.

Người đệ tử ấy sửng sốt, chạy một mạch lên báo với thầy. Đức Lạt-ma cho vào.

Ông lạy ra mắt thầy, cầu xin làm đệ tử, vì chư thần hộ pháp đã đưa ông đến tận chân thầy.

Đức Lạt-ma là một nhà sư có văn học. Ông nội ngài là một viên quan Trung Hoa lấy vợ Tây Tạng. Theo bên nội, nên ngài vẫn tin theo một ý tưởng rằng: tu hành thì tốt thật, song khó mong thành Phật hoàn toàn. Có lẽ ngài chỉ muốn ẩn nơi đồng vắng để thỏa chí thích của hàng tao nhân mặc khách và rỗi rãi mà xem kinh tìm nghĩa đó thôi. Cho nên trong thời kỳ ngụ tại am, không mấy khi Karma Dordji gặp mặt ngài.

Địa thế nơi am cũng phù hợp với ý nói trong kinh: không quá gần làng mà cũng không quá xa làng. Đứng nơi cửa sổ mà nhìn xuống, nhà sư ẩn dật thấy một thung lũng bát ngát và vắng vẻ. Am ở về phía sườn non bên này, còn dưới sườn non bên kia là một thôn xóm, băng đường núi đi chừng nữa ngày thì tới. Chốn nhàn cư thật đơn giản, thanh bai, song có một kho tàng kinh sách rất là đầy đủ. Vài bức tranh treo tường cho thấy rằng sư cụ chẳng phải ở kẻ nghèo hèn và không có khiếu thẩm mỹ. Trong cuộc gặp gỡ đôi bên, hẳn là hai lối cực đoan: một người thì phong nhã thanh tao, còn người kia thì cao lớn dềnh dàng, tóc dài chấm gót và chẳng có một mảnh vải che thân.

Sư cụ lặng nghe Karma Dordji thuật lại từ việc tạo ra vòng phép cho đến việc dòng nước cuốn mình đến tận chân thầy. Ông không quên nói rằng được dịp may mắn này là nhờ có chư quỷ thần hộ pháp tiếp tay. Đức Lạt-ma chỉ đáp rằng từ nơi động đá Dordji đến chốn am mây của ngài hẳn là xa xôi lắm. Rồi ngài hỏi tại sao để mình trần mà đi.

Ông đáp rằng có học phép nội công chuyển hỏa theo thánh Hérouka( ) và có ngồi tịnh hai năm nơi sơn lâm, chẳng mặc áo quần chi hết.

Đức Lạt-ma nhìn ông giây lát, kế đến gọi một đệ tử, dạy rằng:

– Đưa gã này ra sau, cho ngồi gần lửa và đem nước trà thật nóng mà cho uống. Và đi tìm một cái áo cũ bằng lông chiên cho gã mặc. Dù sao, gã cũng đã chịu lạnh trong mấy năm nay.

Dạy xong, ngài bảo lui. Được mặc áo lông, ông lấy làm vui, tuy rằng cái áo rất cũ. Kế đó, được hơ lửa và uống trà nóng, ông thấy dễ chịu hơn sau một đem trôi dạt. Tuy vậy, được no ấm rồi mà ông lại có ý buồn, vì đức Lạt-ma chẳng tiếp mình đặc biệt theo như một đệ tử do quỷ thần hộ pháp đưa đến.

Chờ mãi chẳng thấy gọi, dường như thầy quên hẳn ông rồi. Có lẽ ngài đã dặn người ta nên đối với ông cho tử tế, nên ông được ăn uống đầy đủ và cho ngồi chỗ ấm áp gần lò lửa.

Hết ngày này đến ngày kia, ông mãi chờ đợi rất khó chịu. Tuy ở trong cảnh ấm áp, no đủ nơi nhà sau, ông nôn nao thấy như ở chốn ngục tù. Ông cũng muốn được làm lụng, như đi lấy nước hoặc nhặt củi, song các vị đệ tử của thầy chẳng cho. Họ nói rằng: “Thầy không bảo sư huynh làm chi cả, thầy chỉ dặn sư huynh hơ lửa cho ấm và ăn cho no mà thôi.”

Ăn không ngồi rồi mãi, ông sanh hổ thẹn. Mấy lúc đầu, ông có nhờ một đôi vị đệ tử đến nhắc với thầy. Song ai cũng từ chối, nói rằng nếu thầy có cần đến thì sẽ cho gọi. Về sau, ông không dám nhờ ai nữa.

Tuy vậy, thỉnh thoảng thấy dạng đức Lạt-ma ra ngồi nơi bao lơn hóng mát, hoặc nghe tiếng ngài giảng giải kinh nghĩa với đệ tử, hoặc nói chuyện với khách đến viếng thăm, thì ông cũng đỡ lòng sầu. Ngoài những khoảnh khắc tươi đẹp ấy, ông lại chìm vào những giờ dai dẳng, tối tăm. Ông cứ ôn lại trong trí sự việc đã đưa đẩy mình đến am mây này.

Như vậy được chừng hơn một năm, ông sống trong cảnh buồn thảm. Ông cầu sao cho trưởng lão thử lòng ông, bắt ông làm những chuyện khó nhọc nặng nề, còn hơn là bỏ quên ông, để ông chịu bề tủi hổ. Cho đến có khi ông ngờ rằng trưởng lão vốn đắc phép thần thông, thấu rằng ông gốc con nhà bần tiện, nên cho ông nương náu là may lắm rồi. Tư tưởng này ám ảnh mãi trong trí ông, làm cho ông đau đớn. Song, lại nghĩ đến sự huyền diệu đã đưa ông tới được am mây mà gặp thầy, ông quyết định không tìm đi đâu khác nữa. Tuy vậy mà đôi khi ý tưởng quyên sinh cũng lảng vảng trong đầu ông.

Đang khi tột cùng chán nản, bỗng một hôm có người cháu của trưởng lão đến thăm. Người này là một bậc thượng tọa tái sanh, có nhiều vị sư theo hầu. Mặc y phục bằng gấm vàng rực rỡ và cũng đội mũ vàng, kẻ tùy tùng rầm rộ theo hầu. Ông này dừng chân nơi cánh đồng, phía dưới am. Rồi người ta dựng lên mấy cái trại xinh đẹp. Đức trưởng lão sai người đem xuống một bình trà lớn bằng bạc. Uống trà xong, vị sư thượng tọa lên am mà thăm chú. Trong mấy ngày sau, thấy ông mặt mũi kỳ dị, choàng áo lông chiên cũ và để tóc dài chí gót, sư thượng tọa bèn kêu lại và hỏi thăm tại sao ông ngồi mãi gần lò lửa. Cho rằng dịp này âu cũng có chư thần xui khiến, ông bèn đem việc mình mà thuật lại từ đầu chí đuôi: nào khi nhập định trong rừng, nào lúc tạo ra vòng phép, kế bị nước cuốn và đưa đến chân núi, rồi thấy có hào quang từ trên am phóng xuống trán mình. Ông không quên nói rằng đức Lạt-ma chẳng đoái tưởng tới mình trên một năm nay và ông cầu sư thượng tọa thưa lại giùm.

Ông sư cũng điềm đạm như chú mình, nghe xong lặng thinh. Kế nhìn Karma Dordji với vẻ ngạc nhiên, sư hỏi ông muốn đức Lạt-ma dạy về khoa nào. Thấy có người chú ý đến công việc mình, ông được vững lòng. Bèn nói rằng muốn đắc phép thần thông, muốn bay liệng trên không gian và làm cho quả đất rung rinh. Nhưng ông không nói rõ nguyên do sâu kín trong lòng mình.

Sư thượng tọa lấy làm thích mà nghe những lời ấy và hứa sẽ thưa lại giúp. Kế đó, trong khoảng hai tuần lễ ở nơi am, lại không hề thấy ông ngó ngàng gì tới Karma Dordji nữa. Sư Thượng tọa từ tạ chú và xuống núi. Dưới cánh đồng, mấy sư tùy tùng đang chờ. Đứng nơi cửa am trông xuống, thấy mấy sư thủ hạ kềm cương mấy con ngựa đẹp có phủ nỉ đỏ và vàng, yên và đồ bắt kế khảm bạc chói rỡ dưới ánh trời hồng ban mai. Karma Dordji lặng nhìn cảnh tượng ấy, nghĩ rằng sư thượng tọa quên thưa giúp chuyện mình với đức Lạt-ma. Bây giờ ông ấy ra đi, mối hy vọng đành trôi theo dòng nước.

Ông sắp sửa chào sư thượng tọa. Vừa lúc ấy, sư nói vắn tắt rằng:

– Hãy theo tôi.

Karma Dordji lấy làm lạ. Sư chưa hề cậy mượn ông việc gì, nay lại muốn chi đây? Vả lại, trại và hành lý thì đã có kẻ tùy tùng thâu xếp và đoàn thú đã chở đi hồi tảng sáng rồi. Hay là ông mượn đem món chi lên giao lại cho trưởng lão chớ gì?

Đến chân núi, sư quay lại nói:

– Tôi có thưa với trưởng lão về việc ông muốn đắc phép thần thông. Trưởng lão dạy rằng ở đây không có bộ kinh ấy cho ông học. Bên chùa tôi thì có. Trưởng lão dạy tôi rước ông về bên ấy đặng tu học. Có sẵn một con ngựa cho ông đây. Vậy ông lên yên đi với mấy sư tùy tùng của tôi.

Nói xong, sư trở lưng đi theo chư tăng trọng chức đặng lên đường. Ai nấy đồng xây về phía am, nghiêng mình chào trưởng lão Tobsgyais một cách cung kính rồi lên yên cho ngựa ra đi.

Karma Dordji ngồi cứng đơ, lấy làm bất ngờ. Một viên tùy tùng đặt dây cương vào tay cho ông. Ngồi trên yên, ông cứ để cho ngựa chạy, và vì quá thình lình nên ông không nhớ những sự vừa mới xảy ra.

Về đến chùa, ông ở và ăn chung với mấy sư tùy tùng ấy, không thấy sư thượng tọa kêu gọi mình. Chùa không mấy tráng lệ, song ở xa trông thật nghiêm chỉnh, và đến nơi thấy cuộc bài trí rất đoan trang. Được bốn ngày, một vị sư đến cho ông hay rằng sư thượng tọa có phái người đem để nơi tịnh thất( ) bộ kinh mà Trưởng lão Tobsgyais dặn ông theo đó tu hành. Vị sư ấy nói thêm rằng trong thời kỳ ông nhập thất, dưới chùa sẽ thường phái người đem đồ ăn lên cho ông dùng.

Ông đi theo vị sư ấy khỏi chùa chẳng xa, gặp một cái nhà nhỏ, địa thế xinh lịch. Đứng nơi cửa sổ trông xuống, thấy mấy đảnh nóc vàng rực của ngôi chùa, và trông xa xa, thoáng thấy một thung lũng cây cối bao giăng chung quanh, chạy dài từ trên tới dưới. Phía trong thất có một cái bàn thờ nhỏ. Gần đó có một cái kệ nhiều ngăn chất chừng ba mươi quyển kinh to lớn, bao rất kỷ, có dây buộc ràng và ngoài có bìa là hai bản cây chạm chặn lại.

Ông lấy làm hài lòng và vui thích mà thấy người ta khởi sự đối đãi với mình có bề trọng hậu.

Trước khi từ giả ông, vị sư dẫn đường nói rằng sư thượng tọa cũng không buộc ông nhập thất một cách gắt gao. Ông tự tiện sắp đặt chương trình theo ý thích của mình. Ông có thể xuống suối gần đó mà múc nước hoặc đi dạo cho giải khuây. Và sư chỉ lương thực với củi chất sẵn trong thất, rồi quay gót ra về.

Ông bèn khởi sự học kinh. Ông học thuộc lòng rất nhiều câu chân ngôn, thần chú. Đọc đi đọc lại mãi và chờ chừng ra khỏi tịnh thất sẽ nhờ thầy dắt dẫn là sư Tobsgyais nghe xem ông đọc có đúng giọng hay không. Theo lời dặn trong kinh, ông tạo ra nhiều cái vòng phép và lấy bột với bơ làm ra nhiều cái bánh phép đủ cỡ. Ông cũng y theo kinh mà ngồi thiền nhập định. Trong thời kỳ mười tám tháng, ông tu hành rất tinh tấn. Chỉ ra khỏi thất đặng đi múc nước thôi. Mỗi tháng, mấy sư dưới chùa đem lương thực lên hai lần. Song ông không hề nói chuyện với họ, cho đến không lại gần cửa sổ mà nhìn ra ngoài. Lần lần, có những tư tưởng mà ông chưa hề nhận biết thâm nhập nơi ông trong những khi thiền định. Ông thấy ra rằng một vài câu kinh, năm ba bức họa có chứa những ý nghĩa khác thường. Ông đứng nơi cửa sổ, nhìn xem chư tăng đi đi lại lại. Sau cùng, ông ra khỏi thất, trải qua cảnh núi, lặng nhìn thật lâu những hòn đá, cánh hoa, xem mây bay trên trời, nước chảy dưới suối, bóng ác( ) lao xao. Giờ này qua giờ kia, ông mãi ngồi, mắt nhìn xuống những hương thôn rải rác dưới đồi, ngắm những người nông phu làm lụng trong đồng, đoàn thú chở nặng qua lại trên đường và những bộ hành đi thong dong trên đồng cỏ.

Mỗi buổi chiều, sau khi khêu ngọn đèn chong trên bàn thờ, ông lại ngồi tham thiền. Song ông không còn dựa theo những lối chỉ vẽ trong kinh, không còn tưởng đến hình dáng của chư Phật Thánh và chư thần linh gì nữa cả.

Mãi tới khuya, có khi gần sáng, ông vẫn chìm sâu trong cơn thiền định im lìm, thân tâm chẳng động và không cảm giác chi hết, bấy giờ ông thấy mình dường như tựa trên bờ biển, trông xuống con nước trắng xóa đang lên, sắp tràn ngập và chụp lấy mình.

Tháng này qua tháng kia, bỗng một đêm, không nhớ là đêm nào, ông thấy thân mình nhấc lên khỏi chiếc gối đang ngồi. Ông vẫn giữ kiểu ngồi kiết già, lách mình qua cửa, bay lên không khí và lướt tới trên không gian. Ông về đến xứ sở, trước cảnh chùa hồi thuở bé. Nhằm lúc ban mai, mấy sư công phu xong vừa đi ra. Ông nhìn biết rất nhiều người: đây là mấy vị chức phận, nọ là mấy sư tái sanh, kìa là những bạn bè xưa. Ai nấy đều có vẻ mệt mỏi, nhọc nhằn và buồn rầu, ông ngắm nhìn họ một cách thích ý. Ở trên mây trông xuống, thấy họ bé làm sao. Đây rồi ông đáp xuống, họ sẽ ngạc nhiên và kinh dị biết mấy. Chắc là họ sẽ quỳ mọp trước mặt ông, vì ông đã tu đắc phép thần thông.

Cái tư tưởng ấy làm cho ông mĩm cười thương xót. Trông lâu cũng chán, rồi ông định không hiện xuống. Cho họ thấy để mà làm gì? Ông bây giờ chỉ tưởng đến sự an lạc của mình thôi, sự an lạc nơi cảnh xán lạn và yên tịnh vô cùng.

Ông không còn thiết chi đến sự xét nghĩ, tôn trọng của họ, không màng chi đến lời mai mỉa của họ ngày xưa và càng không sá chi đến sự vui thích mà báo thù.

Chuyển mình trên hư không, ông sắp bay trở về…Bỗng mấy tòa nhà trong chùa rung rinh và phân rã ra. Mấy hòn núi gần đó đều xao động; cây đá lăn rớt xuống và có những hòn núi khác vượt lên. Mặt nhật lướt ngang qua không gian dường như ở đâu trên bầu trời sa xuống. Kế một cái mặt nhật khác hiện ra ở không trung. Những hiện tượng ấy liên tiếp nhau một cách mau chóng, ông chỉ nhận ra như một nguồn nước hung tợn, mà bọt nước là tất cả nhân vật hiệp thành…

Về đến tịnh thất và nhìn quang cảnh chung quanh, thấy chẳng món nào thay đổi. Phòng thất với mấy chồng kinh trên kệ bàn thờ và lò lửa cũng y như hôm qua và từ ba năm nay. Ông đứng dậy và tựa cửa sổ trông ra. Kìa là ngôi chùa, dưới núi vẫn là cánh đồng chung quanh có cây cối bao giăng, tất cả đều y như cũ. Chẳng có vật nào thay đổi, song trông ra đều khác hết. Ông rất bình tỉnh, đi lại nhóm lửa. Lửa cháy, ông cắt bỏ đầu tóc thầy tu khổ hạnh của mình và quăng vào. Kế đó, ông pha trà, ăn và uống một cách điềm nhiên. Rồi ông gom góp lương thực, quảy lên vai, đóng cửa tịnh thất và ra đi.

Tới chùa, ông đến tòa nhà của vị thượng tọa. Gặp một sư tùy phái trong sân, ông nhờ lên thưa với vị thượng tọa rằng ông xin giã từ và cám ơn ngài thượng tọa đã ra công chu cấp bấy lâu. Rồi ông cất bước. Được một khoảng đường, nghe có người kêu lại. Một vị sư trẻ tuổi, con nhà quý phái, có họ hàng với thượng tọa, chạy theo sau và nói rằng:

– Đức thượng tọa có việc hỏi thăm ông.

Ông bèn quay gót trở lại, Sư Lạt-ma tái sanh hỏi ông một cách cung kính rằng:

– Ông đi đâu?

– Tôi đi tạ ơn đức Thầy dắt dẫn.

Sư thượng tọa nín lặng một chặp, kế đáp giọng buồn bã rằng:

– Chú tôi đã tịch trên sáu tháng rồi.

Karma Dordji lặng thinh.

– Như ông muốn đến am của chú tôi, tôi sẽ tặng một con ngựa cho ông cỡi, gọi là lễ vật giã từ. Có một vị đệ tử của chú tôi ở nơi am, ông đến đó thì gặp.

Ông cám ơn, song không nhận lãnh chi hết. Ít hôm sau, ông thấy cảnh am, nơi ấy buổi xưa dường như có mấy lằn hào quang phóng ngay trán mình. Ông vào phòng thầy, nơi ông đặt bước vào chỉ có một lần hồi mới đến. Ông quỳ trước linh tọa rất lâu, nơi ấy lúc trước đức Lạt-ma thường ngồi. Ông thức trọn đêm mà tham thiền.

Sáng lại, ông giã từ sư trụ trì. Sư này trao ra một bộ cà-sa, nói rằng của đức Lạt-ma trối lại dặn giao cho ông chừng ông ra khỏi tịnh thất.( )

Từ đó về sau, sư Karma Dordji sống đời vô định như các vị hiền thánh thoát trần. Ông đi lang thang, khi chỗ này, lúc chỗ kia, khuyên giải người này, cứu độ kẻ khác và không an trụ chốn nào. Chính tôi( ) có gặp ông được mấy lần. Bấy giờ ông đã cao niên, song vẫn thích cuộc đời phiêu lưu nhàn tản. Và chính ông đã thuật lại cho tôi nghe cái tiểu sử tu hành kiên trì và nhẫn nại của ông.

5. Phép chạy đường trường

Bên Tây Tạng có một hạng tu sĩ học phép nội công chạy đường trường,( ) người ta gọi mấy vị ấy là Loung-gom-pa. Mấy sư này chạy nhanh vô cùng, có thể chạy một hơi mấy trăm cây số không cần ngừng nghỉ và ăn uống chi cả. Chính thánh Milarespa( ) có tự nhận thế này: Sau khi luyện phép nội công ấy, trong vài ngày ông trải qua một con đường mà trước kia ông phải đi trên một tháng. Ông bảo rằng nhờ biết cách đưa hơi thở vào trong nên mới được cái thuật ấy.

Tôi( ) có biết một vài vị sư Loung-gom-pa. Tuy rằng có nhiều vị học phép chạy đường trường này, song thành tựu đến nơi đến chốn thì không mấy người.

Lần đầu, tôi gặp một sư Loung-gom-pa ở cánh đồng cỏ phía Bắc xứ Tây Tạng.

Hôm ấy, nhằm buổi xế chiều, chúng tôi cỡi ngựa đi lững thững trên một khoảng đồng rộng. Tôi vừa nhìn ra xa, chếch về bên trái, thấy có một chấm đen nhỏ. Đặt ống dòm vào, tôi biết là một người. Tôi rất lấy làm lạ. Ở miền này không hay gặp ai, chúng tôi đi đã mười bữa mà chẳng nhìn thấy một người nào. Vả lại, trên khoảng đồng vắng bao la này, có ai một mình đi bộ thì cũng lạ thật.

Một kẻ tùy tùng của tôi nghi rằng người ấy có lẽ cùng đi với một đoàn khách thương, chẳng may bị bọn cướp chặn đánh nên lạc đoàn. Vì chạy cho thoát chết nên mới một mình bơ vơ trên đồng vắng.

Lời nói ấy, ngẫm cũng có lý. Nếu hẳn thật như vậy, tôi sẽ đưa người đến một dãy trại của kẻ chăn chiên hay một xóm nào theo đường mà gởi gắm người, rồi người muốn đi về đâu thì đi. Tôi lấy ống dòm mà xem nữa, thấy người lướt tới một cách lạ lùng và mau lẹ vô cùng. Mấy kẻ tùy tùng của tôi lấy mắt không mà nhìn nên chỉ thấy một chấm đen lay động trên cỏ mà thôi. Song một lát sau, họ cũng nhận ra rằng cái chấm ấy lướt tới mau lạ thường. Tôi trao ống dòm cho họ. Xem đâu được ít phút, một người nói nhỏ rằng: Chắc là một ông sư Loung-gom-pa.

Nghe mấy tiếng Loung-gom-pa, tôi bỗng lấy làm thích. Tôi đã từng nghe nói về mấy ông sư ấy chứ chưa được thấy tận mắt. Dịp may này nay xảy đến cho tôi chăng?

Người ấy càng đến gần và rõ ràng lướt tới một cách mau lẹ. Nếu hẳn là một vị sư Loung-gom-pa thì tôi phải làm sao? Tôi muốn nhìn người tận mặt, nói chuyện với người, hỏi thăm người và luôn tiện chụp ảnh người. Tôi muốn rất nhiều việc. Nhưng vừa nghe tôi nói mấy điều ấy, người tùy tùng khi nãy nhận ra sư Loung-gom-pa liền nói rằng:

– Bạch sư bà! Sư bà đừng có chặn đường ông sư ấy, đừng có nói chuyện với ông ấy. Làm như vậy, ông ấy có thể phải chết mất. Những vị sư Lạt-ma ấy, trong khi phi hành không được ngưng sự thiền định của mình. Các vị chẳng ngớt niệm chân ngôn và có thâu vào mình sức linh của một đức Phật hộ trì. Nếu đức linh ấy thình lình thoát ra, không thể tránh khỏi việc bị kích thích mạnh cho đến chết.

Lời dặn phòng ngừa ấy tuy mới nghe như quá đáng, nhưng thật có phần hữu lý. Theo tôi biết về thuật này, người đang chạy ở trong cơn nhập định, nếu thình lình bị ngăn đón, dẫu không đến nỗi chết thì cũng bị xúc động rất đau đớn về thần kinh. Tôi không biết cuộc xúc động này sẽ nguy hiểm đến đâu, song không nỡ đem một vị sư ra mà thí nghiệm, e sự rủi ro bất tường. Lại còn một lẽ nữa cản không cho tôi thỏa tánh hiếu kỳ. Người Tây Tạng đều công nhận tôi là một sư bà, họ biết tôi theo đạo Phật, song họ không biết phân biệt sở kiến về triết lý đạo Phật của tôi với đạo Phật Lạt-ma giáo. Vậy muốn cho họ tin tưởng và kính phục bộ đồ nhà sư tôi đang mặc, tôi phải giữ theo phong tục Tây Tạng, nhất là phong tục của nhà thiền. Cho nên tôi đành gác lại một bên những sự nghiệm xét về khoa học, đành dẹp bỏ cái ý muốn phỏng vấn, chỉ lặng nhìn vị sư viễn khách dị kỳ ấy thôi.

Người còn cách chúng tôi chẳng bao xa. Tôi có thể trông rõ gương mặt tự nhiên không cảm xúc của người với cặp mắt mở rộng dường như nhìn chăm chú vào một chấm nào đâu đó ở trên hư không. Nhìn người ấy không phải đang chạy như bình thường, mà dường như băng mình lên khỏi đất trong khi bước tới và nhảy từng cái một, toàn thân dẻo và nhẹ như trái banh cao su. Người mặc đồ nhà sư Tây Tạng, áo trong và áo choàng đều màu hơi sậm. Tay trái nắm lấy một vạt áo choàng và phân nửa ẩn vào trong áo. Tay mặt cầm một cái gươm phép.( ) Trong khi đi tới, người nhẹ nhẹ lung lay tay mặt cho ăn rập với bước chân, và người chống trên gươm như chống gậy, tuy là mũi gươm cao khỏi mặt đất rất xa.

Mấy kẻ tùy tùng của tôi thảy đều xuống ngựa và quỳ lạy sát đất trong khi ông sư đi qua. Nhưng ông cứ đường thẳng mà tiến tới, dường như không để ý đến chúng tôi. Còn tôi thì tưởng cho rằng không ngăn đón ông, tức là tôi kính trọng phong tục trong xứ nhiều rồi. Tôi khởi sự tiếc vì không được hầu chuyện cùng ông. Định nhìn ông lâu hơn, tôi bèn kêu bọn tùy tùng lên ngựa cho mau đặng chạy theo, tuy ông đi đã xa. Chúng tôi không muốn theo kịp ông, chúng tôi cũng không muốn cách xa ông. Nhờ có ống dòm, con tôi và tôi vẫn thấy ông rất rõ.

Chúng tôi không còn thấy mặt ông nữa, song có thể nhìn bước chân nhẹ nhàng của ông nối nhau một cách đều đặn lạ lùng, đều như tiếng tích tắc đồng hồ. Chúng tôi đi theo trên một đoạn đường độ chừng ba cây số ngàn, kế ông bỏ đường mòn, chạy dài theo một triền núi và lẫn khuất vào trong mấy trái núi. Ngựa theo không được nữa, chúng tôi thôi nhìn và quay đầu trở lại, đi theo hướng cũ. Tôi đoán rằng ông sư biết chúng tôi theo sau, nên tách qua đường khó đặng chúng tôi theo không được nữa.

Bốn ngày sau, vào buổi sáng, chúng tôi đến miền Thébgyai, nơi đây có nhiều trại của kẻ chăn chiên nằm cách nhau xa xa. Chúng tôi thuật với họ rằng chúng tôi có gặp một ông sư chạy bộ trên con đường mòn đưa vào đồng cỏ của họ. Vài kẻ chăn có thấy ông ấy năm bữa trước, lúc chạng vạng tối, trong khi họ lùa chiên về. Tôi độ ra biết rằng mấy sư Loung-gom-pa có thể chạy luôn cả đêm lẫn ngày, chạy một mực không ngừng nghỉ trong nhiều hôm. Thật lạ, thật tài, người bình thường không thể nào làm như vậy được.

Lần thứ nhì, tôi gặp một sư Loung-gom-pa ở xứ sở của những phường dân độc lập, gần phía tây tỉnh Tứ Xuyên,( ) Trung Quốc. Chúng tôi đang đi trong rừng, đến một ngả quanh, con nuôi tôi và tôi đang đi bộ trước đoàn tùy tùng bỗng thấy một người ở trần có quấn xiềng sắt khắp mình. Người ấy ngồi trên một hòn đá và dường như trầm ngâm trong cơn thiền định, cho nên không nghe chúng tôi đến. Chúng tôi lấy làm lạ, bèn dừng chân lại. Nhưng có cái dấu hiệu chi báo cho người ấy biết rằng có chúng tôi đến. Người ấy quay đầu lại thấy chúng tôi, lẹ làng đứng dậy, và phóng vào rừng rậm mất dạng. Trong một lát, chúng tôi chỉ còn nghe tiếng dây xiềng sắt khua nhỏ dần, rồi im bặt.

Yongden, con nuôi của tôi nói rằng: “Ấy là một vị sư Loung-gom-pa. Con có thấy một số vị như vậy. Các vị quấn xiềng cho nặng thêm, vì phép nội công làm cho thân hình nhẹ đi, sợ e bay trên không mà chạy chẳng tiện.”

Chính mắt tôi có lần đã thấy một vị sư dùng phép nội công mà chạy đến giáp mặt chúng tôi. Chừng gặp rồi, ông đứng yên một lát, mắt hãy còn ngó ngay tới trước. Xem ông không mệt, song nửa tỉnh nửa mê và không nói năng, hành động chi được. Lần lần ông ra khỏi cơn thiền định, bấy giờ mới bình tĩnh lại như thường.

Đáp lại mấy câu hỏi của tôi, ông nói rằng ông học phép nội công chạy đường trường do thầy ông ở gần chùa Pabong truyền dạy. Thầy ông không còn ở trong xứ nên ông tính qua Chalu mà học thêm. Thầy ông có dạy rằng những lúc tảng sáng, chạng vạng( ) và những đêm trong trẻo rất tiện lợi cho nhà sư chạy đường trường. Thầy ông cũng có dặn rằng, trong khi luyện phép ấy, hãy nhìn chăm chú vào một ngôi sao trên trời.

Tôi khó mà hỏi thêm nữa, vì ông cũng như mấy thầy tu huyền bí khác, phải giữ kín những khoa mật ẩn mà mình đã thọ truyền. Song tôi có thăm nhiều vị sư về phép nội công chạy bộ, nên cũng góp nhặt được đại lược đôi điều, tôi đều ghi ra dưới đây:

Muốn học môn này, cũng như mấy môn khác, trước hết phải chịu lễ điểm đạo truyền Pháp.( ) Kế đó, nhờ có thầy dắt dẫn, phải luyện tập phương pháp hô hấp trong nhiều năm. Tới chừng có sự tiến bộ mới khởi sự chạy đường trường. Chừng ấy, tôn sư điểm đạo truyền Pháp cho một lần nữa và dạy niệm một câu chân ngôn. Vị đệ tử phải định tâm mà niệm thuộc lòng câu chân ngôn ấy trong trí mình, niệm cho ăn nhịp với hơi thở trong khi chạy bộ và cũng niệm cho những chữ trong câu chân ngôn ăn nhịp với bước chân mình.

Trong khi chạy chẳng được nói, chẳng được tưởng đến việc chi khác, chẳng được ngó bên này bên kia. Cặp mắt phải nhìn một vật nào ở xa, về phía trước, không được chú ý đến vật gì khác.

Nhập định rồi, tuy tâm thức bị chặn lại, nhưng cũng còn đủ sức để dắt mình tránh khỏi những chỗ chướng ngại và đưa mình đi theo đúng hướng. Hai việc ấy được thi hành một cách tự nhiên không cần suy nghĩ. Những khoảng đồng trống, những nơi bằng phẳng, cùng là những lúc hừng đông hay trời chạng vạng, đều là những cảnh ngộ rất thuận tiện cho cuộc chạy đường trường. Có khi trọn cả ngày chạy xa, sức mệt, song vào lúc mặt trời lặn thì nhập định lại cũng rất dễ dàng. Bấy giờ hết thấy mệt, nhà sư có thể chạy thêm hàng trăm cây số nữa. Lúc rạng sáng chạy cũng tốt, song không bằng buổi hoàng hôn. Còn giữa trưa, xế qua, với những nơi sủng thấp, quanh quẹo, những chỗ cây cối, gập ghềnh, thật rất trở ngại cho người luyện phép chạy bộ. Duy có những vị thật tài giỏi mới lướt qua được những cảnh ấy mà thôi.

Về đêm, những đêm trong trẻo rất dễ luyện tập, nhất là những đêm có sao. Chư vị tôn sư thường bảo đệ tử nên nhìn mãi một ngôi sao trong khi chạy đường trường. Có nhiều đệ tử đang chạy, không thấy ngôi sao, hoặc vì lặn mất, hoặc ẩn phía sau núi, liền ngừng lại ngay. Có những vị khác, mặc dầu sao đã mất, song cũng dùng tư tưởng mà tạo ra một ngôi sao trong mắt, nên chạy như thường.

Một ít vị lại nói rằng hễ luyện tập trong nhiều năm, chừng mình chạy được một quãng xa, bấy giờ hai bàn chân hết chấm đất, mình như lướt tới trên không gian một cách mau lẹ vô cùng. Ở trong cảnh ấy, nhà sư đi giờ này đến giờ kia chẳng biết mệt mỏi chút nào, lại thấy mình vui thích, sung sướng là khác.

6. Phép chuyển lửa trong mình

Giữa mùa đông, một mình ngồi trong động đá, cao hơn mặt biển bốn năm ngàn thước, mà mặc có một cái áo mỏng che thân, hoặc ở trần, thế mà không hề gì, nghĩ cũng lạ thật. Giá như người thường thì đã chết cóng còn chi. Thế mà mấy vị sư khổ hạnh và huyền bí bên Tây Tạng ngồi một cách tự nhiên ngày này qua ngày kia. Ấy là nhờ các vị biết phép chuyển lửa trong mình, tức là lửa tam-muội.( )

Lửa tam-muội hay là hỏa hậu có nhiều thứ và sự linh diệu của nó khác nhau tùy theo trình độ của người tu. Một vị sư có khi đang ở trong cơn thiền định thì lửa ấy tỏa ra và bao phủ quanh mình làm cho êm dịu, ấm áp như mặc áo tiên.

Thường thường, các vị tu hành trên núi tuyết, nhờ biết dẫn lửa tam-muội nên chẳng thấy lạnh lẽo. Mấy vị sư bí truyền cũng nhờ lửa tam-muội mà lấy làm dễ chịu nơi thân, dường như được hưởng các điều lạc thú ở cảnh tiên vậy. Theo mật giáo, lửa tam-muội cũng là một sự nóng. Nó giữ cho ấm áp cái tinh ba, nó dắt dẫn cái sức mạnh trong thân trải qua nhiều đường gân mà lên đến đỉnh đầu. Như vậy, nó làm cho người tu cực kỳ khoái lạc về trí tuệ và tinh thần. Và chính nhờ dưỡng được lửa tam-muội nên mấy thầy tu huyền bí mới đắc nhiều phép thần thông.

Tuy nhiên, vì là một phương pháp bí truyền nên phải có thầy dắt dẫn, chứ nghe theo lời nói hoặc coi theo sách mà luyện thì đã không thành lại có khi nguy hại cho tánh mạng là khác. Phải tu tập cho lâu, phải luyện nhiều phương pháp hô hấp, phải ngồi thiền nhập định cho vững chắc, rồi mới mong học phép chuyển lửa tam-muội.

Vị sư truyền giáo cũng phải là một bậc giỏi phép tam-muội, phải trân trọng dò xem tánh tình của đệ tử, và sau khi xét nết thử ý nhiều phen mới nhận dìu dắt cho.

Muốn học phép tam-muội phải có thân thể cường tráng và bộ ngực nở nang, những ai phổi yếu thì rất nguy hại.

Được diểm đạo truyền Pháp rồi, vị đệ tử bèn bỏ áo lông và không được gần lửa. Theo thầy và luyện tập một thời gian, sau đó lên ngồi thiền nơi am thanh động vắng chốn non cao, từ bốn ngàn mét trở lên.( )

Không được luyện phép chuyển lửa nơi nhà cửa xóm làng, vì ở mấy nơi ấy không khí hòa với khói nấu ăn, với nhiều mùi tạp nhạp nên không được tốt, lại có nhiều nguyên nhân khác không hợp với người học đạo đang cần chỗ thanh tịnh.

Chọn được chỗ phải thế rồi, người tu chẳng được gặp mặt ai khác hơn là thầy mình. Thỉnh thoảng, ông thầy đến thăm chừng, cho biết sự tiến bộ của đệ tử và nhắc chừng cho. Mỗi ngày nên luyện tập trong khoảng trời còn khuya cho đến lúc mặt trời sắp mọc. Dầu cho lạnh thế nào cũng phải ở trần hoặc mặc một cái áo mỏng mà thôi. Mấy vị mới tập thì ngồi trên một tấm thảm hay một tấm ván. Còn những vị tu lâu ngồi ngay trên mặt đất, trên tuyết hay trên mặt nước đóng băng dưới sông. Trong khi luyện phải để bụng trống và không được uống nước, nhất là nước nóng.

Có hai cách ngồi. Hoặc ngồi theo kiểu kết già xếp chân, hoặc ngồi thòng chân xuống, hay bàn tay úp trên hai đầu gối, ngón cái, ngón trỏ, và ngón út đưa ra: ngón giữa và ngón áp út thâu vào lòng bàn tay. Vừa khi ngồi hô hấp đặng cho thông hơi hai lỗ mũi. Kế đó, thở ra vừa tưởng tượng rằng mình tống ra những tánh trược như tham, sân si, ngạo mạn, giải đãi và ngu muội. Rồi khi hít vào, tưởng tượng rằng mình đem vào những điều thanh lành như sức hộ trợ của chư Thánh chư Phật, Bồ-đề tâm, các nền đạo hạnh, Bát-nhã ba-la-mật-đa, cùng với những sự tốt tươi, cao thượng trong vũ trụ.

Định tâm một lúc, bèn bỏ ra tất cả những sự lo lắng tư lự và khởi sự nhập vào thiền định.( ) Mình tưởng tượng rằng trong thân mình, nơi lỗ rún, có một hoa sen bằng vàng. Trong hoa sen, có một cái mặt trời hiện ra rất sáng suốt, tức là chữ đọc ra thành âm ram.( ) Phía trên nữa có chữ đọc ra thành âm ma. Trong chữ này, thấy hiện ra đức Phật bà Dordji-Naldjorma. Hễ tưởng tượng thấy Phật bà Dordji-Naldjorma hiện ra khỏi chữ ma thì nhập định làm một với bà. Kế đó, định tâm vào chữ A nơi rún và chữ ha nơi đỉnh đầu.( ) Từ từ hít hơi vào rất sâu, hơi ấy thổi cho cháy cục than lửa đang vùi dưới tro. Than lửa ấy ở trong chữ A nơi rún, nó hình tròn và cỡ bằng một liều thuốc. Mỗi khi hít hơi vào mình thấy như đem hơi vào bụng chỗ rún đặng quạt cho lửa cháy lên. Và mỗi lần hít dài hơi là mỗi lần mình giữ hơi trong bụng khá lâu. Càng hít thì giữ càng lâu. Mình tưởng tượng thấy lửa cháy và lần theo đường gân Ouma( ) mà lên đến giữa thân mình.

Trong khi hít hơi vào, giữ hơi lại và thở hơi ra phải làm rất đều, lại nương theo một câu chân ngôn niệm mãi không dứt. Và trong tâm thì thấy lửa và nghe hơi nóng, ngoài ra không được tưởng đến hình dáng chi khác.

Trọn thời kỳ nhập định chuyển lửa phân ra làm mười giai đoạn:

1. Mình tưởng tượng và thấy rằng đường gân chánh là gân Ouma cỡ bằng sợi chỉ hoặc sợi tóc. Lửa theo đường gân ấy mà lần lên và hơi mình hít vào cũng đi theo đường gân ấy nữa.

2. Đường gân lớn bằng ngón tay nhỏ.

3. Đường gân lớn bằng cánh tay.

4. Đường gân choán trọn thân mình. Bấy giờ toàn thân như là một cái ống mà phía trong là lửa.

5. Kế đó không thấy thân mình nữa. Cái thân lớn ra vô cùng, nó bao phủ khắp hoàn cầu và người tu ở trong cảnh tam-muội thấy mình như một ngọn lửa có gió thổi, ngọn lửa ấy ở trong một đám lửa mênh mông.

Từ giai đoạn thứ nhất đến giai đoạn thứ năm, phải ngồi ít nhất là một giờ. Những bậc đã rèn luyện cao siêu thì ngồi lâu hơn, vì rất thích để tâm trọn vẹn vào trong sự tham thiền theo từng giai đoạn.

Kế đó, người tu tham thiền tưởng tượng ngược lại.

6. Đám lửa mênh mông ấy với cơn gió lớn hạ lần. Những ngọn lửa dịu bớt và thấp dần. Đám lửa rút lại và thâu vào trong thân.

7. Đường gân bây giờ còn bằng cánh tay.

8. Đường gân còn bằng ngón tay nhỏ.

9. Đường gân còn bằng sợi tóc.

10. Đường gân biến mất. Người tu không thấy lửa nữa. Tâm trí không còn nhận ra hình dáng chi khác, không còn tưởng tượng chi nữa. Người tu vào cõi hư vô, không thấy mình, không thấy vật. Giai đoạn nhập định này lâu hay mau là tùy sức của người tu.

Trong khi nhập định chuyển lửa, ai muốn luyện đủ mười giai đoạn càng hay, hoặc trải qua năm giai đoạn cũng được. Trong ngày lúc nào nhập định cũng được, nhất là những khi thấy lạnh.

Song tiện hơn hết là lúc gần sáng.

Thánh Milarespa, có một lúc về mùa đông bị tuyết chận nghẹt trên miền Hy-mã-lạp sơn, nơi đỉnh Everest, cao hơn các núi trong hoàn cầu. Ngồi trong động, phần thì bị lạnh, phần thì không đủ thức ăn, song ngài nhờ nhập định phép chuyển lửa tam-muội nên ở yên cho đến mùa xuân. Trải qua lần ấy, ngài có làm một bài thơ mà toàn xứ Tây Tạng đều khen ngợi. Soạn giả trích và dịch bằng lục bát một đoạn dưới đây:

Chán mùi trần tục, thế tình,

Tìm nơi yên tĩnh non xanh dưỡng nhàn.

Đất trời như có tính toan,

Tạo nên giông tố phá an lão thầy.

Thủy, phong hội với đoàn mây,

Làm cho nhật, nguyệt chẳng bày lố ra.

Mưa tuôn, gió lại thổi nà,

Các vị tinh tú chẳng là thấy đâu.

Bầu trời tăm tối âu sầu,

Sa mù bao phủ, khó hầu sáng ra.

Ngày đêm chín bữa tuyết sa,

Cuộc to, cuộc nhỏ thấy đà khắp nơi.

Tuyết bay như thể chim trời,

Rớt lăn trên đá, lại rơi trên cành,

Trông ra bốn phía bao quanh,

Trên thì đỉnh núi, dưới cành cây thông.

Non rừng trắng xóa mênh mông,

Khác nào vách nọ thảy đồng quét vôi.

Dưới ao hôm đó sóng nhồi,

Nay toàn giá lạnh, hết hồi lô nhô!

Bên khe nước bích chảy ồ,

Bây giờ đông đặc, chảy phô thấy nào.

Đất bằng, sủng thấp, đồi cao,

Khác nào đồng rộng giăng bao ngàn trùng.

Người người kẹt chốn thôn trung,

Thú thì bị đói, chim rừng nhịn ăn;

Chuột kia ẩn dưới đất bằng,

Trên toàn giá phủ, khôn phăng lên đường.

Nhằm khi thời cuộc nguy nan,

Tuyết tuôn xối xả, lại vương bão bùng.

Bần tăng áo mỏng che thân,

Ngồi thiền trên núi đấu cùng nạn nguy.

Trên mình tuyết đổ chẳng thôi,

Tuông nhằm lại hóa ra ngòi chảy đi.( )

Gió đông chẳng có nể chi,

Thổi nà vào tấm áo thầy bằng bông.

May ra có chứa lửa hồng,

Nhà sư phấn đấu, cũng không hề gì.

Rồi ra trổi thắng một khi,

Lửa thiền đủ sức tống đi lạnh lùng.

Hỡi người đạo hữu các vùng,

Khi nào bị lạnh thì dùng lửa linh.

Tuy đức Milarespa đứng về phương diện thi nhân mà tả cảnh, song vẫn là hiển nhiên như vậy. Mấy sư ẩn cư trên núi tuyết, gặp phải mùa đông, lớp bị lạnh, lớp không đủ đồ ăn, đành ngồi nhập định phép chuyển lửa tam-muội cho qua cơn nguy!

Bên Tây Tạng, mấy vị đệ tử luyện phép tam-muội xong, thường tựu lại để khảo thí. Một đêm mùa đông có trăng và gió thổi lớn, những vị nào thấy mình đủ sức thì đi với tôn sư đến mé sông không có giá. Nếu trên mặt sông nước đóng băng hết, người ta bèn xoi một cái lỗ cho thủng xuống. Mấy vị đệ tử ngồi xuống đất, xếp chân theo kiểu kết già và chẳng mặc y phục. Người ta thòng nhiều tấm nỉ dưới nước đóng băng, để chờ đông lại mới lấy lên. Rồi mỗi vị đắp tấm nỉ lên mình cho nước đá tan ra và để cho đến khô. Chờ cho nỉ khô người ta lại thòng xuống sông nữa và mỗi vị đệ tử đắp lên mình nữa. Như vậy cho đến rạng đông. Vị nào làm khô nhiều tấm nỉ hơn hết, thì đứng bậc nhất trong cuộc khảo thí. Có vị làm khô đến bốn chục tấm nỉ trong một đêm!

Muốn xứng với danh hiệu Réspa( ) mà người ta gọi mình, người tu phải xông cho khô ít nhất là ba tấm nỉ đóng nước băng giá trong một đêm. Mỗi tấm nỉ cỡ bằng cái khăn choàng lớn. Réspa nghĩa là lúc nào cũng chỉ mặc một cái áo vải mỏng mà thôi, dù mùa hạ hay mùa đông cũng vậy. Bên Tây Tạng nhiều vị sư khổ hạnh đủ gan lướt qua khỏi đức Réspa, mấy vị này bỏ luôn cả áo, ngồi mình trần trên núi cao năm này qua năm kia, có khi trọn cả đời.

Nói tóm lại, về phép chuyển lửa tam-muội, lúc mới nhập học, còn luyện thì còn thấy hơi nóng làm cho mình ấm áp dễ chịu. Hết luyện thì thấy lạnh lại lần lần. Còn đối với những vị rèn luyện trong nhiều năm, lúc nào cũng thấy mình ấm áp, hàn thử biểu càng xuống thì nhiệt độ trong mình càng lên, lên một cách tự nhiên.

Chẳng riêng gì bà Alexandra David Neel trông thấy mấy nhà sư ẩn cư ngồi trên đỉnh núi tuyết mặc áo mỏng hoặc để mình trần, mà tất cả các nhà thám hiểm Âu châu trong khi toan vượt núi Everest cũng đều lấy làm hãi hùng mà thấy những bậc tu trì khổ hạnh ấy sống một cuộc đời mà người bình thường không làm sao theo nổi!

7. Phép chuyển di tư tưởng

Bên Tây Tạng, từ các vị tu sĩ trong các chùa, cho đến những bậc ẩn tu trên núi cao, rất nhiều người biết luyện phép chuyển di tư tưởng. Khi luyện được phép này, tuy hai hoặc nhiều người ở cách xa mà vẫn có thể trao đổi ý kiến với nhau vượt qua cả không gian.

Trong thực tế, giữa tôn sư và đệ tử tuy có tình nghĩa hộ trợ và kính yêu rất khăng khít, song chẳng mấy khi được gần nhau. Tuy chẳng gần nhau, nhưng cũng chẳng thể nói là xa nhau, vì các ngài thường vẫn bàn luận, hỏi han nhau bằng phép chuyển di tư tưởng. Lúc nào cần lắm, năm ba tháng hoặc một đôi năm, thầy trò mới đến gặp nhau, chính là khi vị thầy muốn biết xem đệ tử đã tiến bộ đến đâu, hoặc cần gặp mặt để truyền dạy thêm pháp môn nào khác nữa.

Phép chuyển di tư tưởng cũng tương tự như cách truyền thông bằng vô tuyến mà ngày nay ta vẫn thường dùng. Nhờ có phương tiện máy móc hiện đại, người nói ở một nơi, người nghe ở một nẻo, mà vẫn nhận hiểu nhau rất dễ dàng. Nhưng ở miền núi tuyết, các vị tu hành không dùng phương tiện máy móc như thế, mà dùng sự tập trung tư tưởng để hỏi han nhau. Có điều khác là, qua nói chuyện vô tuyến, cùng lắm thì hai bên cũng chỉ hiểu nhau qua lời nói, còn với các bậc chân tu thì hai bên còn chuyển đạt cho nhau cả lời nói và tư tưởng nữa.

Phép chuyển di tư tưởng chẳng phải là mới đây. Từ xưa đến nay các nhà tu hành đều thường dùng.

Như hồi đức Phật còn tại thế, những ai hoạn nạn, nguy khốn, mà tưởng niệm đến Ngài, thành tâm cầu nguyện Ngài, hoặc khấn vái Ngài, tức thì Ngài liền đến mà giải thoát, cứu hộ cho. Đó chính là nhờ phép chuyển di tư tưởng. Phép này cũng còn gọi là thần giao cách cảm, tức là chuyển tư tưởng của mình đến cho người ở xa nhận biết. Và từ phép chuyển di tư tưởng hay thần giao cách cảm cho tới Tha tâm thông, một trong sáu thần thông của Phật, La-hán, thật là không xa chi mấy.

Người Tây Tạng cho rằng phép chuyển di tư tưởng không khó, người thực tâm muốn học thì được. Song phải ra công luyện học và gìn giữ cho thân tâm lúc nào cũng có thể đón nhận hoặc chuyển đạt. Cần phải thực hành nhiều phương pháp khác nhau để được phép ấy, song điều cần nhất là phải có một sức mạnh về tập trung tư tưởng, về sự nhập định. Phải chế ngự tư tưởng một cách hoàn toàn, chẳng khác nào vị tướng ra trận cầm cương ngựa, như vậy thì lúc nào muốn nhập định cũng đều được dễ dàng.

Sự tập trung tư tưởng, nhập định cho mạnh mẽ và dễ dàng, tức là căn bản trong luyện phép chuyển di tư tưởng. Vì khi nhập định, bao nhiêu tư tưởng, cảm tình phải trừ tuyệt hết, chỉ còn gom về một đầu mối, một vấn đề mà thôi. Mặt khác, phải dùng nhiều phương pháp để khai thông sự nhận biết, phân tách những luồng tư tưởng đang rung động trong không gian.

Một ít vị ẩn cư, trong khi ngồi thiền, nhận ra những lời dạy bảo của thầy ở xa truyền đến bằng phép chuyển di tư tưởng. Vì đệ tử hằng nhớ tưởng và tôn trọng thầy, hai bên gần gũi nhau về tinh thần, nên sự hiểu biết nhau được thuận tiện.

Nhiều vị sư khác tinh thông phép tham thiền nhập định và diệt hết phiền não, tự nhiên được phép chuyển di tư tưởng. Các ngài có thể gởi tư tưởng mình đi và nhận biết tư tưởng hoặc lời nói của người khác liên quan đến mình, mà chẳng phải bỏ công luyện phép ấy. Cũng như các vị đắc đạo chứng Tha tâm thông vậy.

Còn những ai muốn luyện, thường là phải theo những bước khái quát như dưới đây:

Trước hết, thi hành những phương pháp nhằm đạt đến tập trung tư tưởng. Tập trung tư tưởng tức là giữ trong trí chỉ một vấn đề mà thôi, chú tâm cho đến nhập trọn vào vấn đề ấy mà hòa làm một với chính mình.

Và cũng phải luyện tập thêm cho tâm trí trở nên trống lổng, nghĩa là chẳng để cái tư tưởng, cảm xúc gì trong tâm trí hết, giữ cho nó lặng lẽ và yên tịnh.

Kế đó, tập phân biệt và phân tách những ảnh hưởng khác nhau xảy đến thình lình làm cho mình thấy phát động nơi thân tâm, như những cảm giác chợt vui, chợt buồn, hoặc lo sợ, tưởng nhớ đến ai, xét nghĩ đến vật gì. Mà những cảm xúc tinh tế ấy, những nhân vật ấy không có dính dấp gì với mình trong lúc bấy giờ. Tập được như vậy độ vài năm thì vị đệ tử được phép ngồi chung với thầy mà tham thiền.

Thầy trò vào trong một cảnh tịnh thất lặng lẽ và chú tâm vào một việc. Chừng hết tham thiền, vị đệ tử bạch cho đức Lạt-ma biết những điều mình đã trải qua trong khi thiền định, từ đầu cho đến cuối: có những ý tứ gì, nhận thấy làm sao, cảm tưởng thế nào, thảy thảy đều thuật hết với thầy. Đức Lạt-ma khi ấy đem so sánh với chính tư tưởng của Ngài. Nếu hai bên có nhiều phần tương hợp thì phép chuyển di tư tưởng sẽ mau thành tựu.

Rồi đến lúc thầy không nói ra cho đệ tử biết phải chú tâm vào việc gì. Mà chỉ bảo đệ tử ngồi lại tham thiền. Bấy giờ vị đệ tử nhập định, làm cho tâm trí mình trở nên trống không. Sau khi ấy, để ý mà dò xét coi những tư tưởng gì, những mối cảm gì, những vật gì hiện lại nơi trí mình; mà những tư tưởng ấy, những mối cảm ấy, những vật ấy bình thường không ăn thua gì với mình cả. Những chổ nhận thấy trong khi thiền định bèn đem thuật lại với thầy. Nếu hai bên giống nhau thì trò rất dễ thâu nhận những điều phát ý của thầy.

Bấy giờ thầy với trò cách nhau xa xa. Thầy âm thầm truyền lệnh cho trò. Nếu trò hiểu thì hoặc âm thầm đáp lại, hoặc ra tay đi làm việc thầy mới truyền. Rồi dần dần thầy trò cách nhau càng xa. Có khi thầy ở một ngôi chùa này, trò ở một cảnh núi kia, cách nhau năm ba cây số, vài mươi cây số hoặc hàng trăm cây số, hai bên nhập định mà hỏi han nhau, trao đổi ý kiến với nhau. Chừng đó, vị đệ tử đã thành tựu về phép chuyển di tư tưởng.

Có khi năm ba vị đệ tử học chung với nhau dưới sự trông nom của một đức Lạt-ma. Mấy vị ấy thường nhập định mà chuyện vãn với nhau bằng tư tưởng vượt qua không gian.

Vị nào có sự vượt trội hơn thì thường thử năng lực của mình bằng cách này: Trong khi các bạn tu của mình bận việc và chẳng tưởng đến sự cảm nhận gì cả, người vẫn chuyển luồng tư tưởng của mình đến cho bạn, buộc phải cảm nhận cho được và hồi đáp.

Sự này thường xảy ra giữa chư vị Lạt-ma ở các chùa trên núi tuyết. Có vị cho tư tưởng mình phát ra và hiện lại nơi tâm trí của người ngoài cuộc. Bà Alexandra David Neel trong khi du hành bên xứ Tây-tạng, thường tiếp nhận những tư tưởng mà nhiều vị Lạt-ma gởi đến cho bà.

Cũng có vị khéo trau luyện tư tưởng cho đến có sức cảm hóa thú vật và sai khiến chúng nó nữa. Việc này ta thấy ngay từ hồi đức Phật còn làm Thái tử dòng Thích-ca. Ngài là người mà tư tưởng và sức cảm hóa rất mạnh. Trong một cuộc tranh tài, có con ngựa chứng mà ai lên cỡi cũng bị nó hất nhào. Đến phiên Ngài, Ngài dùng lời nói êm dịu và tư tưởng an lành mà cảm hóa nó, sai khiến nó đưa Ngài đi. Ngựa chứng bèn trở nên hiền, chịu cho thái tử ngồi lên và rồi chạy rất êm.

Bà Alexandra David Neel chính mắt có thấy hai lần chuyển di tư tưởng. Vậy soạn giả dịch ra dưới đây:

… Cuộc chuyển di tư tưởng mà tôi thấy lần đầu xảy ra tại miền trung châu sông Dainchine, trong khi tôi lần bước đến kinh đô Lhassa. Vị đại đức Lạt-ma hiện phép ấy vốn tu tại chùa Tcheu-dzong.

Đêm ấy, con nuôi của tôi là Yongden và tôi ngủ ngoài trời, dưới một cái mương nước đã đóng băng rất cứng. Sáng lại, không thấy đâu có củi để nấu nước pha trà, chúng tôi đành để bụng trống ra đi. Vừa giữa trưa, chúng tôi thấy ven lề đường có một vị sư đạo mạo ngồi trên một tấm thảm lót yên ngựa. Ngài dùng bữa vừa xong. Đi với ngài có ba thầy tu trẻ tuổi, gương mặt đàng hoàng, dường như đệ tử theo hầu. Chung quanh mấy vị ấy, thấy có buộc bốn con ngựa đang ăn mấy cọng cỏ khô. Mấy vị khách ấy có đem theo một ôm củi, họ nhúm lửa, một ấm trà sôi đang lên hơi trên lửa than. Giữ theo phong tục của hạng khách nghèo, chúng tôi chào vị sư rất có lễ phép.( ) Lúc ấy, chắc là sự thèm trà hiện ra nơi gương mặt của chúng tôi, vì chúng tôi vừa thấy ấm trà, cho nên vị sư than nho nhỏ rằng: Tội nghiệp thay!

Rồi ngài lớn tiếng mời chúng tôi đưa bát ra( ) mà nhận trà và cơm lớ.( ) Một thầy trẻ tuổi rót nước trà còn lại trong ấm vào bát của chúng tôi và để một túi cơm lớ gần chúng tôi. Rồi thầy đi chất đồ lên ngựa, chuẩn bị lên đường. Thình lình, một con ngựa hoảng hốt chạy đi. Thầy ôm theo một đường dây và chạy đi bắt ngựa. Vị sư ngồi yên, lấy mắt nhìn con ngựa chạy bên này bên kia. Còn chúng tôi thì lẳng lặng ngồi ăn. Nhìn quanh, tôi thấy một cái bình bằng cây đã đựng sữa. Tôi đoán rằng vị sư đã xin sữa trong một căn nhà nằm cách lộ xa xa, mà từ chỗ ngồi chúng tôi có thể nhìn thấy. Tôi kê miệng vào tai con tôi và nói rằng:

-Chừng ngài đi rồi, chúng ta sẽ đến ngôi nhà đằng kia mà xin sữa.

Tôi nói nhỏ hết sức, nhưng dường như ngài nhận ra mấy lời ấy. Ngài ngó tôi rất lâu bằng cặp mắt dò xét. Kế ngài cũng than thở như ban nãy rằng: Tội nghiệp thay! Rồi ngài quay đầu đi nơi khác.

Con ngựa chạy không xa, nhưng vị thầy tăng khó mà đến gần nó được. Sau cùng, nó để cho thầy tròng dây vào cổ và dắt đi một cách dễ dãi.

Trong khi ấy, vị sư lẳng lặng ngồi yên, ngài lấy mắt nhìn chăm chú thầy tiểu đang đi tới. Thình lình thầy này dừng lại, đứng yên một lát và ra dáng chú ý. Kế thầy dắt ngựa đến một hòn đá và cột lại. Rồi thầy đi trở lại, bỏ đường cái và hướng về phía ngôi nhà. Chẳng bao lâu, tôi thấy thầy đi trở lại chỗ con ngựa, tay ôm vật gì mà tôi không nhận ra. Khi thầy đến gần chúng tôi, vật ấy rõ ra là một cái bình bằng cây đựng đầy sữa. Thầy không để trước mặt tôn sư, vừa ôm bình nơi tay vừa lấy mắt nhìn ngài, dường như bạch hỏi rằng: Phải thầy dạy đem món này chăng? Tôi để ở đâu? Đáp lại câu hỏi âm thầm ấy, vị sư gật đầu. Rồi ngài bảo đệ tử đem sữa đến cho tôi.

Lần thứ nhì mà tôi thấy phép chuyển di tư tưởng không phải xảy ra chính trong xứ Tây Tạng mà ở miền biên giới, thuộc về hai tỉnh Kansou và Szetchouan bên Trung Hoa. Nhằm nơi rừng rú lại phải lên đèo, nên có sáu người hành khách tháp tùng với bọn tôi. Ở miền này, bọn cướp người Tây Tạng rất gan dạ, thường hay quấy nhiễu kẻ bộ hành, nên ai muốn đi xa phải tụ họp nhiều người có đủ khí giới mới dám đi. Trong sáu người theo chúng tôi, có năm người thương khách Trung Hoa và người thứ sáu là một vị pháp sư Bung-bo.( ) Thầy này cao lớn dềnh dàng, đầu tóc bịt trong một cái khăn đỏ rất to. Vốn thích nghiên cứu về đạo lý và pháp thuật, tôi mời thầy ăn uống với tôi, vì ý tôi muốn biết những điều mình đang tìm hiểu. Nhờ vậy, tôi được biết rằng thầy đi đây là để giáp mặt với tôn sư, là một bậc đại pháp sư đang làm phép trên một hòn núi còn cách chẳng xa. Tôn sư thầy đang lập đàn để thâu phục một con yêu thường hay nhiễu hại những đoàn dân trong xứ.

Sau khi đã trổ những ngón khôn khéo về ngoại giao, tôi ngỏ ý muốn được viếng ngài đại pháp sư. Song vị đệ tử liền nói rằng việc ấy quyết không được. Trong trọn tuần trăng, tức là trong thời kỳ hành lễ, ngài đại pháp sư không được xao lảng vì ai.

Nghĩ rằng có nài nỉ cũng vô ích, tôi định bụng rằng khi qua khỏi đèo, chừng thầy từ giã thì tôi quyết đi theo thầy. Như vậy, có thể đến chỗ đại pháp sư một cách bất ngờ, mình mới có thể xem cái vòng pháp với những vật hành lễ của ngài. Kế ấy nghĩ cũng hay, nên tôi dặn bọn tùy tùng đừng để cho thầy lẻn đi. Chắc là bọn tùy tùng của tôi nói chuyện ấy ra nên thầy mới biết. Thầy nói với tôi rằng tôi định thử tôn sư thầy chi cho vô ích.

Tôi đáp rằng tôi chẳng có ý ác chi cả, tôi chỉ muốn viếng ngài đại pháp sư đặng cầu học mà thôi. Tôi lại dặn bọn tùy tùng giữ chừng thầy kỹ hơn nữa. Thấy mình bổng nhiên bị giam lổng, song nhận ra rằng không ai muốn hại thầy, lại đãi thầy ăn uống đầy đủ, nên thầy chẳng lấy làm buồn. Thầy nói với tôi rằng:

– Bà đừng sợ tôi trốn. Như muốn chắc ý, bà cứ trói tôi đi. Tôi chẳng cần phải chạy trước bà để báo cho thầy tôi hay đâu. Ngài đã biết rồi. Tôi có báo cho Ngài biết bằng tư tưởng.

Nghe thầy ấy nói, tôi không mấy quan tâm, vì tôi biết bọn pháp sư nhiều người hay khoe khoang ngoài miệng.

Lần ấy, quả thật tôi lầm.

Qua khỏi đèo, chúng tôi đến miền đồng cỏ. Ở đây hết sợ bọn cướp, vì chúng nó chẳng có chổ ẩn núp. Năm người thương khách Trung Hoa trong mấy hôm nay, ngày đêm không rời bọn tôi nửa bước, bây giờ đã vững bụng bèn mau mắn cỡi la ra đi. Pháp sư cũng sắp rời chúng tôi, song tôi định không bỏ thầy. Vừa lúc ấy, có một bọn sáu người cỡi ngựa chạy như bay tới. Đến gần tôi, bọn họ xuống ngựa chào tôi, tặng cho tôi mấy cái khăn choàng( ) và ít miếng bơ. Làm lễ xong, một người lớn tuổi hơn hết nói rằng vị đại pháp sư phái họ đến để yêu cầu tôi đừng đến viếng ngài, vì ngài không thể gặp mặt ai khác hơn là một vị đệ tử đã được điểm đạo truyền pháp. Duy có vị đệ tử ấy mới được đến gần vòng pháp của ngài thôi.

Nghe vậy, tôi đành thôi. Hẳn thật vị pháp sư có thông tin với thầy qua tư tưởng.

8. Tu thiền

Những người tu hành bên Tây Tạng phân ra rất nhiều bậc, từ bậc thấp kém là bọn mê tín, ỷ lại cho đến bậc cao viễn là mấy vị tự tại, thần thông. Nhưng đó là nói về trình độ cao thấp, còn xét về phương thức tu tập, ta có thể phân ra hai hạng: hạng tu chùa và hạng tu thiền. Tu chùa là các sư trì giới, lập hạnh nguyện, nương nhờ giới hạnh mà lần đến chỗ giải thoát. Còn tu thiền là các sư quyết được trí huệ bằng vào sự nhập định nơi núi vắng rừng sâu.

Những vị tu thiền thường cho rằng việc sống đời hiền đức với giữ gìn tịnh hạnh ở chùa vốn là tốt thật, cần thật, song chẳng qua chỉ là buổi ban sơ để giúp cho mình bước lên con đường thanh cao hơn, còn lấy đó mà làm cứu cánh giải thoát thì trọn không thể được.

Còn những vị tu chùa thì cho rằng tu chùa là dễ hơn, tiện cho phần đông chúng tăng. Giữ gìn tịnh hạnh, làm việc phước đức, đọc tụng kinh kệ, gác mình ngoài vòng danh lợi, mấy sự ấy vừa sức với hết thảy mọi người. Tuy đến cõi giải thoát có lâu hơn thật, song chắc chắn hơn, vững vàng hơn. Còn tu thiền là đi đường ngay nẻo tắt, tuy nhanh chóng nhưng lại rất cam go. Một đàng như đi vòng theo hòn núi mà lần lên đỉnh, còn một đàng thì như từ chân núi mà lướt thẳng lên, vượt qua đá cao, vực thẩm. Cứng rắn lắm, hùng dũng lắm thì mới tới nơi tới chốn, còn yếu ớt, dụ dự, bỏ dở thì nguy to, thường hại tới tánh mạng, có khi vì thất nguyện mà sa vào mấy đường đọa lạc cũng không chừng.

Thực tế là những vị tu thiền ít hay sống chung trong các nhà chùa. Mấy vị này ở tịnh thất( ) và ẩn chốn đồng cát mênh mông, hoặc nơi non cao có tuyết phủ. Trong các vị tu thiền, cũng có lắm sở ý khác nhau. Người thì thấy kinh sách giảng giải chẳng thỏa chí mình, nên muốn tìm chổ yên tịnh để tự giải quyết những vấn đề cao siêu. Kẻ thì muốn đắc thuật thần thông, ngồi một chỗ mà hóa phép mầu và hàng ma phục quỷ. Có vị nghĩ rằng chắc là còn những pháp lý siêu tuyệt hơn những pháp lý mà Phật Thánh giảng độ chúng sanh, nên quyết thiền định đặng tìm cho được. Cũng có vị cho rằng dẫu làm đến bao nhiêu việc thiện cũng không đưa mình ra ngoài vòng luân hồi, chẳng bằng lên núi cao nhập định, diệt phiền não mà chứng đắc Niết-bàn cho nhanh. Ngoài ra, còn nhiều sở ý, nguyện vọng khác nhau nữa của những vị tu thiền.

Phần lớn những vị này đều xuất thân từ trước nơi nhà chùa. Song vì có nguyện vọng lớn, chí hướng cao, không thỏa mãn với sự mở mang chậm lụt của hàng tăng chúng nơi chùa, nên xin phép vị trụ trì mà tách xa, vào tịnh thất. Hễ tu thiền, nhập thất thì chẳng còn giữ phận sự hằng ngày của một thầy tăng. Tùy ý sắp xếp sinh hoạt của mình sao cho thuận tiện đều được. Song muốn cho dễ tấn hóa và khỏi lạc lầm, phải nhờ những vị cao tăng điểm đạo truyền pháp và dắt dẫn cho.

Sở ý của hạng tu thiền đã nhiều điều khác nhau, thì sự nhập thất và cảnh tịnh thất cũng rất khác nhau.

Nhập thất tức là ngăn cách mình ra bằng một tấm vách, một bực đất, một dấu ghi. Trong một hạn định nào đó, mình không được qua khỏi chỗ ngăn ấy. Đối người sơ cơ thì cần sự ngăn cách bằng tường, đất, dấu ghi. Với bậc huyền bối cao siêu, không cần lấy vật chất làm giới hạn; về tinh thần, lúc nào các ngài cũng thấy mình tách ra với thế cuộc, với sự thấp kém thông thường.

Tịnh thất có nhiều cảnh, dưới đây ghi nhận khái quát từ đơn giản cho đến phức tạp:

Có khi lập tịnh thất nơi nhà. Một vị Lạt-ma có vợ hay một người tu tại gia nguyện nhập thất trong phòng riêng, hoặc trong một gian nhà cách biệt. Khi ấy, người không hề ra khỏi thất. Trừ khi tới ngày vía Phật thì có thể đến chùa, tháp mà làm lễ rồi quay về.( )

Tùy theo bổn nguyện, có khi người được nói chuyện vắn tắt với người nhà, hoặc với một vài vị khách.

Có khi người không thấy mặt ai khác hơn là vị thị giả phục vụ cơm nước cho mình. Lúc ấy, nếu người có tiếp khách, thì khách đứng phía ngoài, có một bức màn ngăn lại, hai bên chẳng thấy mặt nhau, song có thể hỏi han nhau năm ba tiếng.

Trong một số trường hợp khác, người nhập thất chỉ tiếp xúc, trao đổi với thị giả mà thôi. Có người giữ tịnh khẩu hay cấm khẩu, chẳng nói ra một lời nào, cần lắm mới viết giấy trao cho kẻ ra vào hầu việc. Có người nhất định chẳng thấy cảnh vật ở ngoài, bèn bít cửa sổ chừa một khoảng trên thấy trời. Cũng có người bít hết cửa, chỉ để một ít chỗ hở cho không khí lưu thông mà thôi. Lại cũng có người nhất định chẳng thấy mặt ai cả. Trong trường hợp này, đồ ăn đem vào phải để ở một nơi định trước, người nhập thất tự đến lấy mà ăn. Ăn xong, đến giờ vị thị giả tự biết mà đến thu dọn chén bát về. Có người cần điều chi thì viết giấy trao cho thị giả. Cũng có người tịnh cho đến không viết chi cả. Ở ngoài đưa vào vật chi thì dùng, không đưa thì thôi, không đòi hỏi chi hết.

Nhập thất tại nhà thì không mấy lâu, nhất là đối với người lập nguyện thật gay gắt. Thường thì chừng một năm là lâu rồi, có khi ba tháng, một tháng hoặc chỉ năm ba ngày.

Thường thường, không thuận tiện lắm cho việc nhập tịnh thất ở nhà. Những tiếng xao động, những lời ăn nói với công việc của kẻ thế tục đôi khi cũng vẳng đến tai của người nhập thất, làm cho việc thiền định chẳng được hiệu quả bao nhiêu. Một số nhà chùa có cất riêng tịnh thất để dành cho người tu thiền. Tịnh thất này nhiều kiểu khác nhau. Có chỗ, người tu có thể mở cửa sổ mà ngắm cảnh sau khi xuất định. Có chỗ, chung quanh đều có bức tường chận lại, song ở trong có một cái sân trống. Vị sư có thể dạo mát nơi sân, ngồi thong thả ngoài trời, nhưng không thấy cảnh vật ở ngoài và không ai được giáp mặt với mình hết.

Đôi khi, có một chú tiểu ở nhà bếp phía sau, lâu lâu bưng cơm nước vật dụng lên. Có khi chú tiểu cất chòi ở ngoài, hoặc ở dưới chùa, mỗi ngày đem đồ ăn uống lên vài lần. Nơi vách đã đục sẵn một lỗ nhỏ có cửa khóa phía ngoài và phía trong. Chú tiểu mở khóa ngoài mà để đồ vô, rồi ra hiệu cho nhà sư biết. Cơm thì thường mỗi ngày một lần, còn nước trà thì nhiều lần.

Thường thường, thời kỳ nhập thất theo lệ là ba năm ba tháng. Có nhiều sư đúng kỳ rồi lại xin nhập nữa, nhiều lượt như vậy. Có vị nhập tịnh thất luôn cho tới mãn đời. Vì nơi ấy có sự an lạc, thỏa thích riêng, nên các ngài chẳng muốn trở về chùa, chẳng còn muốn chung lộn với phàm tăng và thế tục nữa.

Mỗi sư tu thiền đều có một vị thầy điểm đạo truyền Pháp và dắt dẫn cho. Ngay hôm nhập thất, tôn sư đến làm lễ cầu nguyện và thủ hộ. Nếu là một cuộc nhập thất gắt gao, tức là vị sư chỉ nhận đồ dùng để nơi lỗ đục vào vách và chẳng được thấy mặt ai, thì tôn sư khóa chặt cánh cửa ra vào và đóng con dấu mình vào đó mà niêm phong. Hoặc giả lâu lâu, Tôn sư đến viếng đệ tử, đặng dò xét học lực và truyền Pháp thêm. Nếu cuộc nhập thất thông thường hơn thì Tôn sư cho treo nơi cửa thất một cây phướn có ghi tên những người được phép viếng thăm. Còn nếu là cuộc nhập thất mãn đời, người ta để một cành cây khô gần vách, tỏ dấu rằng nhà sư dứt hẳn với sự việc ở trần.

Gay gắt hơn nữa, có những tịnh thất xây dưới đất, trong hang đá. Trong thời kỳ nhập thất nhiều năm hoặc trọn đời, nhà sư chẳng hề thấy ánh sáng mặt trời. Thất này, người ta gọi là động. Có cảnh động còn thấy lờ mờ. Song nếu động quanh co nhiều khúc hoặc ăn luồn vào sâu thì tuyệt nhiên tối hẳn; không khí còn tới được chớ ánh sáng bị những chỗ quanh chận lại hết. Chừng nhà sư muốn ra khỏi động, thì ra lần hồi, phải tập cho con mắt quen dần với ánh sáng mới được.

Có những chỗ tịnh thất rất xa chùa, theo sườn non, trong rừng, hoặc nơi hẻo lánh. Người ta gọi là cốc, hoặc am.( ) Trong xứ Tây Tạng, cứ tách khỏi đường cái mà đi vào sâu, lâu lâu lại thấy những cảnh am mây lưng chừng theo sườn núi, xem rất ngoạn mục. Thật là:

Phía trong, đá núi dựng lên,

Nhìn ra trước mặt, hồ xanh nước tràn!

Hoặc là:

Một bên thì núi chập chồng,

Bên kia sông rộng gương lồng bóng nga.

Hoặc nữa là:

Am mây, nhàn hạ cuộc đời,

Xem trăng lố mọc, nhìn trời rựng đông.

Ở nơi rừng núi thật rất yên tịnh, nhà sư thanh thản mà tham thiền. Tuy cũng là tịnh thất, song nhà sư không cần phải ngăn mình trong bốn tấm vách. Người có thể đi xuống suối mà múc nước, hoặc đi lấy củi, đi dạo quanh am, hoặc ngồi trên bàn đá mà tham thiền. Sự vắng lặng nơi đây rất đầy đủ, hoàn cảnh dễ cho mình tu luyện, nên chẳng cần chi giam mình trong bốn bức tường. Lâu lâu, nửa tháng hoặc một tháng, có người dưới chùa đem vật thực lên. Hoặc là nhà sư có một vài tiểu đồng lo giúp việc ấy.

Ẩn dật trên am, các vị tu thiền quyết đi theo đường ngay nẻo tắt để đạt đến chỗ giải thoát, thật không nương vào sự giáo độ( ) ở chốn già lam.( ) Thảy đều là những bậc huyền vi, tự tại, nhìn thế cuộc như bọt nước, như chiêm bao. Cũng có đôi nhà dật sĩ chán cảnh phồn hoa, bèn lui về đó mà đọc kinh sách và di dưỡng tinh thần hoặc tìm sự yên tĩnh đặng dễ bề viết sách dịch kinh.

Ngoài ra, còn có những vị sư tu trì khổ hạnh,( ) cũng là hạng người muốn đi đường tắt, từ chân núi mà lướt một hơi cho tới đỉnh núi, để ngồi một cách tự tại trên đỉnh huyền diệu, anh linh. Các vị sư này tách riêng một mình nơi chỗ xa thẳm, hẻo lánh, cất lên một cái cốc sơ sài, hay chui vào một cái động đá nào đó cũng xong. Những nơi càng xa vắng, hiểm trở, lại càng hợp với sở thích thoát tục của các ngài.

Người tầm thường nếu bị buộc ở vào cảnh ngộ của các vị sư tu thiền, chắc phải buồn rầu, chán ngán lắm, hoặc trở nên ngu xuẩn, điên dại cũng có. Thỉnh thoảng, trông thấy những cảnh tịnh thất, am mây, động đá, hang sâu, họ cũng đủ sợ sệt, kinh khủng rồi, nói gì đến sự nương mình nơi đó?

Song các vị này là những người sở ý thanh cao, tri thức quảng bác, trông rộng thấy xa. Các ngài vui tìm nơi vắng vẻ để dễ bề suy nghĩ, tham thiền. Tuy ở trong cảnh nhàn cư mà các ngài không bao giờ rỗi rảnh. Lắm khi quên cả thời giờ, không nhận ra là ngày hay đêm, vì mãi tập trung chú ý vào những sự điều dưỡng tinh thần hoặc sự hô hấp, suy xét những lẽ huyền bí, hay những vấn đề triết học tinh vi. Tâm trí để cả vào những sự suy nghiệm, hành trì, nên chẳng thấy mình cô độc, buồn chán.

Đời sống của một vị ẩn cư thật là thú vị. Nhiều vị sư khi được bước vào tịnh thất và đưa tay lên khóa chốt cửa lại, bỗng thấy mình vui sướng lạ thường. Nhiều vị sư khác, đứng trên am nhìn mấy cụm tuyết đầu mùa sa xuống dưới đồng, bèn lấy làm thích chí mà nghĩ rằng trong nhiều tháng tới đây, các đường truông đều bị phủ kín không còn ai đến quấy rối mình.

Chẳng ai có thể biết hết những hành vi của các sư ẩn cư tu thiền. Thật là đủ vẻ, đủ cách, dù bao nhiêu sách vở kể cũng không xiết. Vả lại, có ở trong cuộc thì sự hiểu nhau càng hay, còn việc ghi chép thành sách vở một cách thông thường chỉ làm mất đi sự thanh cao, huyền diệu đi vậy. Tuy nhiên, soạn giả cũng sẽ tạm kể qua ít phương pháp luyện trí của các vị tu hành nhập thất ẩn cư, để quý độc giả được biết sơ qua vậy.

Có người chẳng thông kinh thuộc nghĩa, chỉ lấy đức tin của mình mà dâng lên chư Phật, thành tâm mà trì nguyện. Giả như nguyện rằng:

Quy y Phật, Pháp, Tăng già,
Cầu cho cha mẹ ông bà quá vong,
Hãy còn luân chuyển sáu vòng,( )
Mau chân giải thoát, ngưỡng mong Phật đài.

Hoặc là niệm: Nam-mô A-di-đà Phật. Hoặc là trì danh hiệu một đức Phật, một đức Bồ-tát. Những người ấy ngồi thiền mà niệm, hoặc dùng linh phù, Pháp ấn mà niệm, nhất là lễ bái mà niệm. Trì niệm hết ngày sang đêm chẳng biết mệt nhọc, niệm cả vạn, cả ức lần một câu nguyện, một chân ngôn, một danh hiệu. Nhất là chẳng quản công lễ bái. Trước bàn thờ, đối với tượng Phật, họ lạy dập đầu sát đất. Những vị chân tu có thể nhận biết việc đắc quả nhờ ở sự thành tín mà nguyện vái và lễ bái vậy.

Cũng có người theo phép Du-già,( ) tức là họ tập phương pháp hô hấp, hít vào, giữ hơi và thở ra. Cho tiện luyện tập, phải mặc loại y phục thích hợp, thoáng rộng. Luyện được thuật Du-già thì có nhiều khả năng khác thường, như ngồi trên tuyết chẳng biết lạnh, chạy bộ cả trăm cây số rất mau… Ngoài ra lại được những sự lợi ích về tinh thần: diệt hết những mê muội, giận hờn, dâm dục, con người trở nên đoan trang, ham mộ việc tham thiền đặng tiến hóa về trí đức. Hầu hết các vị sư ở Tây Tạng đều công nhận rằng: trên con đường giải thoát, hơi thở là con ngựa, còn tâm là người cỡi ngựa.

Mỗi ngày, sau khi luyện hô hấp, người ta cũng tham thiền mà chế ra những vòng phép.( ) Nói về vòng phép, thật rất đa dạng, kể ra không xiết. Mỗi sư tùy theo căn cơ, trình độ của mình mà tập luyện. Và phải có tôn sư điểm Đạo truyền Pháp và dắt dẫn cho mới được. Vòng phép là một bản họa trên giấy, trên vải, trên chất kim, trên đá, trên cây… Người ta cũng dùng cả những cờ và phướn đỏ, đèn, nhang … hợp lại mà sắp ra vòng phép. Người ta cũng chế vòng phép vào vách phòng hay trên mặt đất, dùng phấn màu mà vẽ một cách phân biệt tỉ mỉ. Cỡ nhỏ hơn hết bằng bàn tay và cỡ lớn đường kính đến ba bốn thước. Có nhiều vị ngồi năm này đến năm kia mà luyện vòng phép. Phải được điểm Đạo truyền Pháp mới có thể luyện vòng phép. Một cái vòng phép chế ra bởi người chẳng được chân truyền không có giá trị gì hết. Ấy là một vật chết, chẳng cử động, chẳng cảm xúc, chẳng có sức linh hiển.

Các vị sư tu thiền trong tịnh thất, trong am, cốc, thường luyện vòng pháp, vẽ hình tượng rồi làm lễ khai quang điểm nhãn để biết sức nhập định của mình. Các ngài luyện phép này xong, lại luyện qua phép khác.

Các ngài cũng luyện vòng phép về tinh thần, tức là không cần phấn màu hoặc đồ vật chất nữa. Các ngài dùng tư tưởng mình mà vẽ ra một cái vòng. Hoặc là không vẽ cũng được. Rồi nghĩ đến hình dáng của một đức Phật hay Bồ-tát. Ban đầu, trong khi nhập định, chỉ thấy có một đức Phật hay Bồ-tát ấy mà thôi. Lâu dần, lại thấy có nhiều vị hầu quanh, thường thường là ba, bốn vị, có khi cả ngàn, cả muôn vị cũng có. Khi thấy đủ rồi, tức là thấy rõ ràng một vị ở chính giữa, có nhiều vị theo vây quanh, bấy giờ mới tưởng tượng thấy từng vị tản nhập lần hồi vào trong vị ở giữa. Cuối cùng chỉ còn có một vị ở giữa mà thôi. Vị này rồi cũng khởi sự tan dần. Trước hết là từ hai bàn chân, kế tới thân hình, lên đầu, và sau rốt toàn cảnh chỉ còn lại một cái chấm mà thôi. Cái chấm này sậm có, màu có, sáng suốt cũng có. Người thầy dắt dẫn theo chỗ đặc biệt này mà biết trình độ, chí hướng của đệ tử. Sau cùng, cái chấm ấy như đến người nhập định và nhập vào. Ở đây, vị thầy dắt dẫn cũng để ý tới chỗ mà chấm ấy nhập vào.

Nếu do nơi trán chỗ hai chân mày đâu lại mà nhập vào thì tốt hơn hết. Bấy giờ, người tu thiền lại cho cái chấm ấy trở ra. Hiện thành cái đầu, đến thân hình, rồi đến toàn thân vị Phật hoặc Bồ-tát cùng với tất cả các vị theo hầu. Người cứ cho hiện ra và nhập lại vào mình mãi, cho đến khi nào thuần thục hẳn mới thôi.

Cũng có vị tưởng tượng một đóa hoa sen. Hoa sen ấy nở ra. Trên mỗi cánh thấy ngự một vị Bồ-tát, và giữa hoa có một vị trung tâm. Hoa sen nở ra rồi, lại thấy khép lại. Mỗi cánh hoa khi khép vào thì phóng hào quang vào giữa hoa sen. Khi trọn cái hoa sen nở đã khép lại thành búp rồi, thì có hào quang chiếu vào người đang tham thiền. Sự nhập định về hoa sen như vậy cũng có rất nhiều cách khác nhau.

Cũng có vị nhập định, thấy chư Phật, Bồ-tát hiện đến với mình. Ngài thì ngự trên đầu, ngài thì ngự trên vai, ngài thì ngự trên cánh tay, trên bàn tay, khắp chỗ trên thân mình. Người tu hành thấy được cảnh này, lấy làm khoái lạc lắm. Bấy giờ dù ở nơi tịnh thất lạnh lẽo nhưng vẫn cảm thấy mình sung sướng vô cùng. Người ngồi thiền cũng có thể thấy chư Phật hiện đến mình, có thể nhận ra chư Bồ-tát ban phép lành thủ hộ mình và thốt lời diệu âm khen tặng mình. Bấy giờ người thỏa chí đến cực điểm. Rồi người nhập định muốn thấy các ngài hiện ra lúc nào cũng được. Người tu do đó mà hiểu được lẽ này: Phật tức Tâm, Tâm tức Phật. Ấy là đúng theo ý câu thơ của vị thánh tăng kiêm thi sĩ Milarespa:

Phật và Bồ-tát hành hào,

Do tâm xuất hiện, tản vào nơi tâm.

Nhà sư tu thiền đắc phép định cao siêu thì muốn thấy cảnh giới nào cũng được, muốn trông thấy đức Phật, đức Bồ-tát nào cũng được. Nhờ thiền định, mà người trở nên thần thông, trí tuệ và đắc chánh lý của Phật, tức là cái lý này:

Phật, tiên, thần, quỷ cõi trần,

Thảy đều bào ảnh, chẳng ngần ngại chi;

Bao nhiêu nhân vật cõi này,

Do tâm tạo tác, nhập thì vào tâm.

Và đắc cái lý ấy tức là đắc Đạo vậy.


PHẦN THỨ HAI : MỘT NGƯỜI PHÁP LÀM THẦY TU

9. Một người Pháp làm thầy tu Tây Tạng

Thỉnh thoảng, có một hai người, tuy sanh trưởng ở Âu Châu, mang xác thịt người Âu Châu, song tinh thần lại giống như người Á Châu. Ông Jean Marques Riviere là một người như thế.

Ông gốc người quý phái ở Paris, con nhà sang trọng, học lực cao, xuất thân nơi các trường đại học, và có đạt nhiều văn bằng giá trị. Ông lại có xem cách viết về triết học cổ kim, có ngẫm xét các nền đạo lý, thế mà ông chưa thỏa lòng, thấy trong người còn thiếu thốn mãi. Ông đã từng nghiền ngẫm những tư tưởng của Kant, Bergson và Freud, song vẫn là tạm xem tạm thích đó thôi.

Một hôm, nơi phòng khách của một bậc phú hào ở Paris, ông được hân hạnh làm quen với một nhà sư Tây Tạng bậc Gelong. Nhờ vị sư này chỉ dẫn, ông bước lên con đường mới mẽ và xán lạn sau này. Chính nhờ vị sư Gelong ấy điểm Đạo truyền Pháp cho, ông mới hé mở thấy được ánh sáng Phật Pháp và gắng công tu trì. Từ đây, ông hết ngờ vực, nghi nan. Ông thấy ra các nền triết học, các phái giáo của Âu Tây đều là vô công hiệu đối với ai muốn tầm sự an lạc và giải thoát. Ông thấy ra những chức tước, những văn bằng đều chẳng ích lợi vào đâu; con người ta bước chân ra khỏi trường đại học vẫn còn là ngu dốt đối với sự sống, chẳng khác nào đứa trẻ nên ba. Cho đến trong các học phái, trong các cuộc nhóm họp của những nhà học giả có danh, người ta cũng chỉ thấy là trống lổng mà thôi, thật là hữu danh vô thực. Vì vậy mà ông đâm ra chán nản đối với xã hội và đạo đức phương Tây. Quay về phương Đông, ông được vững lòng. Cái tâm đau đớn của ông thấy êm dịu, ông bắt đầu tự thấy được trình độ của mình và xác lập được mục đích vươn đến, nên bắt đầu thấy yêu sự sống. Muốn thấu Đạo một cách trực tiếp, ông nhất định qua xứ Tây Tạng, đành bỏ hết chức tước với các sự phú quý vinh hoa. Ông tu hạnh xuất gia. Trở nên một nhà sư Tây Tạng, mặc áo cà-sa, ôm bình bát, bỏ hết việc thế trần.

Nhờ vậy, ông được chính thức nhập hàng chư tăng, được coi như một người Tây Tạng, được các vị đại đức điểm Đạo truyền Pháp cho. Ông có tu tại am tự Chumi-Jadsa. Về sau, ông đến kinh thành Lhassa, vào thọ giáo nơi ngôi chùa lớn Ramot’ché là một ngôi chùa Mật giáo rất có danh ở gần đền Potala của nhà vua. Các sư ở chùa này rất giỏi về các phép huyền bí, khắp nước Tây Tạng đều kính nể. Rồi đó, bước đường đạo đức của ông càng ngày càng tấn phát. Ông có đến thọ bí truyền với nhiều vị Pháp sư ẩn mình trên núi cao, ông có ngồi thiền nhập định nơi động xa, cốc vắng. Và chính ông có ngồi mình trần trên núi tuyết trong tiết đông lạnh lẽo, ngày này sang ngày nọ, có khi cả tuần lễ chỉ ăn năm bảy hạt lúa mạch mà thôi. Sau cùng, ông được chánh truyền của Mật Giáo, được bước lên đường thành tựu và giải thoát.

Nhờ ở trong giới tăng sĩ, lại có trải qua các cuộc tu hành luyện đạo, nên J.Marques Riviere có sự khảo cứu hợp lý hơn các người Âu Tây khác. Ông là người hiểu thấu tư tưởng thanh bạch, lòng bác ái và tâm siêu việt của người Phương Đông. Những khi rỗi rảnh, nhớ lại cố hương và muốn giáo hóa, cứu độ cho người quê cũ, ông bèn viết sách, soạn kinh. Soạn xong mỗi quyển, trước khi ấn hành, ông đều có trình lên để chư thượng tọa và đại đức khảo duyệt. Những điều nào đáng công bố thì các ngài phê cho, những chỗ bí truyền, những đoạn quá cao siêu mà kẻ phàm phu không thể lãnh hội thì các ngài khuyên nên bỏ. Nhờ vậy mà ông luận giải rất chính xác và thích hợp. Tôi được biết ông có cho ra đời những quyển sách dưới đây:

• Le Bouddhisme au Thibet (Đạo Phật ở Tây Tạng)
• Le Yoga tantrique hindou et thibetain (Cách luyện đạo theo Mật giáo Du-già của Thiên Trúc và Tây Tạng)
• Vers Bénarès, la ville Sainte (Đến thành Ba-la-nại, nơi Thánh địa)
• L’lnde Secrète et sa Magie (Cõi Thiên Trúc bí ẩn và phép huyền thuật)
• À l’ombre des monastères Thibétains (Nương bóng chùa Tây Tạng)

Tiếp theo đây, tôi sẽ trích dịch ít bài trong quyển À lombre des monastères Thibétains (nương bóng chùa Tây Tạng), xem ra khá kỳ thú và hay ho. Độc giả sẽ thấy những cách tu hành ẩn mật của những vị sư Mật tông Tây Tạng.

10. Tại chùa Chumi-Jadsa

Cũng như nhiều ngôi chùa bên Tây Tạng, ngôi chùa Chumi-Jadsa ở lưng chừng theo triền núi. Chung quanh toàn là rừng. Cảnh thật vắng lặng, duy có tiếng vượn hú và thú gọi bầy mà thôi. Xa xa, mấy hòn núi khác bao giăng, đỉnh trắng xóa giữa bầu trời xanh ngắt.

Tôi bắt đầu làm quen với sự sống nơi chùa chiền. Phong thổ mát mẻ dễ chịu. Tôi còn nhớ mãi hôm chiều tôi mới đến, lúc sư thượng tọa chức Umzè tiếp rước tôi, hồi ngài và tôi gặp nhau lần đầu. Bấy giờ vật chi đối với tôi cũng là mới lạ cả. Tôi thấy mình ở trong một hoàn cảnh khác, giữa một dân tộc khác.

Trong chùa, cột và vách đều sơn màu vàng rực. Theo tường, có nhiều bức tượng nổi, họa đủ các tích trong đời của đức Phật tổ. Có nhiều bức phướn bằng lụa rũ xuống, mỗi bức có thêu mấy chữ Án ma ni bát di hồng. Chung quanh phòng có thờ tượng cốt của chư vị thượng tọa đã tịch, người ta phụng sự nhang đèn hằng năm. Trong cảnh nửa tối nửa sáng, mấy ngọn đèn dầu khi mờ khi tỏ soi lên gương mặt vàng rực của chư vị trụ trì quá vãng làm cho mấy tượng cốt im lặng ấy dường như sống trở lại giữa cuộc đời. Thật là lạ lùng thay!

Thình lình hai vị sư đưa tôi đi bỗng thụp xuống đảnh lễ. Trước mặt chúng tôi là sư thượng tọa chức Umzè. Chính sư Gelong quen với tôi ở Paris đã giới thiệu tôi đến ông này.

Về mặt đạo đức, ông đậu đến hàng Tiến sĩ( ) và ông có học khoa huyền bí tại ngôi chùa đặc biệt ở Morou. Vì thế, ông cũng được phong chức Tiến sĩ về khoa huyền bí nữa. Từ nhỏ đến nay, tôi chưa từng gặp ai thông minh như ông. Ông lại có trí nhớ rất tinh tường và có cái bí thuật nhìn thấu suốt người đối diện với mình. Tôi thật sự rất khâm phục. Ấy là một vị trưởng lão dáng người cao gầy, đầu cạo trọc. Ông mặc y phục đại lễ màu vàng, vì ông vừa ở trong chánh điện mới ra. Với cặp sâu ẩn vào trong hố mắt, ông chăm chú nhìn tôi một lúc. Bỗng tôi nhận ra dường như bị một lưỡi gươm bằng thép đâm vào người tôi, đào bới trong đầu tôi, trong tâm hồn tôi. Trước sự soi xét ấy, tôi chẳng che dấu gì nơi thân tâm tôi được. Dường như tôi bị phân ra từng thớ nhỏ vậy. Tuy chưa gặp tôi, nhưng ông đã biết tôi rồi, vì ông thường có thư từ qua lại với sư Gelong ở Paris. Trực giác của tôi như nhận ra rằng ông là người mà tôi đã từng quen biết. Song quen nơi đâu, lúc nào, thật khó mà nhớ được. Trong khi gương mặt thanh nhã của vị đại đức này nhìn tôi và mỉm cười, tôi nhận thấy một sự thiêng liêng bí mật nào đó như trở lại giữa ông và tôi, làm cho tôi tin chắc rằng tôi đã từng quen biết và gần gũi với ông trong một thuở…

Ông với tôi chuyện vãn rất lâu. Ông hỏi thăm những sở nguyện của tôi, cuộc hành trình của tôi từ Pháp đến Tây Tạng và có hỏi qua cuộc đời của tôi ở Âu Châu nữa. Ông chăm chú đọc hết bức thư rất dài của sư Gelong bên Paris giới thiệu tôi. Kế ông lui vào chánh điện, sau một bức màn màu vàng có thêu mấy chữ Án ma ni bát di hồng rất lớn. Dường như tôi nghe có tiếng chuông ngân. Rồi thì im lặng. Thật là kỳ lạ cho cái định mạng của tôi. Chân tôi đã bước vào đất nước Tây Tạng, nơi đây tôi sẽ sống phần đời còn lại cho đến khi gởi nắm xương tàn. Tôi sắp lìa hẳn cái thân thế của một người Tây phương để sống theo như hàng du tăng lặng lẽ…

Nửa giờ sau, vị sư trở ra. Về sau, tôi mới biết rằng chính buổi ấy, ông tọa thiền để quán xét việc có nên thâu nhận tôi hay không, và cuối cùng ông chuẩn thuận. Khi trở ra, ông bèn trịnh trọng bắt ấn hộ trợ cho tôi. Cặp mắt ông chăm chú nhìn tôi dường như để nhận cho tỏ rõ một vị đệ tử mà cơ duyên vừa đưa đến, và cũng như để soi cho thấu đáo tâm hồn tôi nữa.

Tiếp đến là nghi thức điểm Đạo truyền Pháp, tức là tạo sự liên hiệp mật thiết về tinh thần giữa tôn sư và đệ tử. Buổi sáng, mặt trời vừa mọc, hết hồi niệm kinh công phu, tôi theo sư Umzè vào tăng phòng. Ông giảng cho tôi nghe mấy đoạn kinh. Sau đó, ông chỉ thật rõ phương pháp tọa thiền với những cách kềm giữ thân hình. Rồi ông nhắc tới chư Phật, chư Thánh xưa kia đã từng dũng mãnh diệt phá vô minh với các nhân duyên chằng chịt đã làm cho con người khốn đốn, trôi lăn trong luân hồi. Các ngài thắng phục rồi, bèn trở nên nhàn lạc đời đời. Song các Ngài có lòng từ bi hằng lo cứu hộ chúng sanh mãi.

Tôi ngồi thiền nơi mấy cội cây trong cảnh rừng gần đó. Ở đây, cây này tàn tạ, rã rục thì cây khác sanh nảy lên. Cũng trải qua đủ một sự sống đầy vui sướng, khổ lụy và diệt mất. Tôi nhận thấy sức mạnh của sự sống như chạy vào, làm sinh động những thảo mộc, điểu thú và côn trùng mà tiếng dội vang lên khắp rừng. Hữu ích thay là sự ngồi thiền nơi sơn lâm. Mỗi ngày mình có dịp cho tâm trí hòa nhập với sự vật chốn này.

Buổi tối tôi trở về chùa niệm kinh công phu. Kế tôi đến bạch với Thầy việc trong ngày của tôi, trình bày những nhận biết khi thiền định, và tôi lắng nghe những lời giảng giải, khuyên bảo của thầy.

Thật tôi khó mà tả hết sự thanh thú siêu việt trong cuộc đời huyền bí này. Khó mà bày tỏ sự thay đổi thâm diệu trong người tôi, một ngày qua là một ngày tôi đổi khác. Tôi không phải là một người Âu Châu nữa. Những tập tục, những tư tưởng bên ấy bây giờ tôi coi ra kỳ chướng lắm. Và đối với sự vật, tôi không thấy cảm giác khác lạ gì, tôi thành ra như những người Á Châu chung quanh tôi vậy.

Tôi nhận ra những sức lực tiềm ẩn trong người tôi. Tôi thám hiểm cái thân tôi, càng tìm thấy những sự mới mẽ, tôi càng lấy làm lạ lùng và mến thích. Theo sự chỉ dẫn trong kinh, tôi ngồi thiền theo kiểu kết già, chân xếp, thân hình ngay ngắn, và tôi hô hấp theo một phương pháp riêng vừa niệm những chữ linh. Lúc ấy, tôi thấy như có lửa sanh ra trong người tôi. Chính cái sức mạnh vô cùng trong người của tôi khởi sự dấy lên, nó là cái khởi nguyên của nền bí thuật, cái phát điểm của sự bí truyền. Sự nóng của nó lần lần choán trọn cái thể của tôi đương ngồi yên, và ngọn lửa ấy đi lần ở trong thân tôi, đốt tới đâu thì trong sạch tới đó.

Một hôm, ngồi thiền gần một tàn cây nhỏ đơm hoa trắng tinh, tôi vô tình hà hơi lên một đóa hoa buông hờ trước mặt tôi… Bỗng tôi thấy nó teo lại, xám và khô dường như bị đốt. Như vậy, tôi hiểu ra rằng những vị sư khổ hạnh có thể ngồi mình trần trên non cao vào mùa đông, giữa khi tuyết đổ gió tuôn là vì vậy …

Cùng với những phép tập luyện cho thể xác tôi trở nên trong sạch, thầy tôi còn trao cho mấy bài kinh để tham thiền nhằm làm cho trí tôi trở nên thuần thục và cải hóa. Ấy là những bài trích trong bộ kinh Đại tạng Kanjour. Bộ này dịch ra từ chữ Tây Tạng thật là vĩ đại, tất cả là 108 quyển, mỗi quyển chừng một ngàn trang. Có hai bản cây to chạm trổ chận phía ngoài làm bìa. Muốn đọc hết bộ Đại Tạng Kanjour phải mất gần trọn một đời người. Song muốn đọc cho có hiệu quả thì còn phải có thầy chỉ dẫn mới được.

Thầy tôi chọn lấy những đoạn vừa với trình độ của tôi. Tôi khởi sự đọc mấy bài trong bộ kinh kỳ diệu ấy. Nhờ đọc tụng, tư tưởng của tôi thay đổi rất nhanh. Trước tôi còn quen theo tâm trí người Âu Tây, hay phân biệt, chia tách ra cái của mình với cái của người. Về sau tôi dần dần hòa nhập với tâm trí của người Á Đông, hay tham xét, hòa hợp. Bên phương Đông muốn thấu hiểu một vật nào, người ta nhập vào đó, làm một với nó, cho đến những vật mọn cũng vậy. Ở trong mỗi vật, đều có cái Phật tánh. Nhà hiền triết phương Đông bao giờ cũng sùng thượng cái tánh linh ấy. Nó thường trụ thường ẩn nơi sinh mạng mỗi chúng sanh, cho đến các loài vật nhỏ mọn như côn trùng, chim chuột…

Tâm tôi dần dần như được vào một cảnh giới mới. Tôi thấy mấy ông sư khổ hạnh mình trần, đi đâu cũng cầm theo một cây phất trần bằng lông chiên, bước tới một bước thì phất một cái để khỏi đạp nhằm và giết chết những sinh mạng của chúng sanh. Ngày trước, nếu nghe việc ấy chắc là tôi mỉm cười chê ngạo. Bây giờ, tôi thấu nỗi lòng từ bi của các vị. Mỗi khi có những vị sư ấy đi qua chỗ chúng tôi thì tôi chào hỏi một cách thành kính.

Những cuộc tham thiền tập cho tôi quen với sự sống về tinh thần. Người Tây Tạng cũng như người Á Đông, rất xem thường cuộc sống vật chất, không muốn tìm tòi để phát triển lên. Họ chỉ dồn nghị lực phấn đấu để đạt những sự cứu cánh về tinh thần. Theo gương họ, tôi luyện tập để thể nhập được vào chính cái yên tịnh nơi thâm tâm tôi, mà trước kia tôi đâu có ngờ. Song cũng là một việc chẳng dễ gì làm được: phải trải qua nhiều nỗ lực gay go, hiểm trở. Và tôi khó mà thuật ra hết những trãi nghiệm trong tâm tôi. Tuy vậy tôi có thể kết luận câu này: Khi mà người ta kềm giữ thân tâm theo một qui luật nhất định thì chẳng còn sự ngăn cách giữa thân thể và tâm hồn nữa. Người phương Đông nhờ các bậc thánh nhân thành đạo trực tiếp truyền mật lý cho nên dễ lần theo chân Tiên gót Phật. Chứ người Âu Châu thì đành thối bước trước những phương pháp huyền vi. Chính phải luyện phép hô hấp lâu ngày chầy tháng và rất mực cam go, lại phải nương nhờ vào một bậc thầy dắt dẫn có tài đức nữa. Phải luyện những cách ngồi, học những lời nói, vì câu chân ngôn tùy theo cơ cuộc mà có một sức mạnh lạ thường. Thân thể tôi rung động một cách điều hòa dường như dây đàn trỗi giọng dưới ngón tay nghệ sĩ. Ở trong cảnh cao vi ấy, tâm trí rất nên trong trẻo, mình nhận ra tất cả hoàn vũ đều thay đổi và mình không còn chú ý tới những quan niệm về thời gian và không gian. Bấy giờ, cái tòa sen mười sáu cánh với một ngọn lửa ở trong tim mặc tình nẩy nở và cháy bùng ra. Khi tôi lần xuống núi trở về chùa thì chân trời ánh đỏ, vì là buổi hoàng hôn. Tôi cũng thấy những màu sắc tốt đẹp phi thường chói lòa nơi mấy hòn núi tuyết phía tây, nơi ấy có đỉnh núi thiêng Everest mà những gót chân phàm tục không dễ gì bước tới.

Thỉnh thoảng, nơi cửa thiền cũng có những vị cao tăng đáng kính ghé viếng thăm. Ấy là những vị trưởng lão rất thanh bạch, từ trên am mây du hành đến miền đồng bằng. Mấy vị Lạt-ma trong chùa hỏi thăm các Ngài. Tôi được nghe những chuyện huyền bí về đời của bậc chân tu thành đạo đã diệt sự tử sanh. Tôi nghe biết bao điều linh diệu thuật lại bởi các sư.

Lâu lâu, nơi cửa thiền thanh vắng lại nghe xướng lên một bài kệ ca ngợi lòng yêu thương của chư Phật ngàn xưa. Các Ngài là bậc tiền bối của chúng ta trên đường đạo lý, đã từng làm người như chúng ta, đã từng khổ não khóc than như chúng ta, và đã từng mắc vào cạm bẫy luân hồi. Bậc đệ tử phải hết lòng kính yêu vị tổ sư điểm Đạo truyền Pháp cho mình, kính yêu đức Lạt-ma, bậc thầy, người cha về tinh thần, người sanh ta lần thứ hai vậy.

Nhờ thầy, ta mới nghe được những tiếng gọi trong cõi thâm mật và trực tiếp giao cảm với các bậc tiên thánh trong cảnh trang nghiêm nơi điện linh. Và sự mật truyền của vị Lạt-ma từ nơi miệng thầy mà qua tai trò, sự mật truyền ấy từ đời này đến đời kia, là một cái lợi khí rất đáng quý của người tu hành được điểm chứng. Giữa tình sư đệ bao giờ cũng có một sự liên lạc về tinh thần, tâm ý đôi bên đều tương thông, tuy hai mà như một. Trò trọn gởi thân vào thầy, cả hai đồng tin nhau, vừa giúp nhau, hy sinh cho nhau trên đường tinh thần và đạo lý. Giữa cuộc hòa lạc ấy, với những tâm hồn chung hợp nhau một cách thanh bai ấy, giữa những cuộc đồng bước để lên cõi giác ngộ, thì sá kể gì những cuộc luyến ái thế thường, còn kể chi những sự mê luyến ảo não và khóc than.

11. Thỉnh chư thần hộ trợ

Hôm nay là cuộc lễ cúng thánh thần hộ trợ. Tại chùa Chumi-Jadsa, các sư tới lui tấp nập. Những cái cối quay để cầu nguyện quay nghe chát chúa, vừa quay vừa khua chuông. Mấy vị trưởng lão ẩn cư đã lần lượt hạ sơn, vì trong một cuộc lễ như thế này cần có nhiều vị Lạt-ma đại đức mới được. Các Ngài mặc y phục đại lễ, an tọa nơi giáo đường, yên tịnh và nhắm mắt, ngồi kiểu kết già như đang nhập thiền định.

Ấy là cuộc lễ chư vị thánh thần. Từ những vị thường đem sự từ bi mà ủng hộ, cho đến những vị tùy dùng phương tiện, có khi hung dữ, bạo tợn để mà phò trì Phật Pháp. Các vị thánh thần được xem là vẫn hiện diện trong thế giới này, song không đồng cảnh giới với loài người. Các vị hiện diện chung quanh ta, đông đảo vô cùng, song mắt thường ta không trông thấy. Và các vị cũng xen vào việc thế trần. Các vị cũng đang bước trên đường giải thoát, và phận sự của các vị sắp được hoàn thành. Hôm nay là ngày thánh thần tề tựu và hòa lạc với chư tăng. Ấy là ngày trọng hệ nhất, vì có mặt vị đại đức thay quyền cho đức Ban-thiền Lạt-ma.( )

Giáo hội để riêng cho đại đức ở yên tịnh trên căn phòng cao nghiêm hơn hết. Ngài thay mặt đức Ban-thiền mà làm chủ tọa cuộc lễ này. Với cái lưỡi sấm sét( ) của Ngài, thứ bửu bối linh thiêng nhất ở Tây Tạng, Ngài sẽ ban phép lành của đức Ban-thiền mà thủ hộ cuộc lễ. Tôi có hỏi mấy vị sư tường tận về cái lưỡi sấm sét ấy, song ai nấy đều nhắm mắt chắp tay ra vẻ sợ hãi lắm. Tôi cầu thầy tôi là đức Umzè cắt nghĩa cho tôi song ông lắc đầu lặng thinh. Tôi hiểu ra rằng chưa đến lúc mà tôi cần biết. Đây rồi cuộc lễ sẽ cử hành trong sự bí ẩn, ly kỳ…

Rất nghiêm trang trong những bộ cà-sa vàng, chư vị đại đức lần lượt tựu đến và an tọa, trầm ngâm lặng lẽ. Tiếng chuông lớn và tiếng ốc tù và dội lên thỉnh các Ngài tề tựu. Chư tăng khắp nơi đều trở về chùa. Vì là cuộc đại lễ nên ai nấy đều nhịn ăn từ bữa hôm qua.

Thầy tôi sắp tôi vào hàng sa-di,( ) đứng cách chư vị đại đức một quãng xa. Tôi cũng mặc cà-sa vàng và đội mũ lễ. Một hồi chuông và tù và trổi lên nữa. Kế đó, chư vị Lạt-ma đồng thanh đọc kinh. Âm nhạc nhà chùa Tây Tạng thật có đủ những đặc tính về tôn giáo. Từ trước người ta đã định đặt đâu đó rất hợp lý rồi. Mới nghe cũng tương tự như âm nhạc tôn giáo Âu Tây, song chú ý kỹ thì nó huyền bí và hùng dũng hơn. Nhờ tu trì nơi ngôi chùa này, thân thể tôi trở nên tinh vi, nên nghe các sư đồng thanh xướng lên một lúc thì trong lòng tôi thấy rung động, thành ra minh mẫn hơn, như có thể nhận ra những điều siêu hình…

Cuộc lễ xướng kéo dài thêm, hòa với những tiếng trống, kèn.

Trong khi chư tăng xướng kệ đều đặn và thâm trầm, thì phía trong đền vị sứ giả của đức Ban-thiền đứng nghiêm trang, có tàn lọng che rất uy nghi. Kế bên Ngài là thầy tôi, sư Umzè, và mấy vị trưởng thượng trong chùa. Các sư đều quay mặt về phía chư vị trưởng thượng mà xướng kinh, ai nấy đều có đủ vẻ phước lạc và an tịnh huyền vi.

Khi cuộc đồng xướng gần mãn, vị sứ giả của đức Ban-thiền đứng dậy, miệng đọc thần chú, tay mặt cầm lưỡi sấm sét. Trầm hương bay tỏa khắp đền. Các sư vừa bắt ấn, vừa xướng kệ, vừa đánh chuông. Ai nấy đều thủ lễ thật nghiêm túc. Các vị thánh thần như đều tựu lại đủ, vì thầy tôi là đức Umzè đã triệu tập các vị bằng phép niệm chân ngôn. Lúc ấy, gió mạnh thổi tới và rú lên chung quanh đền. Những cờ phướn vàng và trắng treo dài theo tường đều bị lay chuyển rất mạnh. Người ta mới thổi mấy cây kèn to lớn lên. Loại kèn này, tiếng Tây Tạng gọi là Rha-doungh, đặt ở hai bên cửa đền, đúc bằng đồng, dài đến hai mét, thổi lên nghe như sấm vang, hòa với tiếng gió bão vừa kéo đến ầm ầm. Các thứ thanh âm sắc tướng ấy gây nên một cảnh tượng huyền bí, trang nghiêm, bao bọc tất cả từ ngôi chánh điện, tường vách, cờ phướn, cho đến các vị sư.

Bây giờ đến những lời quyết liệt, những tiếng anh linh. Những tiếng ca xướng trở nên dịu hơn, êm hơn, tự nhiên hơn. Trong người tôi lấy làm lạnh lẽo, tôi gắng chống chịu hết sức, nhưng cũng không khỏi run lên từng chặp. Tôi khoác vạt áo cà-sa mà trùm mình. Chắc là có sự chi bí ẩn lắm nơi chỗ ngồi vị sứ giả của đức Ban-thiền. Vì có một bức màn lụa màu vàng che khuất mấy vị trưởng thượng nên chúng tôi chẳng thấy được các ngài. Lúc này, những tiếng ca xướng thấy nhỏ và dịu lần. Thần kinh của tôi bị kích động rất căng thẳng. Trông ra, tôi thấy vài ba vị sư bỗng kêu rú lên và té lăn ra, nằm liệt trên đất. Chắc là các vị này chịu không nỗi với sức chấn động quá cao.

Không khí nặng nề vì những mùi trầm, hương, hoa với mùi bơ thắp trong mấy ngọn đèn trước tượng cốt. Các vị sư đã cầu thỉnh đến từ thánh thần cho đến những vị Lạt-ma đã qua đời. Tôi thấy dường như trong cuộc lễ còn đang hiện đến những hung thần, ác quỷ nữa.

Hạng sa-di chúng tôi sợ lắm, nên lần lần rón rén trùm áo lên đầu mà rút lui ra hết. Về phòng, chúng tôi nằm im trọn cả ngày, tâm trí hãy còn căng thẳng mãi vì những cảm giác lạ kỳ đã trãi qua trong cuộc lễ nơi đền…

12. Đến Lhassa, gặp thần tiên tri

Tôi đã từ giã ngôi chùa Chumi-Jadsa. Vì thầy tôi khuyên tôi đến kinh đô Lhassa mà theo học với mấy sư đạo cao đức trọng khác. Lại nữa, ở đền Potala của đức vua, mấy nhà quyền chức hay rằng có người Âu châu được điểm đạo truyền pháp, nên các ngài muốn biết mặt tôi đặng coi tôi có thành tâm hay không. Vì vậy nên tôi ra đi với mấy vị sư trong chùa. Tôi cũng mặc cà-sa như các vị ấy. Qua nhiều ngày, sương gió với ánh nắng mặt trời dần dần đổi màu da tôi ra như người bổn xứ.

Sự truyền pháp cho tôi là một việc rất quan hệ cho thầy tôi. Nếu vì mục đích quốc sự, vì giả dối mà tôi nhập Đạo, thì nguy cho tánh mạng thầy tôi lắm. Song sự gởi gắm của thầy tôi, một bậc tu hành có chức lớn và pháp thuật, làm cho cả hội đồng trưởng lão đem lòng tin. Người ta sẽ gạn hỏi tôi, luôn dịp sẽ truyền thêm giáo pháp cho tôi, nếu nhận ra tôi có đủ thành tâm và sức lực.

Nhờ chúng tôi là hạng thầy tu khoác áo cà-sa mà viễn hành, nên đến đâu cũng được tiện lợi, không ai tra hạch chi cả. Sau những khổ nhọc thường lệ vì sự lên đèo xuống vịnh, chúng tôi đến kinh thành uy nghi và tinh sạch. Nơi đây có đức Phật sống Dalai-Lama( ) làm chúa tể cả nước. Nơi đây có chư vị thượng tọa tái sanh giữ mgôi vị trong đời trước của các ngài. Cũng như các bạn đồng hành, tôi lấy làm cảm kích một cách sùng thượng khi thấy dạng thành Lhassa. Và cũng như các bạn, tôi thụp xuống làm lễ cảnh thành phố tinh sạch trước mắt chúng tôi…

Đến Lhassa, tôi trụ nơi chùa Ramotché, ở về phía bắc, cách đền Potala không bao xa. Tôi học thêm phép huyền vi với một ông sư chức cao, bạn của thầy cũ tôi ở chùa Chumi-Jadsa.

Đến đây, tôi bước vào một quảng đời khác, với những cuộc tu luyện khác. Ban đầu tôi hơi lấy làm lạ. Lúc ở chùa Chumi-Jadsa, tôi học khoa thần bí. Ở đây, có mấy vị tôn sư dắt dẫn những lễ giáo về huyền thuật. Tôi khởi sự học qua những sức lực huyền vi trong vũ trụ. Mấy vị tôn sư giảng cho tôi cái sức mạnh siêu nhiên chi phối cuộc sống. Các Ngài đạy tôi cách khuất phục và vận dụng được sức mạnh đó. Tôi cũng có dự được nhiều cuộc lễ về huyền thuật.

Tôi cũng có học biết về những khí cụ linh thiêng nữa. Trước hết là cái lưỡi sấm sét mà có lần tôi đã được biết trước đây, là một thứ khí cụ linh thiêng nhất, cán dài và tròn, đầu có năm cái chấu uốn cong theo hình như ngọn lửa. Kế nữa là cái búa linh( ) hình tam giác. Trong khi hành lễ, nhà sư niệm chú và vung lưỡi búa, ấy là biểu hiệu chặt đứt tham dục, diệt trừ phiền não. Tiếp đến là xâu chuỗi hạt làm bằng xương rắn.( )

Ramotché là cảnh chùa của Vua, xây dựng hùng vĩ lắm. Nơi chánh điện chạm trổ và bày trí khéo léo vô cùng, theo những đường nét mỹ thuật rất cổ xưa.

Ở đây, người ta thực hiện nhiều cuộc lễ huyền vi và linh diệu lắm. Ngôi chùa này vẫn được xem là đứng bậc nhất trong nước về huyền thuật. Ở đây, các vị sư phân tích, tìm hiểu những sức mạnh siêu nhiên trong vũ trụ và ngay chính trong thân người một cách tỉ mỉ lắm. Những môn tâm lý thần bí bên Âu Tây so với ở đây thì chẳng nhằm vào đâu cả. Ở đây, tôi thấy rất nhiều sự lạ mà không một nhà thông thái nào ở Âu Châu có thể hiểu và giải thích rõ được. Có khi trong cuộc lễ nơi đền, giữa tiếng kèn bằng xương người và tiếng trống bằng da người, tôi bỗng thấy lạnh mình và run lên.

Người ta đưa tôi đến đối diện với một vị thần tiên tri. Hội đồng ở đền Potala muốn nhờ thần ban cho những lời linh ứng về việc tôi. Họ nghĩ như vậy là chắc chắn hơn hết. Vì chính đức Vua cũng đã từng tin cậy nơi thần. Nói cho rõ hơn, đó là một vị Lạt-ma có thuật tiên tri, tu tại chùa Garmikhia, phía đông thành Lhassa. Ông này thường được một vị thần tiên tri mượn xác để nhập vào mà nói trước những việc trong tương lai.( )

Khi người dẫn đường đưa tôi đến, ông đang chờ chúng tôi nơi phòng riêng trên từng lầu. Ngồi yên trên một cái ngai bằng cây nhung có cẩn xà cừ, ông mặc lễ phục bằng lụa có dát vàng và dát ngọc, đầu đội một cái mão rất lạ… Người ta đem trà ra đãi tôi và tặng cho tôi một bức lụa gọi là lễ mừng khách theo phong tục Tây Tạng. Kế đến, người ta hỏi thăm qua về sức khỏe, sự học đạo và các cuộc hành trình của tôi. Tôi hiểu đó là phương pháp thanh nhã mà vị sư tiên tri dùng để dọ tâm ý và chí hướng tôi. Tôi nhìn gương mặt nhăn nhíu và mĩm cười của ông: nó như chứa đầy các sự bí ẩn.

Trong khi ấy, có tiếng kèn to trỗi lên gọi các sư vào cuộc lễ. Người ta đưa chúng tôi vào một chỗ tối trong đền, nơi đây chúng tôi thấy rõ có một cái ngôi oai nghiêm để ở giữa. Những đồ chạm trổ chói lên dưới ánh sáng của rất nhiều ngọn đèn. Tiếng nhạc và tiếng xướng tụng hòa nhau xen với tiếng mõ nhịp.

Kế đó, vị sư cốt thần hiện ra. Với những đồ trang phục rực rỡ và huy hoàng thái quá, xem ông già hơn, gầy hơn khi nãy mà chúng tôi gặp nơi tăng phòng.

Tiếng mõ càng đổ to và tiếng đồng xướng trổi cao lên cực điểm. Vị sư cốt thần đang ngồi yên trên ngôi. Bỗng ông run lên. Nơi cặp mắt nhắm khít của ông, thấy nước mắt chảy dài trên mặt. Tay chơn ông chấn động từng hồi theo nhịp kèn và tiếng xướng tụng. Một vị Lạt-ma mặt phủ kín sau một bức lụa đen, lâm râm đọc mấy câu chân ngôn huyền diệu…

Thình lình mõ và kèn rộ lên, cùng với tiếng xướng tụng của các sư hòa theo. Vị sư cốt thần té xuống đất trước ngôi. Ông vừa uốn mình vừa rú lên. Hai ông sư giúp việc vội chạy đến đỡ ông. Dường như lúc này vị thần tiên tri đã nhập vào ông rồi. Lần lần ông tỉnh lại. Nhờ hai ông sư tiếp sức,ông ngồi dậy và xỉu trên ngôi. Lạ lùng thay, lúc này mặt mày và dáng vẻ ông trông giống hệt bức tượng vị thần được thờ nơi chánh điện. Cũng một cách ngồi, cũng mấy ngón tay rút lại, cũng thân mình uốn cong,cũng một gương mặt y như hình vị thần thêu trong bức gấm trên bàn thờ. Ông từ từ mở miệng và thốt ra lời.

Ông nói rất mau, các vị sư bao quanh để nghe cho rõ. Tiếng nói nghe rổn rảng, vang dội. Thần nói tiếng Tây Tạng cổ có pha tiếng Mông Cổ. Tôi thấy người ta cặm cụi ghi chép lại, nghe nói còn sẽ phải tra khảo ở một bộ cẩm nang giữ kín trong một tàng viện bí mật mới có thể hiểu hết được ý thần.

13 . Vị sư làm sấm sét

Tôn sư tôi bảo tôi đến viếng một vị Lạt-ma bằng hữu của ngài. Ông này ẩn cư nơi một cảnh hoa viên nho nhỏ cách chùa Sera chẳng bao xa. Người ta bảo ông biết những thuật hô phong hoán vũ và làm sấm sét. Tôi cần phải ở gần ông một thời gian để tìm hiểu những môn ấy. Theo phong tục người Tây Tạng thanh cao, thầy tôi trao cho tôi ít món đồ quý để kính tặng pháp sư. Riêng phần tôi cũng sắm ít món lễ đặng ra mắt ông. Tôi mua một xấp nỉ, kèm theo vài nén vàng, ít món trang sức, mấy xâu chuỗi 108 hạt bằng xương rắn, cùng với mấy pho kinh mà thầy tôi gởi theo để cho pháp sư nhận biết trình độ học đạo của tôi.

Nhằm mùa xuân, phong cảnh đất trời xem ra đầy thi vị. Chúng tôi từ giã thành Lahssa mà đi lên phía bắc. Dọc đường, thường gặp mấy vị sư, mấy nhà hành cước lần đến thánh địa,( ) mặt mày sáng rỡ. Đến những nơi non linh cảnh đẹp, họ thường niệm kinh cầu thần thánh hộ trì. Tôi cũng có gặp những vị hành cước bỏ lắm công phu: đi một bước thì lạy một lạy, dập đầu trên bụi bặm giữa đường, vừa lạy vừa niệm kinh, tưởng Phật. Họ giữ hạnh khổ nhục hết sức: quần áo lem luốc, mặt mày rướm máu, mắt sưng vù, chịu đói, chịu lạnh và chịu khát trong khi trãi qua đồng cát. Vừa đi vừa lạy như vậy năm này qua năm nọ, họ tin rằng nếu đến thánh địa Lhassa thì họ sẽ được về cõi Phật. Lắm khi họ chẳng đạt mục đích, vì đói khát lạnh lẽo mà chết dọc đường. Song dầu chẳng đến nơi, nhưng với sự khổ hạnh và lòng thành tín của họ, họ cho là được phước lớn lắm.

Vị Lạt-ma pháp sư ở trên một đỉnh núi cao. Danh tiếng của ông rất lớn, nhiều người kính nể ông. Trước kia, có thời ông cũng đã tu tại chùa Ramotché. Ở Tây Tạng, đôi khi người ta nhờ đến các nhà sư để kêu mưa gọi gió hoặc ra oai sấm sét. Tôi sắp đối diện với một vị sư có năng lực ấy. Không bao lâu rồi tôi sẽ tận mắt thấy được những phép thuật của ông.

Pháp sư tiếp đón tôi trong một ngôi nhà bằng đất cất trên đỉnh núi. Tôi dâng lên lễ vật với thơ tiến dẫn và cầu xin ông truyền giáo cho.

Ông bảo tôi rằng: “Sư huynh ta đã từng giúp đỡ ta. Lẽ nào ta từ chối mà chẳng truyền dạy cho con. Vậy con hãy qua ngụ nơi động Ánh Trăng về phía bên phải con đường mòn này. Ở đó mà chờ ta, lát nữa ta sẽ đến…

Tôi theo lời đi qua động Ánh Trăng nằm về phía bên kia triền núi. Đứng trên động nhìn xuống, tôi thấy mấy đoàn cừu do một đứa trẻ đang dắt đi ăn. Trong động có trải một tấm da cừu làm chỗ nằm với mấy cái mền thô, và cái bát đĩa để đựng đồ ăn. Người ta có đục đá bốn phía vách thành ngăn để đựng kinh sách.

Kế đó vị Lạt-ma qua tới. Ông đưa tôi trở lại ngôi nhà đất của ông mà ăn lớ, do bà vợ dọn ra. Ông tu theo phái áo mũ đỏ,( ) được phép có vợ, và vợ ông cũng được điểm Đạo truyền Pháp, cộng tác với ông trong các lễ giáo huyền linh.

Tôi bắt đầu học những câu thần chú mời thỉnh. Cũng có học vẽ vòng phép, học linh phù( ) theo đúng phương pháp và tỉ mỉ lắm. Phải biết bày sắp cuộc lễ theo phong lược, phải thuộc đủ ấn chú mới triệu thỉnh được thánh thần đến. Trước đàn cúng tế, thỉnh đến rồi phải biết sai khiến thánh thần. Lúc ấy, tất cả đều làm theo mệnh lệnh của pháp sư.

14. Buổi mật nghị

Tôi ở tu tại chùa Ramotché đã được nhiều tháng và có tiến bộ về huyền thuật. Mấy ông thầy tôi đều vừa lòng. Tuy tôi được vinh hạnh tu trì tại một ngôi chùa lớn của vua, nhưng mấy vị trưởng thượng trong đền Potala vẫn còn để tâm nghi ngờ, dò xét tôi mãi.

Một hôm, có lịnh đòi tôi vào đền để trình diện với Hội đồng mật nghị của nhà vua, gồm mười hai vị sư trưởng thượng, chưởng giáo phái Không môn. Khi viên tùy phái đem lịnh ấy đến, tôi hối hả mặc lễ phục Lagoi và theo chân viên tùy phái của hoàng thượng. Chúng tôi đi theo một trong hai con đường có trồng cây dẫn vào đền. Khi qua khỏi trường Y học, chúng tôi đi giữa hai bờ lan can của một cái thang to lớn và lần lên cảnh đền chói đỏ rực dưới ánh mặt trời. Đền này sáng lập bởi đức Phật sống thứ năm, mới trông qua thì hùng vĩ lắm. Tuy gọi là đền vua, nhưng thực sự bên trong có đủ cả các công trình xây dựng như chùa, điện thờ, doanh trại, chỗ vua ngự, trường học v.v… Trong đền, im lặng vô cùng, ấy là sự im lặng đặc biệt trong các ngôi chùa ở Á Đông. Không nghe thấy âm thanh gì cả, ngoài ra tiếng động của mấy cái cối quay cầu nguyện có dán những câu linh chú, có mấy vị sư ngồi canh chừng gần nơi bực thang. Mấy vị này cứ lầm thầm niệm kinh mãi.

Có lắm vị sư phương xa đến thành Lhassa chỉ để vào đền Potala nhặt vài ba mảnh đá xưa, gạch cũ và đem về xứ mà làm thánh tích.

Chúng tôi thấy mấy ông sư đi đi lại lại, chân bước rất đều, dáng vẻ nghiêm nghị, mặt cúi xuống, các ngài vừa đi vừa lần chuỗi mà niệm Phật.

Chúng tôi bước vào một cánh cửa nhỏ và thấp, cách chánh điện một quãng xa. Khi đi qua khỏi tòa nhà giống như một trại lính với những đồn canh tuần, những hang nhỏ hẹp, chúng tôi đến một cảnh xán lạn, rực rỡ vô cùng. Nơi đây chạm trổ đủ những thứ vàng, bạc và xà cừ. Nhiều dãy hành lang, nhiều phòng ốc chỉ thuần có một màu mà thôi: hoặc xám, hoặc vàng, hoặc xanh biếc. Nhất là màu xanh biếc trong đèn Potala thì đẹp vô song. Tôi nói với viên tùy phái xin dừng chân một chút để tôi xem cho rõ mọi thứ. Thật tưởng chừng như đang lạc bước lên cung điện bằng ngọc bích của đức Ngọc đế vậy!

Sau rốt chúng tôi cũng đến nơi. Một vị sư vào báo tin. Chúng tôi ngồi chờ phía trước tòa mật nghị. Vị sư trở lại và mời tôi vào. Khi tôi đi ngang mặt, ông dặn nhỏ vào tai tôi rằng: “Nhớ giữ lễ giáo Tây Tạng.”

Tôi dâng bức lụa chúc mừng và những lễ vật ra mắt chư vị trưởng thượng. Kế tôi quỳ lạy theo triều nghi ở đền Potala. Ban đầu vì cúi xuống, nhắm mắt và thốt lời cầu chúc nên tôi chẳng thấy gì. Song tôi nhận ra không khí thật là êm dịu lạ thường và tiếng nói của tôi dội ra, vang lại nghe rõ vô cùng. Sau cùng, tôi ngồi yên giữa tòa. Nhìn quanh, tôi thấy giống như đang ở giữa một giáo đường tròn trịa và không có cửa sổ. Vách tường sơn vàng, chói rực dưới những ánh đèn màu. Trên trần có vẽ đủ thập giới. Còn dưới gạch thì có họa những linh phù, những vòng phép rất phức tạp, có nhiều cái tôi chưa hiểu nổi. Quanh theo phòng, có một cái trường kỷ chất đầy gối. Trên trường kỷ, mười hai vị trưởng thượng đang ngồi kiểu kết già và chăm chú nhìn tôi. Mỗi vị đeo một thứ biểu chương và mặc một sắc phục riêng. Trước mặt mỗi vị có kê một cái ghế đẩu để giấy tờ sổ sách và bút mực. Các vị ngồi vòng theo hình bán nguyệt, vị Nghị trưởng ngồi giữa. Chính ngài khởi sự hỏi chuyện tôi trước:

“… Này con, chúng ta biết rõ đường đi nước bước của con. Song trước khi nhận con vào vòng huyền linh bí ẩn của chúng ta, chúng ta cần phải thấy cho rõ con, biết con và nghe con nói …”

Tôi nhìn gương mặt mười hai vị trưởng thượng. Thảy đều giống với gương mặt của thầy cũ tôi, ông sư chức Umzè tại chùa Chumi-Jadsa. Cũng là sắc mặt thanh cao, tóc râu cạo sạch, sóng mũi ngay và dáng mặt theo dòng quí phái phương Đông. Cũng là một cách ngồi trầm tĩnh y như mấy lúc tọa thiền. Xem các ngài hệt như những cốt Phật bằng đá trong các ngôi đền. Các ngài có oai nghi nghiêm chỉnh, cao cả. Ấy là những bậc chưởng giáo có đủ quyền hành, ảnh hưởng lan ra đến cả muôn người.

Vị Nghị trưởng nhìn tôi và nói tiếp:

“Chúng ta cũng có biết chút ít về những giáo thuyết ở phương Tây. Chúng ta lấy làm lạ mà thấy con đến với chúng ta. Con đến để tìm sự an lạc và quang minh… Đó là điều tốt. Chúng ta tưởng cũng nên hỏi qua cho biết những sở học của con để tiện giúp con tu học thêm…”

Ngài Nghị trưởng nói mà chẳng ngừng nhìn vào tôi. Tôi kinh ngạc thay, vì ngài diễn tả rành mạch trọn cả quãng đời vừa qua của tôi, trưng bày những cuộc tra cứu, học hỏi của tôi! Ngài tả ra một cách rõ rệt, cho đến chính tôi cũng chẳng dám thốt ra với tôi như vậy nữa. Ngài tố trần một cách nghiêm khắc và không tư vị làm cho tôi phải sửng sốt. Ngài tách bạch cả tâm hồn tôi. Ngài biết hết tư tưởng tôi, các thâm ý, các sở vọng và chí nguyện sâu kín của tôi. Ngài đem tường thuật ra hết. Tôi đành chịu phục, chẳng hổ thẹn mà mong chối cãi. Vả lại, chư vị nơi đây thảy đều có bụng dạ thanh cao, từ hòa, thì tôi e ngại gì? Tôi thấy mình mạnh mẽ thêm và thanh thản hơn.

Kế đó, ngài Nghị trưởng thuật qua các sự suy tầm của tôi hồi còn ở Âu Châu. Ngài nêu tên những tác giả mà tôi đã đọc, những bực hiền triết mà tôi đã mộ danh và chịu ảnh hưởng. Ở trong phòng kỳ diệu này, tại thành Lhassa, nơi trung ương cõi Á Châu, mà nghe một nhà sư thốt ra những tên như Kant, Bergson, Freud… tưởng cũng thật lạ thường và khó tin lắm thay! Tôi nhận thấy một cái vực sâu giữa tư tưởng huyền linh và tư tưởng phàm thế, giữa Phật Thánh và loài người. Tôi thấy khác nhau một trời một vực giữa những cuộc tranh cãi của các giáo phái phương Tây với cuộc dung hòa tốt đẹp của phương Đông. Thì ra hai bên chẳng chung cùng nhau được. Những lý lẽ mà phương Tây vừa mới biện minh, phương Đông thẩm xét đã bao thế kỷ rồi! Những lý thuyết mới với những cuộc phát minh, sưu tầm ở Âu Tây, dẫu có tánh cách mạo hiểm đến đâu đi nữa cũng đều chất chứa trong mấy pho bản thảo ở nhà chùa. Chính tôi có thấu rõ nên mới công nhận sự huyền diệu của phương Đông…

Ngài Nghị trưởng đã thuật xong quãng đời đã qua của tôi. Trọn hai giờ đồng hồ cặp mắt ngài không lìa khỏi gương mặt tôi một giây phút nào, tôi bị ngài phân tách hầu như trọn vẹn. Kế đấy, ai nấy đều nín lặng. Mười hai vị trưởng thượng đồng nhắm mắt. Tôi lấy làm khó chịu mà đối diện với Hội đồng yên lặng này. Các ngài sẽ xử trí với tôi cách nào? Tôi rất ái ngại. Từ khi bước chân vào Nghị viện, tôi chỉ mới làm lễ các ngài, chớ chưa thốt ra lời. Thế mà các ngài còn biết tôi nhiều hơn chính tôi! Hẳn các ngài ở trong một cảnh giới mà tôi không có sức theo…

Bấy giờ, tôi nghe tiếng chuông ngân, tiếng chuông có sức ám ảnh lạ thường. Liền đó, tôi không thấy gì chung quanh tôi nữa. Tư tưởng tôi như chạy lạc hết. Tôi cảm thấy mình sợ sệt quá. Tiếng chuông càng trỗi thêm lên. Tôi không còn sức tự chủ, không còn nghe biết gì nữa. Dường như tôi sa vào vực thẳm, vào cõi không trung…

Sáng hôm sau, tôi thức dậy rất trễ và nghe nặng đầu. Tôi không hiểu cuộc thẩm vấn trong buổi mật nghị kết liễu ra thế nào. Ấy là sự bí mật mà không ai tỏ ra với tôi. Tôi chẳng biết gì về cuộc định đoạt của Hội đồng mười hai vị chưởng giáo. Sau rốt, người ta cho tôi hay rằng tôi được phép theo đuổi sự tu tập. Song tôi phải làm lễ tuyên thệ rằng tôi không bước chân ra khỏi xứ Tây Tạng nữa. Một vị trưởng lão Lạt-ma đáng tôn kính đem tin ấy đến tôi. Ông dạy thêm rằng:

“Bây giờ đây, con hãy còn thong thả mà trở về nước. Con có thể từ giã cõi đất linh thiêng này. Vì người ta mới truyền dạy cho con những điều ngụ ý, những lý luận huyền vi mà thôi, ấy là chỗ sơ khởi trên đường tu học. Chớ con chưa biết những sự bí ẩn oai linh, những sự quang minh vô lượng. Và Hội đồng chưởng giáo định rằng sẽ không truyền dạy thêm cho con nếu con chẳng nhập với chúng ta, hoàn toàn như chúng ta. Các ngài tuyển thầy đến dìu dắt con lên đường huyền linh, lên nẻo an lạc của chư Phật. Cho nên thầy đứng làm trung gian giữa ban Mật nghị của đức vua Dalai-Lama với con… Bây gờ con nên suy nghĩ. Và chiều nay, lúc trời chạng vạng, con sẽ cho thầy biết sở định của con…”

Kế đó, trưởng lão mỉm cười và nhẹ nhàng lui gót vào trong bóng tối nơi cảnh hoàng cung linh diệu. Đã lâu rồi, tôi luống đợi cái giờ phút này. Tôi đã từng bị ngờ vực, xa lánh, trong những khi tôi nương mình trong mấy cảnh am mây trên núi tuyết! Song tôi tự nhủ cho là có hân hạnh lắm, có chư Phật phò trì nên bước đường tu học của tôi mới mau lẹ như thế này…

Tôi biết rằng cam đoan rồi thì trọn đời tôi sẽ phải ở lại Tây Tạng, vì là lịnh vua luật nước và còn là một tâm nguyện thiêng liêng nữa.

Vậy thì có nên dành cả cuộc đời cho sự tu học về tinh thần chăng? Nhưng nghĩ đến sự trở về với những thành thị đông đúc, đầy khói, sa mù, trở về với những đám người tranh đấu, những dân tộc hỗn chiến, trở về nơi bùn lầy bẩn chật của thế tục, tôi tự hỏi: để mà làm gì? Thấy lại cuộc hung ác, tàn bạo, cuộc khổ lụy để mà làm gì? Dự vào những cuộc bất công, cuộc chém giết mà mình chẳng có phương cứu chữa, để mà làm gì?

Khi những tia sáng cuối ngày vàng vàng tím tím của cảnh tà dương chói trên mấy nóc đền vàng, cánh cửa bật ra để cho vị trưởng lão bước vào, có lẽ để nhận câu trả lời của tôi. Tôi bèn nhập định theo cách Phật ngồi thiền xả bỏ cuộc đời, vị Lạt-ma hiểu ý. Ông gật đầu và ngồi lặng yên bên tôi một lúc. Bóng hoàng hôn tràn ngập cả căn phòng. Xa xa, các ngôi chùa vọng đến tiếng chuông, dường như kêu gọi hết thảy thế nhân nhập vòng tịnh niệm.

15. Trên đường tu luyện

Tôi theo thọ giáo với vị sư mà Hội đồng đã tuyển ra để dìu dắt tôi. Vị này thuộc phái Không môn, tức là phái Vô vi. Bậc tôn sư tùy căn cơ của đệ tử mà chỉ dạy, có khi là khẩu truyền, có khi là thâu vắn một bài kinh hay nói rộng ra, có lúc mật truyền chỉ một câu chú. Lại có khi thầy trò cùng ra nơi đồng xa rừng vắng mà truyền thọ một vài lý vô vi.

Nhờ tu học, tâm trí tôi biến đổi dần dần. Tôi nhập học với các bạn, chúng tôi học một môn mà thầy tôi thường gọi là Phật bi tâm. Vì ông hay đem cái đề này ra để cho chúng tôi tham thiền. Không tập huyền thuật, không luyện Du-già, chúng tôi tham thiền theo những đề mục trong kinh do tôn sư chỉ dạy. Giả như tham thiền với đề mục như sau:

“Ai nghĩ rằng: ‘Tôi là Phạm Thiên’, thì người đó trở thành Phạm Thiên. Đối với người ấy, các thần linh đều tuân lịnh và chẳng làm hại nổi, vì chư vị thần linh đều có cái bổn tánh, cái chân linh của đức Phạm Thiên… Còn ai thờ phụng thần linh với tâm niệm rằng: ‘Vị thần này cao trổi quá, còn tôi thì thấp hèn.’ Nói như vậy là không thông lẽ đạo. Kẻ thờ phụng thần linh có khác nào con vật được nuôi dưỡng cho mập để nạp thịt. Người thờ vị thần nào tức là nuôi dưỡng vị thần ấy. Thần linh không muốn cho người ta biết điều này: mất đi một người khổ hạnh thờ phụng, ấy cũng như mất hết một con vật trong đoàn để nạp thịt. Thần linh thật không muốn hao mất những kẻ nuôi mình, nạp lễ vật đặng cho mình hưởng.”

Tôn sư dần dần giảng rộng bài ấy ra cho chúng tôi nghe. Ông chỉ ra các hạng thần linh trong thế giới với những công năng và quyền hạn của mỗi vị. Nào là thần núi, thần lửa, thần đất đai, thần mùa màng, thần tinh tú, thần sông rạch, với những thần ưa phá hại người, nào là thần bổn mạng theo khuyến khích mấy vị tu hành. Lại cũng có những hung thần độc ác, thô trược, ham ăn thịt, uống huyết, khiến người ta sợ mà dâng nạp lễ cúng để tránh tai họa. Tôi được dạy cho sự rèn luyện để chế ngự thần linh, giữ mình thoát khỏi sự đè ép, trói buộc của họ.

Có khi, sau một ngày trì kinh, thầy tôi gọi tôi ra nơi vắng lặng mà đàm đạo. Chúng tôi lần bước xuống hòn núi nơi có cảnh đền Potala xây cất bên trên. Thầy tôi đem sự mầu nhiệm ngàn xưa mà giảng lại với tôi, nhất là những cuộc đời thanh cao của chư vị tổ sư đã thành đạo.

Lấy những gương của chư Phật, các vị hiền thánh, Lạt-ma đã thành đạo, thầy tôi vạch con đường để tôi noi theo: con đường giải thoát và an lạc. Tôi bắt đầu thực hiện những sự học hỏi từ trước tới nay và tôi có dịp mà chiêm nghiệm điều này: được gần bậc giác ngộ, dầu ai thô chướng cũng dần trở nên thanh cao, và vui chân mà bước tới cõi lành. Và gần bậc Lạt-ma thọ chánh truyền, ánh sáng trí tuệ chói lòa, thì kẻ đệ tử tự thấy mình cũng minh mẫn hơn đôi chút. Nương theo ánh sáng của thầy, chúng tôi tham thiền, thấu lý và tiến tới trên đường trí huệ.

Sau giai đoạn tu học của tôi ở thành Lhassa, tôi từ giã tôn sư. Ông ban phép lành cho tôi và đeo vào tay tôi hai chiếc nhẫn dính với nhau, dấu hiệu chứng nhận việc tôi đã được điểm Đạo truyền Pháp. Chắc là ông cũng có cảm động về sự thầy trò chia tay, song tôi thấy gương mặt ông vẫn giữ vẻ an nhiên. Hôm ra đi, tôi thấy hình sắc ông gầy hơn, lưng ông còm hơn, có vẻ như lụng thụng trong bộ áo cà-sa vàng. Tôi biết rằng cuộc phân ly này hẳn là lâu lắm. Trước bữa tôi ra đi, ông truyền dạy tôi rất kỹ và căn dặn đủ điều. Mới biết trên đường học đạo, tình nghĩa thầy trò cũng khắn khít mặn nồng biết bao!

Mặt trời hồng ban mai rọi xuống mấy nóc vàng ngôi đền Potala. Cảnh đô thị thánh địa vừa tỉnh giấc trong đám sương mù hơi xanh xanh. Tôi ngoảnh nhìn nó lần cuối cùng…

Tôi đi về hướng nam để đến ngôi chùa Phuta-Gumpa ẩn trên dãy núi Hy-mã-lạp sơn, miền đất linh diệu nhất. Đoàn lữ hành của chúng tôi khi thì trải qua những cánh đồng xanh dọc theo bờ sông Brahmapoutre, khi thì luồn vào những khoảng rừng rậm không khí nóng như lửa, có khi lại trèo lên những hòn núi tuyết mà chịu những cơn giông tố lạnh lùng. Có khi phải đi qua những động cát, đoàn bò bị lún rất nguy. Dầu vậy, chúng tôi vẫn có được những niềm vinh hạnh hân hoan: đến mỗi danh lam cổ tự, chúng tôi đều ghé lại để lễ Phật và thăm viếng chư vị Lạt-ma. Đó là những dịp để cho tôi thâm nhập, tìm hiểu thêm về phong tục của các nhà tu đang hành trì tại xứ sở bí ẩn này. Hẳn là không dễ có một nhà mạo hiểm nào có điều kiện để tìm đủ các tư liệu về chùa chiền và phong hóa đạo đức ở đây cho bằng tôi. Tôi có nhiều dịp tiếp xúc với lắm vị Lạt-ma tái sanh, các vị được xem như là Phật sống, thánh sống. Cuộc đời của các ngài đầy những sự huyền diệu anh linh! Tôi không quên vị thượng tọa chùa Chekhar-Dzong đã truyền pháp Mật tông cho tôi. Ngài cho tôi uống thứ nước cam lộ đựng trong một loại chén huyền bí của mấy vị sư thọ mật truyền.

Gần đến chùa Puta-Gumpa. Trong khi bầy thú của chúng tôi trơn trợt trèo lên những đường mòn trên tuyết, hai bên đầy những vực thẳm rất ghê rợn, tôi thấy ra một cảnh tượng làm cho tôi ngỡ đâu mình đang trong giấc chiêm bao. Quả thật, tôi chỉ mới tận mắt thấy cảnh này lần đầu. Lúc ấy là về đêm, theo vách đá tôi thấy có ánh sáng lạ thường, tôi thúc ngựa đến gần. Kinh khủng thay! Giữa cảnh tuyết phủ quanh năm, gió lạnh buốt thấu xương, mấy vị tu sĩ đang để mình trần ngồi yên nhập định.

Chỗ này có danh là nơi luyện đạo của Mật tông. Chúng tôi trông thấy cảnh tháp thờ đức thánh Milarespa, là bậc chân tu thành đạo nổi danh ở Tây Tạng. Đã nhiều thế kỷ nay, ảnh hưởng ngài vẫn còn thịnh hành. Ngài vừa tinh thông các giáo điều, kinh luận của Phật tổ, lại vừa ra sức tu trì bằng sự nhập định trên núi tuyết rất dày công…

Vừa đến phía dưới chùa Phuta-Gumpa, tôi đã thấy ngài thượng tọa chờ đón tôi. Ngài biết có tôi đến nên đi xuống đón từ hôm qua. Ngôi chùa của ngài bị phủ dưới tuyết, chẳng có ai bước chân tới, thế mà ngài biết trước ngày giờ tôi đến. Kể cũng lạ thật! Tôi trình lên ngài xem những ấn, nhẫn và mấy xâu chuỗi đạo, những vật chứng cho tâm nguyện tu học của tôi. Và tôi cũng bày tỏ rõ nguyện vọng của mình. Ngài nghiêng mình để nghe, đưa ra cái đầu đội mũ đỏ, vì ngài vốn thuộc phái thầy tu mũ áo đỏ. Kế đó, tôi lấy làm lạ mà nghe ngài hỏi han tôi. Những câu hỏi của ngài cho tôi biết rằng ngài đã biết rất rõ về lai lịch của tôi rồi.

Ngài dắt tôi vào viếng một ngôi tháp. Chúng tôi rẽ những dây leo sắn bìm mà bước vào. Nơi ngạch cửa có những cái cối quay cầu nguyện rất to và rất cổ xưa. Phía trong trang hoàng thật nguy nga, tráng lệ. Nơi chánh điện có tượng cốt của đức thánh Milarespa rất lớn, lớn hơn cả các tượng Phật trên điện.

Ngài thượng tọa vì mắc bận nơi chùa trên, nên giao việc tiếp đón tôi cho một vị sư. Ông này là một vị ẩn tu khổ hạnh đã từng ngồi đại định trên mấy đỉnh núi cheo leo. Hiện giờ, quả thật tôi chưa thể sống nổi như các ngài: chỉ ăn ít hạt cơm trong một tuần lễ. Tôi ngụ trong điện thờ đức Milarespa và vị sư ẩn tu thỉnh thoảng đưa tôi lên đỉnh núi mà nghe kinh với ngài thượng tọa. Trong khi lướt qua những quảng rừng sâu hoặc những cánh đồng cao có tuyết phủ, chúng tôi thường gặp nhiều bầy thú rừng. Song chúng chẳng hề sợ sệt. Dường như chúng rất an tâm đối với tâm từ bi của các vị tu hành.

Có khi ngài thượng tọa thân hành xuống viếng chúng tôi. Vị ẩn tu chào ngài rất kính cẩn và dâng lớ đãi ngài. Hai vị thường cùng tọa thiền nhập định hoặc chuyện vãn, đàm đạo với nhau.

Nơi cảnh núi cao tuyết phủ, lời giảng của bậc tôn sư có sức mạnh rất thâm sâu. Dưới chân ngài, tôi ngồi giờ này qua giờ kia, quên hết thời gian. Ngoài những khi nhập định, ngài thường nhắc cho tôi nghe sự tích của đức đại thánh Milarspa. Gương tu trì khổ hạnh và huyền pháp của đại thánh, tất cả chư tăng Tây Tạng đều nghe biết và ghi nhớ rất rõ ràng.

Ngài thượng tọa thường xưng tụng bài kệ này:

Ở trong biển khổ luân hồi,

Trong miền tam giới cảnh đời xuống lên.

Thân người mộng ảo hay quên,

Tham mê, ưa mến cho nên khổ đời.

Hỡi ai muốn được thảnh thơi,

Chớ ham no ấm, vui chơi tháng ngày.

Thoát ra thế tục phàm phu,

Ngồi thiền cho đạt công phu mới là.

Hoa sen trong trí chẳng xa,

Lửa trời sáng hực tỏa ra độ mình.

Ta nay ngồi tịnh non xanh,

Lấy lòng thanh bạch kính thành chư linh,

Thánh, thần, các vị sư huynh,

Các ngài mau khá bước lên Niết-bàn!

16. Nơi miền an lạc

Tôi sắp vào tịch cốc ở chốn non cao. Thầy tôi dạy rằng: “Từ nay con không cần học nữa, mà phải chuyên tâm hành trì. Con đã học đủ giáo lý, đã từng suy xét, nghiền ngẫm rồi. Con đã vượt qua nhiều gian khổ bước đầu, nay đến thời kỳ thành tựu vậy… Con ơi! Hãy nghe ta, đây là lời chân thật về cuộc sống đời đời: tất cả vũ trụ đều là mộng ảo. Tất cả đều ở trong tâm con, từ trong tâm con mà sanh ra và khi mất đi cũng nhập vào tâm con. Tự thân con là một cảnh đền thờ uy nghiêm rồi, còn phải đi kiếm tìm đâu nữa? Con có thể dùng cái ảo mộng của ánh sáng nơi cõi thế mà tạo ra tất cả. Mọi vật đều là ảo ảnh, bóng dáng hết. Con cứ ngồi thiền nơi chốn yên tịnh, rồi con sẽ thấy ra điều đó.

“Có hai cảnh đời: cảnh đời phù du, tạm gởi và cảnh đời chắc thật, miên viễn. Hãy bỏ đi sự ảo mộng ám ảnh để bước lên cảnh nhàn lạc đời đời.

“Con ơi! Hãy nhất tâm mà nhập định hành trì, làm cho êm dịu đi những sóng gió, bão táp trong lòng. Hãy bỏ ra khỏi tâm trí những hình sắc giả tạo, hãy nhập vào cảnh giới vô hình, vô sắc, cảnh giới chân thật đời đời.

“Hãy dứt trừ sự tham muốn với cả những gốc rễ của nó ra khỏi lòng con. Đừng khởi nên các hành vi, đừng xao động tâm trí. Mỗi ngày nên chuyên cần nhập định đủ bốn thời.

“Kìa những kẻ phàm phu tục tử, họ mãi chịu đau đớn trôi lăn trong cảnh luân hồi. Họ đuổi theo sự sung sướng mãi mà có được đâu. Vì họ chỉ đuổi theo những lượn sóng và cát bụi mà thôi. Con hãy ngồi thiền nhập định, hãy thoát ra khỏi sự luyến ái, trìu mến, rồi con sẽ đắc nhập sự an nhiên, thoát ra ngoài cảnh đời phàm tục vậy.

“Nên biết rằng những vị thần linh cũng hằng ao ước được như chúng ta, các vị cũng muốn được tu định như ta. Vậy con hãy bỏ đi những nghi lễ, những sự thờ cúng mê muội. Tấm lòng từ bi xóa bỏ giới hạn giữa ta với các đấng thần linh. Nếu được sự an nhiên, chân thật vô vi thì tự phát khởi tấm lòng từ bi ấy. Hãy vào cảnh hư vô của chư Phật. Ở đó, con mới thấy được đạo. Còn khi loay hoay trong vòng thanh sắc, tâm trí con chỉ chứa đầy những sự sợ sệt và biếng nhác. Hãy mạnh dạn mà lột bỏ cả chiếc áo cà-sa này, nhập vào cảnh đại định. Con sẽ bước vào cõi hư vô cũng như con cá xuống nước vậy. Con ơi! Tất cả đều là ảo mộng, bóng dáng, thần tiên, cõi người cho đến hết thảy các thế giới cũng vậy. Tất cả đều tạo ra bởi từ cái tâm, nó làm cho luân chuyển trong vòng khổ lụy. Chỉ có một vật duy nhất là không dời đổi mà thôi. Con hãy cố mà tìm cho ra vật ấy, hòa nhập làm một với chính nó. Với công phu tham thiền, rồi con sẽ thấy…”

Theo lời chỉ giáo của tôn sư, tôi ngồi lại tham thiền, dùng một sợi dây( ) quấn ra phía sau để chịu lấy mình tôi. Ngày này qua ngày nọ, trí tôi chẳng để ý đến thời giờ, chẳng biết đến ngày đêm, mãi mê trong cuộc nhất tâm thiền định.

Ánh sáng dần dần tỏa rạng trong người tôi. Và như một bức màn từ từ vén lên…

Tôi cũng ngồi mình trần, luyện phép dẫn lửa và lấy làm ấm áp mà nhập định trên non cao có tuyết lạnh quanh năm. Tôi được công nhận vào hàng thánh giáo chân truyền do tổ sư Milarespa sáng lập. Ngồi xếp chân nơi am mây cốc quạnh, tôi được sự an lạc và như nhiên. Rồi, thời giờ dài dặc kéo qua như người ta lần từng hạt trong một xâu chuỗi dài. Tôi chẳng gặp gỡ một ai. Lâu lâu, chỉ có thầy tôi đến viếng và truyền cho tôi thêm ít câu chân ngôn huyền diệu mà thôi.

Những sự thấy biết của tôi nơi miền sâu thẳm, thật chẳng thể kể hết ra được. Nơi đây là một cảnh giới đầy đủ sự an vui, khoái lạc. Tôi như tách hẳn cõi hồng trần. Tôi không hề xuống núi. Và đã lâu rồi tôi không hề bước chân đến cảnh điện phía dưới thờ đức Milarespa. Trong lòng tôi đã dứt những sự tham cầu, vọng động. Tôi đắc nhập sự an nhiên, tịnh lạc trong cảnh núi cao rừng thẳm ở cõi Á Đông này…


Phần thứ ba: MỘT TU SĨ Ở MÔNG CỔ

17. Một vị sư chiến sĩ

Ở Tây tạng và Mông Cổ, các vị sư Lạt-ma có nhiều hạng khác nhau. Một số vị vừa làm thầy tu vừa kiêm thêm một chức nghiệp khác nữa. Như có sư làm khoa bói toán, có sư biết pháp thuật, có sư giỏi thuật chiêm tinh, lại có sư làm lương y, hoặc cai quản điền thổ. Thậm chí còn có cả các vị sư lo việc cầm thương lên ngựa mà bảo vệ xứ sở và hộ trợ ngôi Tam bảo. Dưới đây, tôi dịch bài viết về một vị sư bí mật, là một chiến sĩ can đảm được người Mông Cổ thờ kính như thánh thần.

Trên đường đến thành Kobdo, nằm về vùng Ngoại Mông( ) miền Tây, vừa lúc trời chiều chúng tôi thấy một cái trại mục đồng gần bờ hồ Ba-ga-no.( ) Nhằm lúc bão dậy tuyết sa, nên chúng tôi định dừng chân tá túc nơi trại ấy. Phía ngoài có một con ngựa hồng rất đẹp đang đứng, những yên cương toàn bằng bạc khảm san hô. Chúng tôi từ ngoài đường bước vào, vừa lúc có hai người Mông Cổ từ trong trại đi ra một cách hối hả. Trong hai người ấy, một người thót lên ngựa và phóng nhanh đi ngay, lẫn khuất rất mau trong cánh đồng, phía sau mấy hòn núi tuyết. Chúng tôi vừa kịp thấy mấy vạt áo sáng ngời dưới một cái áo dài màu vàng, ở ngoài phủ một cái áo choàng rộng. Và chúng tôi cũng nhìn thấy một thanh gươm to, vỏ bằng da xanh, cán bằng sừng và bằng ngà. Còn người Mông Cổ kia là chủ nhà trại, làm mục đồng cho ông hoàng trong xứ, ông Nô-vông-xi-răng.( ) Người lấy làm vui mừng khi nhìn thấy chúng tôi, ân cần mời vào trại.

Tôi hỏi: “Người cỡi con ngựa hồng đó là ai vậy?”

Chủ nhà cúi mặt xuống, lặng thinh.

Tôi hỏi nữa rằng: “Ông nên nói cho chúng tôi biết. Nếu ông không nói tên người ấy, tức là ông đang giao thiệp bí mật với một con người nguy hiểm nào đó.”

Chủ nhà đưa tay lên, cãi lại: “Không! Không! Người ấy là một bậc đại nhân cao quý. Song theo luật pháp trong nước, tôi phải tránh nói tên ngài.”

Chúng tôi ngụ ý biết rằng người ấy nếu không phải là chủ của người mục đồng thì cũng là một vị Lạt-ma lớn chức. Vì vậy, chúng tôi không hỏi nữa, bèn lo chuẩn bị mền gối ra chỗ ngủ. Chủ nhà dọn cơm nước thết đãi chúng tôi một cách trọng hậu…

Đã mấy hôm liền trải qua hơn hai trăm sáu mươi cây số, lặn lội trên tuyết và chịu lạnh suốt đường trường, nay được nghỉ trong một cảnh nhà trại, như vậy tưởng cũng đáng công. Chúng tôi đang ngồi nói chuyện một cách tự do và vô tư lự, vừa thưởng thức món thịt cừu béo trong buổi ăn chiều, bỗng nghe có tiếng rổn rảng thốt lên: “Chào quý ngài.”

Chúng tôi xoay đầu về phía cửa trại và thấy một người Mông Cổ tầm vóc trung bình, mập mập tròn trịa, khoác một cái áo choàng bằng da hươu phủ lên tới đầu. Người đeo một thanh gươm to, ngoài bọc da xanh, chính thanh gươm chúng tôi đã thấy nơi lưng người kỵ mã hồi chúng tôi mới đến. Chúng tôi đáp lại: “Chào ngài.”

Người ấy mau mắn cởi đồ nai nịt và bỏ áo choàng ra. Bấy giờ người đứng trước mặt chúng tôi, mặc một cái áo lụa đẹp cực kỳ, màu như vàng ròng và mang một sợi đai xanh biếc rất thanh lịch. Trông qua gương mặt tóc râu cạo sạch với xâu chuỗi Bồ-đề bằng san hô đỏ và bộ cà-sa vàng của người, chúng tôi hiểu rằng ấy là một nhà đại sư Lạt-ma. Song phía trong sợi đai xanh biếc, người có giắt một khẩu súng ngắn khá to hiệu Colt.

Xoay qua chủ nhà và người dắt đường cho bọn tôi, tôi thấy gương mặt họ lộ vẻ sợ hãi và kính trọng lắm. Khách đến ngồi bên lò lửa. Người vừa cầm lên một miếng thịt cừu vừa nói rằng: “Chúng ta hãy nói tiếng Nga.”

Chúng tôi bắt đầu làm quen và nói chuyện. Khách khởi sự bằng cách chê trách đường lối chính trị đương thời của đức Phật sống ở Ourga.( )

“Bên đó, ông ấy giải phóng cho xứ Mông Cổ, chiếm lấy thành Ourga và đuổi quân Trung Hoa chạy đi. Còn ở đây, nơi miền Tây Tạng, chúng tôi không được tin tức gì cả. Chúng tôi không ra khỏi chỗ này, còn quân Trung Hoa thì tha hồ đánh giết và cướp giật của chúng tôi. Vị thượng tọa cầm đầu ở Ourga có thể sai người đem tin đến cho chúng tôi kia mà. Cứ như người Trung Hoa ở tận miền đông, nơi thành Ourga và thành Kiakhta xa xôi là thế, mà họ còn phái sứ đến thành Kabdo miền Tây được! Sao chính phủ Mông Cổ lại không làm như vậy được?”

Tôi hỏi rằng: “Người Trung Hoa có thể đem binh tiếp ứng qua Ourga chăng?”

Vị ấy cười rổn rảng, đáp: “Tôi đã chận mấy tên sứ giả lại, tịch thu thư từ của họ và đưa họ xuống âm phủ hết rồi.”

Người lại cười lên nữa và nhìn chung quanh mình với cặp mắt sáng ngời. Bấy giờ, tôi mới nhìn thấy gò má và cặp mắt của người không giống với người Mông Cổ ở miền trung ương Á Châu, mà giống với người Tân Cương.( )

Chúng tôi yên lặng và hút thuốc. Rồi sau nói qua chuyện tình hình quân sự trong nước, vị Lạt-ma ấy được biết tôi vừa thất bại trong cuộc hành trình vượt qua xứ Tây Tạng thì người có vẻ cảm mến lắm. Người lấy làm tiếc mà nói với tôi rằng: “Thật ra, duy chỉ có mỗi mình tôi là có thể giúp ngài trong cuộc hành trình đó thôi. Sư thượng tọa ở Na-ra-băn-si không đủ sức giúp đỡ các ngài đâu. Nếu có tờ thông điệp của tôi, quý ngài có thể muốn đi đến bất cứ nơi nào trong xứ Tây Tạng đều được cả. Tôi là Tu-sơ-guông Lạt-ma( ) đây.

Hóa ra vị này chính là Tu-sơ-guông Lạt-ma! Tôi đã được nghe biết bao nhiêu chuyện bí hiểm về ngài. Ngài là người Mông Cổ ở vùng thuộc Nga.( ) Vì ngài rất nhiệt thành trong cuộc tranh đấu cho việc Mông Cổ được độc lập, thoát khỏi sự lệ thuộc vào ngoại bang, nên đã nhiều phen tù tội ngay từ khi nước Nga còn theo chế độ quân chủ.( ) Sau ngài trốn thoát được ngục tù mà chạy xuống vùng Mông Cổ tự trị, được nhân dân Mông Cổ tôn kính và sùng bái lắm. Ngài có mối quan hệ rất thân mật với đức Phật sống Dalai-Lama ở Lhassa, vì ngài trước vốn là đệ tử của vị chúa tể Tây Tạng ấy. Tuy nhiên, trong mối quan hệ với đức Dalai-Lama, ngài vẫn luôn giữ được tư thế độc lập, không phụ thuộc, vì chính ngài đang nắm giữ các lực lượng của nhân dân xứ Mông Cổ miền Tây, kể cả miền thuộc Trung Hoa. Uy thế chính trị của ngài thậm chí còn lan rộng đến cả các lực lượng người Mông Cổ ở Tân Cương. Người ta kiêng sợ và kính nể ngài lắm, vì ngài có những hành tung đầy bí ẩn và uy dũng. Hầu như người Mông Cổ nào cũng nể sợ ngài cả. Thực tế thì những ai trái lệnh ngài rất khó mà bảo toàn tính mạng.

Không ai có thể biết trước được ngày giờ nào ngài xuất hiện, và xuất hiện ở đâu. Hoặc ngài hiện ra trong một nhà trại giữa đồng hoang, hoặc uy phong lẫm liệt trên lưng ngựa hồng. Quyền lực của ngài cũng hiện ra một cách đa dạng theo nhiều cách. Hoặc là một lưỡi gươm đoạt mạng, một viên đạn súng lục, hay mấy ngón tay bóp chẹt vào cuống họng. Và những chuyện ấy luôn luôn đến rất bất ngờ không ai có thể lường trước được.

Trong khi chúng tôi chuyện vãn, bên ngoài gió vẫn thổi ào ào, làm cho tuyết rơi xuống đập vào tấm nỉ giăng trại tạo thành âm thanh đều đặn, rắn chắc. Xen lẫn trong tiếng gió gào, người ta như nghe thấy những tiếng la hét, gầm thét và cười đùa. Bỗng vị Tu-sơ-guông Lạt-ma ngước đầu lên, mắt nhìn chăm chú vào mặt tôi, ngài nói:

“Trong tạo hóa có lắm sự mà người ta chưa từng biết đến. Nếu có thể tùy ý vận dụng những gì mà người ta chưa từng biết đó, tức là được phép bí thuật. Song không dễ có mấy ai đạt được những quyền phép ấy. Để tôi cho ngài xem đôi chút, rồi ngài hãy nói cho tôi biết ngài đã từng thấy những điều như thế này hay chưa.”

Nhà sư nói xong liền đứng dậy, vén áo cà-sa lên, chụp lấy chuôi gươm và bước đến trước người chủ nhà trại. Ngài truyền lệnh rằng: “Mi-sít!( ) Hãy đứng dậy.”

Người chủ nhà liền đứng dậy. Vị sư đưa một tay tháo nút áo của ông này, bày rõ bộ ngực ra. Tôi chưa kịp hiểu ngài đang định làm gì thì bỗng thấy ngài dùng hết sức mà đâm mạnh mũi gươm thấu qua ngực ông chủ nhà. Ông này té ngửa ra, mặt mày, mình mẩy dính đầy máu. Tôi nhìn thấy cái áo cà-sa vàng bằng lụa của vị Lạt-ma cũng vấy đầy máu nữa. Tôi hốt hoảng la lên: “Ngài làm gì vậy?”

Nhà sư quay sang tôi, gương mặt tái xanh. Ngài bảo nhỏ tôi rằng: “Ông nên giữ yên lặng.”

Rồi ngài lấy gươm bổ xuống mấy nhát nữa, xẻ banh ngực của nạn nhân ra. Tôi nhìn thấy hai buồng phổi thoi thóp và cả sự động đậy của trái tim ông ta nữa. Vị Lạt-ma lấy tay sờ vào những phần cơ thể ấy. Bỗng máu hết chảy và gương mặt ông chủ trại trở nên bình thản lại. Ông nhắm nghiền mắt, dường như đang ngủ một giấc ngon. Tôi lại thấy vị Lạt-ma bắt đầu moi ruột người chủ trại ra. Khủng khiếp quá, tôi nhắm chặt hai mắt lại không còn dám nhìn nữa. Khi mở mắt trở ra, tôi kinh ngạc vô cùng khi thấy ông chủ trại vẫn còn nằm nghiêng qua một bên, ngực áo hở ra, nhưng những vết thương khủng khiếp ban nảy không còn nữa. Ông vẫn thản nhiên ngủ ngon lành gần bếp lửa. Vị Lạt-ma thì thong thả ngồi hút một điếu thuốc bên lò lửa, tâm trí như đang suy nghĩ một điều gì. Tôi liền đến bên nói với ngài: “Hay lạ thật! Tôi chưa từng thấy những điều kỳ lạ như vậy.”

Ngài hỏi tôi: “Ông nói gì vậy?”

Tôi đáp: “Tôi nói về những phép thuật mà ngài phô diễn cho tôi xem và hỏi tôi đã từng thấy hay chưa đó.”

Ngài đáp thản nhiên: “Nào tôi có nói gì đâu?”

Tôi bèn hỏi ngay người dẫn đường của chúng tôi, lúc ấy cũng đang ngồi cạnh tôi: “Ông có thấy gì không?”

“Thấy gì?” Ông này trả lời tôi với giọng ngái ngủ.

Tôi chợt hiểu. Hóa ra nhà sư vừa dùng phép thôi miên để chế ngự tôi, làm cho tôi trông thấy tất cả những cảnh tượng ghê rợn ấy. Tôi thở phào. Thà vậy còn hơn là thực sự chứng kiến cái chết của một người vô tội. Và quả thật, lẽ nào lại có chuyện mổ bụng người rồi làm cho lành lặn trở lại dễ dàng như vậy sao?

Qua hôm sau, tôi từ giã mọi người. Vị đại sư Lạt-ma cho tôi biết là ngài sắp thực hiện một cuộc vân du. Ngài sẽ đi khắp xứ Mông Cổ, từ những trại du mục tầm thường nơi đồng hoang vắng lạnh, hay trong các trại huy hoàng của hàng vương tôn công tử. Ngài sẽ đi khắp cả và ở đâu ngài cũng sẽ sống được theo một cách rất tự nhiên. Hầu như đâu đâu người ta cũng kính phục ngài. Khi chia tay, ngài bỗng bất ngờ nói với tôi: “Những gì ông thấy hôm qua chỉ là một sự phô diễn rất xoàng thôi. Người Âu Châu các ông còn lâu mới hiểu hết những huyền vi bí ẩn nơi xứ sở chúng tôi. Giá như ông có thể thấy được những quyền thuật của đức Ban-thiền Lạt-ma. Khi ngài chú nguyện thì nguyện lực ấy có thể làm cho tất cả đèn thắp trên điện thờ Phật sáng rực lên. Lại còn một vị nữa, có quyền thuật cao hơn.”

Tôi ngắt lời ông: “Có phải vị chúa tể ở Agharti chăng?”

Nhà sư chăm chú nhìn tôi, có vẻ ngạc nhiên. Cặp chân mày ngài nhíu lại, ra tuồng suy nghĩ. Rồi ngài hỏi tôi: “Ông có nghe nói đến vị ấy rồi sao?”

Không đợi tôi trả lời, ngài ngước mắt lên và nói tiếp: “Chỉ có một người đã đến tận xứ Agharti và biết được hồng danh của vị ấy mà thôi. Người ấy là tôi đây. Chính vì vậy mà đức Đạt-lai Lạt-ma trọng nể tôi. Vị Phật sống ở Ourga kính trọng tôi. Song tôi không lên ngôi như hai vị ấy đâu, vì tôi thật chẳng phải một thầy tu. Tôi là một chiến sĩ.”

Vừa dứt câu ấy, ngài đã ngồi gọn trên yên ngựa. Vừa quất ngựa ra đi, ngài vừa quay lại nói thêm lời từ giã với chúng tôi: “Chào quý ngài! Chúc đi may mắn nhé.”

Khi chúng tôi tiếp tục trên đường đi, người dẫn đường là Xơ-ren( ) kể thêm cho chúng tôi nghe rất nhiều điều kỳ lạ về Tu-sơ-guông Lạt-ma.

(http://thienphatgiao.wordpress.com/2013/06/05/may-thay-tu-huyen-bi-o-tay-tang-va-mong-co/)

Từ súc sanh, nhân loại đến tiên thánh
Nhân khi xem quyển Bêtes, Hommes et Dieux( ) của soạn giả Ferdinand Ossendowski, tôi thấy có nhiều việc huyền bí về miền Tây Tạng và Mông cổ, nên tôi trích dịch dưới đây để cống hiến cùng chư độc giả.

Nơi trung tâm cõi Á châu, từ Tây Tạng đến Mông cổ vẫn được xem là miền ẩn chứa rất nhiều điều huyền bí. Nhất là tại xứ Mông cổ. Ông Ferdinand Ossendowski đã từng có một thời gian sống ở nơi ấy, và đã từng nhận thấy lắm sự linh diệu. Xứ sở này là nơi phát tích của nhiều dân tộc đã từng ghi danh vào lịch sử nhân loại, và cũng là nơi có lắm truyện truyền kỳ. Đây còn là quê hương của những dũng sĩ phi thường đã ra đi chinh phục hoàn cầu trong đoàn quân viễn chinh của vị đại đế Thành-cát Tư-hãn. Ngày nay người ta vẫn còn thấy được những lăng tẩm cổ xưa, những kinh thành vùi lấp dưới trận mưa cát trong sa mạc Gobi mênh mông.

Nơi xứ này, dân chúng thờ cúng các vị thần, thờ Phật. Họ rất sùng kính vị thượng tọa Lạt-ma ở chùa xứ Ourga. Vị này ở trong chi phái Lạt-ma giáo của đạo Phật, là vị Phật sống thứ ba, sau ngài Dalai-lama( ) và ngài Trashi-lama.( )

Ông F. Ossendoswki vốn người Ba Lan, qua ở bên Nga. Về sau, ông lại bỏ xứ ở Nga mà lần xuống miền Á Châu, trải qua nhiều sự nguy khổ tưởng đã bỏ mình. Ông định lần xuống Tây tạng rồi qua Ấn Độ, rồi sẽ vượt biển từ Ấn Độ mà qua Âu châu. Song khi đến Tây Tạng, ông bị bọn cướp đường chặn đánh và giết rất nhiều bạn đồng hành. Ông liền phải trở lên Mông Cổ để qua Trung Hoa, để rồi từ Bắc kinh đi tàu thủy mà sang Âu Châu. Ông sống ở Mông Cổ trong 6 tháng, vào năm 1921. Nhờ có sư thượng tọa tái sanh ở chùa Na-ra-băn-si( ) ban cho một chiếc nhẫn, nên trong khi trải qua các nơi ở Tây tạng và Mông Cổ, ông được những vị sư ở các chùa giúp đỡ tận tình. Người ta xem ông như người đã được điểm Đạo truyền Pháp, nên không có sự che dấu gì đối với những sự thắc mắc, tìm hiểu của ông. Lắm khi ông lâm nạn hoặc thọ bệnh nguy kịch, các sư cũng hết lòng cứu thoát. Vì vậy, ông rất có cảm tình với các bậc tu trì trong đạo Phật.

Bài mà tôi trích dịch thuật dưới đây vốn là lời tự thuật của ông F.Ossendowski, ghi lại những gì ông đã tận mắt chứng kiến và tìm hiểu trong thời gian lưu lạc.
Read more…

Video

Back to top Go bottom