Từ hiệu ứng con bướm đến pháp giới Hoa nghiêm

03:01 |
Pháp giới Hoa Nghiêm


Tư tưởng Hoa Nghiêm trình bày vạn pháp do tâm sanh. Tâm là thực thể của vạn pháp. Tâm vọng thì vạn pháp hoạt hiện sai biệt hình hình sắc sắc, trùng trùng duyên khởi, cái này có cái kia có và ngược lại, như lưới đế châu. Tâm chơn thì pháp giới tánh với Tâm là một, vạn pháp đồng nhất thể. Tâm thanh tịnh thì thấu đạt chơn lý Phật tánh, suốt thông pháp giới vô ngại, thể nhập bất tư nghì giải thoát hạnh môn. Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật chỉ cho chúng-sanh thấu rõ cội nguồn của xum la vạn tượng do mê thức vọng tưởng nghiệp duyên hình thành, các pháp hiện hành trong vũ trụ là huyễn hóa, như hoa trong gương, như trăng trong nước. Tất cả vạn pháp trong pháp giới đều từ tâm sanh. Tâm trùm khắp cả pháp giới. Tất cả vạn hữu vũ trụ có thể nằm gọn trong hạt cải. Hạt cải có thể thâu nhiếp tất cả vũ trụ vạn pháp. Thể tánh của Tâm nhiếp thâu tất cả. Tất cả là một, một là tất cả. Ðó là bản tánh vô ngại của Tâm. Bản tánh chơn tâm suốt thâu vạn pháp hữu tình và vô tình; lấy toàn thể pháp giới tánh làm lượng; lấy xứng tánh bất tư nghì vô ngại giải thoát làm thể.

Các kinh văn Phật học đều có nói đến con đường tu tập của Đức Thế Tôn qua nhiều giai đoạn khác nhau, kể từ khi Ngài còn là Thái tử đi dạo quanh bốn cửa thành và nhìn rõ sự khổ đau của sinh, lão, bệnh, tử cho đến khi Ngài trải qua 5 năm tìm thầy học đạo, 6 năm tu khổ hạnh. Về công hạnh thiền định (của ngoại đạo), Ngài đã thăng chứng ở những quả vị cao nhất. Tuy vậy, Ngài thấy rằng tất cả đều đưa đến trạng thái hư vô, sự khổ đau của sinh tử vẫn cứ trói chặt thân phận con người. Sau cùng, suốt 49 ngày tư duy thiền định ở cội Bồ đề, vào canh ba, lúc sao Mai vừa xuất hiện và ngay lúc đó Ngài chứng đắc giác ngộ giải thoát tối thượng. Chặng đường quan trọng nhất của Ngài là chặng đường tư duy thiền định, quan sát tường tận giáo lý duyên sinh. Quá trình này đã tạo nên một bước nhảy vào thế giới tâm linh, vĩ đại, siêu thế gian. Từ đây chúng ta được khai mở một thế giới quan vừa xuất hiện sau khi Đức Phật thành đạo đó là thế giới Hoa Nghiêm (Gandavyùha).

Thế giới Hoa Nghiêm là một thế giới huyền nhiệm, một thế giới toàn bích của tâm linh của chư Phật, chư Bồ Tát và đương nhiên của con người, một khi đã loại bỏ ngả chấp và đã đạt được siêu việt nhị nguyên (chủ - khách thể phân biệt). Tất cả sinh hoạt ở đây đều tỏa ánh sáng trùng trùng điệp điệp, không có cái được sinh ra, không có cái bị mất đi trong thế giới giao thoa tương tức tương nhập giữa các luồng ánh sáng năng động và rực rỡ.

Theo các luận sư Phật học, trọng tâm của Hoa Nghiêm là học thuyết về Tâm. Điều này biểu hiện trong toàn bộ hoạt cảnh và các nhân vật, tất cả đều có mục đích phô diễn, trần thuật tính chất kỳ vĩ diệu dụng của Tâm. Thiết chế trong Hoa Nghiêm là “Tam giới duy tâm” tức là trong 3 cõi và tất cả thế giới sự vật hiện tượng, từ vật nhỏ nhiệm (hạt hay nguyên tử) đến các hành tinh xa xôi đều do Tâm tạo tác, Tâm duyên sinh.

Để được minh thị, tránh những hiểu lầm, lẫn lộn ta có thể nhìn nhận Tâm dưới hai góc độ.

+ Về công năng của Tâm: Nổi bật nhất là công năng tạo tác, sáng tác, tác thành v.v… Tâm này sinh ra sum la vạn tượng, nó thu nhận phản ánh mọi hiện tượng sự vật, mọi trạng thái tâm lý, v.v… Hình ảnh biểu tượng của Tâm trong các kinh là người họa sư, ông ta vẽ ra ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành và thức) và tất cả những hiện tượng của các thế giới.

+ Về tính năng: Bản chất của Tâm là trong sạch, gắn liền với các đặc trưng về tính thiện như luân lý, đạo đức, toàn bích, viên minh, nhưng do sự duyên khởi với trần tục mà gây nên các loại nghiệp (thiện, bất thiện). Nhưng cũng do bản tính trong sạch nên Tâm có năng lực chuyển hóa mọi cấu uế, ô nhiễm để trở về với thực tại vĩnh hằng.

Trên nền tảng của hai đặc trưng này, Hoa Nghiêm nhìn sự tồn tại bao hàm một năng lực hiện hữu, trong hiện hữu (dòng vận hành) lại hàm chứa sự sáng tạo mạnh mẽ biểu hiện trong ý nghĩa thế giới vô biên trong một niệm và ta hiểu được lý do tại sao Hoa Nghiêm chú trọng đến hạt nhân sinh khởi thế giới và giá trị vô lượng thế giới trên hạt vi trần. Cố nhiên Hoa Nghiêm là một thiết chế thuộc Duy Tâm luận nên cơ sở của nó không phải là không gian ba chiều và thời gian trôi theo chiều quá khứ, hiện tại đến tương lai. Những biểu hiện của Kinh cố nhiên nằm phía sau và trong chiều sâu của ngôn ngữ. Chẳng hạn nói đến vi trần là nói đến sự ẩn dụ về một đơn vị nhỏ nhất, siêu nhỏ nhưng vi trần được quy chiếu về công năng và tính năng tác thành nên vũ trụ và sự sáng tạo là vô biên.

Nói tóm lại, hạt vi trần được ghi nhận trong ý nghĩa biểu trưng mang tính quy chiếu. Đó là:

- Toàn bộ vũ trụ được sinh ra từ vi trần.
- Mỗi vi trần tiềm tàng toàn thể vũ trụ.
- Khả năng sáng tạo mỗi vi trần là mênh mông.
- Tất cả các vi trần tác hợp bằng tương duyên.

Bốn tính năng nói trên là nguồn gốc sinh thành thế giới hiện hữu.

Với ý nghĩa sâu lắng của tồn tại bao giờ cũng hàm chứa năng lực hiện hữu, trong đó ẩn tàng một năng lực sáng tạo biểu thị “thế giới vô biên trong một niệm” hoặc một hạt nhân qua luật tương duyên cấu tạo nên hằng sa thế giới. Đây là khái niệm phổ biến trong thế giới tâm lý hay vật lý, khi phóng xuất thì nó bao la, khi thu nạp thì nó như vi trần.

* * *

Cảm giác đầu tiên khi đọc Hoa Nghiêm ta choáng ngợp đến khó chịu vì đó là một thế giới vô cùng linh động và sự linh động này vượt ngoài tư duy của con người, cái tư duy hoạt động trong thế giới thường nghiệm giàu hư vọng. Trong thế giới Hoa Nghiêm, mỗi cái thấy, cái nghe, mỗi sự vật hiện tượng đều bừng sáng chiếu rọi nhiệm màu. Hòn đá lăn, chiếc lá rơi, dòng sông chảy, áng mây trôi, v.v… tất cả đều bừng sáng bởi thứ ánh sáng giao thoa, bởi rào dậu bằng phê lê ngọc ngà, đất đá bằng kim cương, v.v…, bởi những thứ mà con người luôn luôn bị ám ảnh. Vì vậy, khi đọc phải cần một sự giao cảm tâm linh, giao cảm với những gì nằm ở bề sâu và ở đằng sau của ngôn ngữ. Sự giao cảm này chỉ xuất sinh bởi khoa thiền định như: Chỉ (theo dõi hơi thở ra vào) và Quán (quan sát như thật về con người và thế giới). Thực nghiệm cho thấy trong Chỉ có Quán và trong Quán có Chỉ. Khi hiểu được tâm mình ta sẽ tìm được một điểm quy chiếu để có thể hiểu được Hoa Nghiêm theo 2 ý nghĩa:
· Tâm để quan sát thế giới.
· Tâm để biết vạn cảnh do tâm và theo 2 giá trị.
- Siêu việt mọi biên giới và dung thông cả chủ lẫn khách.
- Năng lực vốn hằng hữu và bất biến dù là hiện thực hay tiềm năng.

Theo thầy Pháp Tạng, muốn hiểu biết Hoa Nghiêm chúng ta cần phải quán thế này.

- Quán sát tường tận bản tính trong sáng của Chân Tâm, nơi duyên sinh ra mọi hiện hữu (sự vật hiện tượng có mặt trong cuộc đời dù tâm lý hay vật lý).
- Quán sát rằng Chân như (như thực vĩnh hằng) và mọi ảnh tượng luôn luôn tồn tại và phản chiếu trong nó.
- Quán sát tự tính của thế giới sai biệt là do tâm duyên sinh.
- Quán sát sự bí mật viên dung của Tâm và cảnh.
- Quán sát rằng chủ và khách thể cả hai cùng hiện hữu tồn tại trong mối tương duyên.

Như vậy thế giới Hoa Nghiêm là một thế giới siêu việt trần tục được Đức Phật xây dựng tại rừng Thệ Đa và thế giới đó tồn tại ngay trên trần gian này, biểu trưng cho một cõi sống tâm linh và trong cõi tâm linh ấy, trái tim đại từ, đại bi của đức Phật tự nó sinh khởi và khởi mở thành một cõi vô biên.

Đọc Hoa Nghiêm rất dễ nhầm lẫn hai khái niệm thế giới hay gọi là thế gian giới và pháp giới. Tuy nhiên hai khái niệm này lại hàm các nội dung rất khác biệt.

Thế giới chỉ cho sự tồn tại và hiện hữu các sự vật, hiện tượng. Mỗi sự vật, mỗi hiện tượng đều tồn tại ở mức độ khác nhau về hình dáng hay bản chất. Cái cây viết là cây viết, cái lọ mực là lọ mực. Cây viết hoàn toàn khác lọ mực. Con người và con gà là hoàn toàn khác. Các đặc trưng của công dụng và cấu trúc của thế giới sự vật và hiện tượng là rất khác biệt, mâu thuẫn, đối lập, vì vậy sự thẩm định nó cũng dựa vào nền tảng của phân biệt.

Pháp giới biểu thị cho ánh sáng mà bản thân nó không có tính đối lập, tính mâu thuẩn. Ánh sáng có thể dung hóa nhau, có thể xua tan bóng tối dù nó có màu sắc gì đi nữa. Một đặc tính quan trọng của ánh sáng là khả năng phản chiếu, tương dung, tương nhiếp lẫn nhau, và đây là một biểu thị rất đích thực và cơ bản của pháp giới. Ánh sáng có đặc tính nhẹ nhàng, linh hoạt, không có sức ỳ như gỗ, đá v.v...

Pháp giới không có sự phân biệt cái này khác cái nọ vì bản thân nó không lệ thuộc vào quá trình sinh thành hoại diệt như thế giới sự vật hiện tượng. Nó không được sinh thành và tồn tại theo quy ước của thời gian và theo những biên giới của không gian.

Pháp giới là một hiện hữu trong lòng thế giới và không cách ly thế giới, nó không phải là trống rổng và cũng không đồng nhất với hư vô.

Để hiển bày sự huyền diệu của Pháp giới cũng như sự kỳ diệu của các khái niệm tương dung, tương tức, tương nhập, một trong tất cả, tất cả trong một, v.v… ta kể lại thực nghiệm của Đại sư Pháp Tạng trình hiện cho Nữ hoàng Võ Tắc Thiên xem. Chuyện kể lại rằng: Trong một căn phòng kín, tường và sàn, trần nhà đều được lợp bằng các tấm kiến phẳng đối mặt vào nhau. Một tượng Phật đặt cạnh một cây đuốc đang cháy ở giữa phòng. Ồ, thật lạ lùng, tuyệt diệu, bà thốt lên khi chăm chú nhìn toàn cảnh do sự phản chiếu vô cùng tận. Thầy Pháp Tạng dẫn giải cho bà: Trong mỗi tấm gương và mọi tấm gương đều có sự phán chiếu của mọi tấm gương cùng với tượng của đức Phật trong chúng. Đó là tình huống trình hiện nguyên lý tương nhiếp, tương nhập và cũng ngay tại đây ta thấy rõ điển hình của “một trong tất cả” và “tất cả trong một”. Và cố gắng đếm thì không tài nào đếm nổi có bao nhiêu hình tượng Phật, điều này giúp ta hiểu được khái niệm trùng trùng vô tận.

Hoa Nghiêm quan niệm rằng mọi sự thể trong thế gian quy về 4 pháp giới, nói cách khác Pháp giới sở hữu 4 tính chất.

1. Sự pháp giới: là cảnh giới của những hiện tượng, sự vật phân biệt khác nhau và độc lập. Một dòng sông, chim bay cá lội, lửa nóng, nước đá lạnh, v.v…

2. Lý pháp giới: là cảnh giới gồm các nguyên lý trừu tượng nằm sâu bên dưới hiện tượng. Đây là cảnh giới siêu quá các nhận thức của giác quan, chỉ có trí năng hay trực giác mới có thể nắm bắt. Tất cả những nguyên lý hay các quy luật chi phối các biến cố trong thế giới hiện tượng đều thuộc phạm trù này. Các luận sư Hoa Nghiêm quan niệm chỉ có một “Lý tối tượng uyên nguyên” bằng các thuật ngữ: Như như, Như thị hoặc Nhất Tâm hay Tính Không.

Tổng quát hơn Lý được quan niệm như một nguyên lý đa phương có tính hàm dung và là nền tảng cho mọi hiện hữu tồn tại.

3. Lý sự vô ngại pháp giới: đây là cảnh giới mà Lý và Sự được xem là một thể bất khả phân, có thể hiểu rằng Sự là biểu hiện của Lý và Lý được xem là nhân hiển thị ra Sự. Trong trường hợp này Lý và Sự đi kèm nhau trở thành một khái niệm nhiều ý nghĩa. Một biến cố (Sự) nào đó vốn luôn luôn là một biểu hiện cua một nguyên lý ẩn khuất ở bên dưới (Lý) và ngược lại trong giáo lý Tính Không.

Trên bình diện “Tỉnh” thì chân lý tuyệt đối là Bản thể, nhưng trên trạng thái “Động” thì chân lý đó đồng nhất với cái thể hiện của nó qua hiện tượng tức là Sự. Hai trạng thái này không thể rời nhau và trở thành nguồn gốc cho tất cả hiện hữu tồn tại trong vũ trụ, chúng đều đồng thời phát sinh bởi luật nhân duyên, tương dung, tương nhiếp.

4. Sự sự vô ngại pháp giới: Ba pháp giới: Lý pháp giới, Sự pháp giới, Lý sự vô ngại pháp giới là những phương thức thích hợp để mô tả pháp giới Sự sự vô ngại. Đó là một pháp giới mà mỗi và mọi Sự riêng lẻ đều nhập vào và hợp nhất, chan hòa với tất cả mọi Sự khác một cách tự do.

Sự sự chỉ cho mỗi và mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ. Trong pháp giới có vô số sự vật hiện tượng, tuy có hình tượng khác nhau, bất đồng nhau nhưng Lý tính lại dung thông, bình đẳng, không phân chia ngăn cách và nhờ Lý mà Sự sự được dung thông vô ngại. Cùng một lúc, cái này dung nhập trong cái kia, cái kia lại chan hòa trong cái này, mỗi sự chan hòa trong mỗi sự từng cái một lẫn nhau. Chủ và Khách, Tâm và Vật đồng hóa với nhau.

Mỗi vật trong ẩn có hiện, trong không gian có thời gian, trong thiện có ác, trong quá khứ có vị lai, trong phúc có họa, trong tương đối có tuyệt đối, trong nhân có quả, trong quả có nhân và không một cái gì hoàn toàn biệt lập. Mỗi thái độ, mỗi hành động của một cá nhân này tác động dây chuyền đến các cá nhân khác trong cộng đồng phải gánh chịu trong mối liên hoàn trùng trùng điệp điệp.

Những hiện tượng trong trời đất có thể ví như các sợi tơ dệt chằng chịt thành một dải lụa mà sự phức tạp của nó vượt quá sức tưởng tượng, cái một và cái nhiều tương tức, tương nhập liên kết mật thiết với nhau.

Tóm lại: nói sự sự vô ngại tức là nói:
- Không gian dung thông với không gian.
- Thời gian dung thông với thời gian.
- Không và thời gian dung thông với nhau.
- Một không gian dung thông với tất cả không gian.
- Một thời gian dung thông tất cả thời gian.
- Một dung thông với tất cả và ngược lại

Đối với chúng ta sự thể nhập vào thế giới sự sự vô ngại là vô cùng khó khăn khi cái ngả nặng nề trầm luân còn trói chặt trong vòng đai vô hình của nó. Chúng ta chỉ thâm nhập vào thế giới đó khi nhìn muôn sự ở cõi đời dàn trải ra trước mắt dưới cái của diễn biến vô thường vô ngã và chỉ khi đó trực giác tâm linh mới mở được cánh cửa đi vào thế giới này mà thôi.

Hiệu ứng con bướm


Cho đến cuối thế kỷ 19, các nhà Vật lý học vẫn còn lòng vòng trong vành đai của Vật lý Newton. Quan niệm của Newton về một vũ trụ mang tính rời rạc, cơ giới, bị chi phối bởi nguyên lý tất định khô khan, cứng nhắc. Các nhà vật lý còn say đắm trong “Tất định luận Laplace” và ung dung trong phương pháp “quy giản luận” để nhìn về bức tranh sống động của tự nhiên.

Năm 1905 A-Einstein bằng lý thuyết tương đối của mình đã xóa đi luận cứ của Newton về một không gian và thời gian tuyệt đối. Những năm 1920 – 1930, sự xuất hiện lý thuyết cơ học lượng tử với khái niệm “nhòe lượng tử” đã loại trừ niềm tin vào khả năng đo đạc chính xác và sau cùng “tất định luận” lại tỏ ra hụt hơi bởi “lý thuyết hổn độn”. Thuật ngữ hổn độn theo ý kiến chung bao hàm nghĩa khoa học là “không thể dự đoán” hay không thể “dự báo dài hạn được”. Người tiên phong suy nghĩ vấn đề này là nhà Toán học lừng danh Henry Poincaré, tuy nhiên lúc bấy giờ máy tính chưa có nên không có công cụ hỗ trợ để cho các nhà toán học ngoại suy.

Edward Lorenz, nguyên là nhà nghiên cứu toán học và có điều kiện làm việc tại Học viện Công nghệ MIT, ông thường xuyên dùng máy tính để tính toán khí tượng. Lorenz đã bước đầu thành công khi quy giản kết quả của dự báo thời tiết qua 2 tham số tương tác là chuyển động không khí và nước thông qua máy tính in ra những đường lượn sóng cho biết hiện tượng biến thiên theo thời gian.

Mùa đông năm 1961, muốn kiểm tra một trong những đoạn biểu đồ trên một thời gian dài. Thay vì cho chạy lại từ đầu, ông lại nhập những con số (những thông tin) từ tờ in kết quả gần nhất, xong ông bỏ đi và một giờ sau ông trở lại, điều quá bất ngờ đập vào mắt ông: nhìn vào biểu đồ thấy dự báo lần này khác xa lần cũ không ăn nhập gì với nhau. Ông chợt hiểu được một sự thật nằm ở chỗ số mã ông nhập vào bộ nhớ lần sau. Bộ nhớ máy tính lưu giữ con số có 6 số thập phân. Chẳng hạn số: 0, 5056127 nhưng ông chỉ lấy 3 số thập phân 0,506 để nhập vào máy cho lần sau. Sự không ăn khớp của kết quả dự báo lần sau và lần đầu có nguyên nhân đó vì cả hai lần ông dùng cùng một hệ phương trình tất định. Ông đã nghĩ rằng sự khác biệt quá nhỏ (một phần nghìn) nên không để tâm đến sự phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu thường được gọi là “hiệu ứng con bướm”. Một cái đập cánh của con bướm ở Braxin có thể gây ra bão tố ở Texas.

Về nguyên tắc của dự báo, người ta truyền cho máy tính dữ liệu thu thập như áp suất, nhiệt độ, độ ẩm và những dữ liệu địa lý các dãy núi, các đại dương cùng với định luật vật lý mô tả hành trạng của khối lượng khí. Máy tính sẽ theo yêu cầu mà tính toán đưa ra dự báo trong vài ngày đầu thì thực tế và dự báo không mấy sai biệt, nhưng 6, 7 ngày sau lại là chuyên khác do những thăng giáng nhỏ trong khí quyển, nhỏ đến mức không thể phát hiện được. Những mầm mống của sự không hiểu biết đó không tách rời sự vận động của tự nhiên. Dự báo dài hạn là vấn đề ảo tưởng cũng giống như làm tròn con số thập phân của Lorentz.

Quy giản luận - Một vấn đề triết lý của tự nhiên

Quan niệm chung tổng thể về tự nhiên là một lưới đan xen của nhiều bộ phân, trong đó mỗi bộ phận tương tác với bộ phận khác tạo nên một tổng thể hài hòa. Chẳng hạn, sự rơi một vật, về nguyên tắc được quyết định bởi không những hấp lực của quả đất mà còn chịu hấp lực của mặt trăng, mặt trời và các tinh tú nữa. Quan điểm chia tự nhiên thành nhiều bộ phận, đồng thời mỗi bộ phận được nghiên cứu một cách riêng rẻ độc lập với nhau, sau đó đem lắp ghép với nhau thì có thể hiểu được tổng thể, đó là phương pháp quy giản luận. Khoa học Tây phương được xây dựng phần lớn theo phương pháp này. Sự hiệu quả của phương pháp quy giản nhờ hai tính chất: tính chất tuyến tính và tính cục bộ.

- Tính chất tuyến tính: khi toàn bộ bằng đúng tổng các thành phần, do đó ta chỉ cần nghiên cứu riêng lẻ hành vi cá thể của mỗi thành phần rồi lấy tổng lại để có hành vi toàn bộ. Chẳng hạn ta lấy ví dụ: một miếng xốp rất nhẹ có trọng lượng không đáng kể. Ta bắt đầu thả lên nó một thìa nước có trọng lượng x, miếng xốp trở thành có trọng lượng là x. Nếu đổ thêm 4 thìa thì miếng xốp có trọng lượng là 5x. Mối liên hệ giữa miếng xốp và nước là quan hệ tuyến tính. Đến lúc sau, miếng xốp không hút được nước nữa thì trọng lượng nước đổ lên miếng xốp không còn tỷ lệ với trọng lượng miếng xốp, lúc đó hành vi có được gọi là hành vi phi tuyến. Trong thực tế hầu hết các hiện tượng vật lý đều trở thành phi tuyến khi vượt qua một giới hạn dung sai và trở thành hổn độn, một hệ thống không thể dự báo được mức độ trật tự và trở nên rất nhạy cảm đối với mỗi lần có biến động của thành phần của hệ. Cái “hệ quả” có khi trở nên quá lớn đối với cái “nguyên nhân”, một cánh bướm đập nơi này có thể gây bão tố nơi khác.

- Tính chất cục bộ: là một hệ thống mà hành vi của nó chỉ phụ thuộc vào ảnh hưởng trong phạm vi trực tiếp gần với nó, nếu xét về các lực thì một hệ chỉ chịu tác động của các lực từ môi trường gần kề nó.

Chính vì 2 tính chất vừa nêu trên mà các nhà khoa học khi khám phá tự nhiên đã tách riêng ra rất nhiều hệ có tính chất tuyến tính và tính chất cục bộ, từ đó làm nên khoa học để từng bước hiểu sâu thêm thế giới, lý thuyết hổn độn ra đời và giữ vai trò cuộc cách mạng thứ 3 sau 2 cuộc cách mạng của lý thuyết tương đối và lý thuyết lượng tử.

Điều suy ngẫm

Thời đại ngày nay, vũ trụ đối với chúng ta hẳn đã không quá xa lạ nữa. Chúng ta đã vượt qua giai đoạn mà sự sống đã phó mặt hoàn toàn cho những thịnh nộ hay những ân sũng của Thần linh, Đất trời.

Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày…

Khoa học đã nâng cao tri thức và đời sống nhân loại, nhưng khoa học mãi không bao giờ đi đến cuối cùng để hiểu hết các bí ẩn của vũ trụ cũng như sự tồn tại bản thân vũ trụ. Lý trí con người có những giới hạn nhất định không thể đạt đến chân lý tuyệt đối như định lý bất toàn Godel đã công bố. Mặt khác, cho dù lý thuyết hỗn độn cùng với sự hỗ trợ tiến bộ của máy tính thế hệ mới thì mọi bí ẩn của vũ trụ vẫn ngự trị trong trí óc nhân loại, làm sao có được cái nhìn như thật của đức Phật trong pháp giới sự sự vô ngại của Hoa Nghiêm.

Cách đây cả trăm năm nhà Bác học vĩ đại A-Einstein đã xác tín rằng: “Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao trùm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” hoặc như Egerton C.Baptist: “Kiến thức siêu việt của Phật giáo bắt đầu nơi mà ở đó khoa học kết thúc.

Cách đây trên 25 thể kỷ, đức Phật ở trong Hoa Nghiêm, Ngài trụ trong Đại định tam muội, là một loại thiền định hợp chất của 2 yếu tố: Đại trí năng và Đại bi tâm để trong một sát na, tâm lực đức Phật dàn trải phủ lấp cả thế giới này. Nói rõ hơn, Ngài vẫn là con người bình thường nhưng cõi sống tâm thức hoàn toàn không giống như con người. Tâm thức ấy không bị chiêu cảm bởi sắc, thanh, hương, bởi lục dục thất tình và tâm thức ấy không phải là biểu hiện của trí năng giàu tưởng tượng. Ngài khai mở điều kỳ diệu như đã mô tả trong pháp giới Hoa Nghiêm, và Pháp giới Hoa Nghiêm được khai thị ngay trong lòng của thế giới. Thế giới nó có không gian và thời gian, có biên tế đối lập và tận cùng bởi các quan năng hữu hạn của con người. Trí năng con người không thể đạt đến cảnh giới Hoa Nghiêm của chư Phật, chư Bồ tát, chỉ có trực giác mới đưa con người đến được khi và chỉ khi trong con người lòng trần đã được buông xả.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thiền luận Suzukí tập 3: Trúc Thiên dịch, NXB Tổng Hợp thành phố 2001.
2. Triết học Phật Giáo Hoa Nghiêm Tông: GARMA G.C CHANG Thích Thiện Sáng dịch 2006, NXB Tôn Giáo.
3. Hỗn độn và hài hòa: Trinh Xuân Thuận, NXB KHKT năm 2005.
4. Hiệu ứng con bướm đến Hỗn độn: James Gleick, NXB Trẻ 2009, bản dịch.
Read more…

Ông hoàng Vật lý: Không có hố đen trong vũ trụ

21:31 |
Ông hoàng vật lý Stephen Hawking đã thừa nhận sai lầm trong lý thuyết của mình và cho rằng không hề có hố đen bí ẩn trong vũ trụ.

Mới đây, “ông hoàng vật lý” Stephen Hawking đã khiến giới khoa học quốc tế sửng sốt khi tuyên bố rằng ánh sáng và thông tin có thể thoát ra khỏi hố đen, một tuyên bố hoàn toàn trái ngược với lý thuyết đã tạo nên danh tiếng của ông trong giới khoa học.

Năm 1974, Hawking đã đưa ra lý thuyết về hố đen và bổ sung thêm khái niệm về cơ học lượng tử, châm ngòi cho một cuộc tranh luận gay gắt giữa các nhà khoa học hàng đầu thế giới cho đến tận ngày nay.

Ông hoàng vật lý Stephen Hawking

Tuy nhiên, sau một cuộc đánh cược với một nhà vật lý khác gần đây, Hawking đã tuyên bố rằng vật chất có thể thoát ra khỏi hố đen, đồng nghĩa với việc khái niệm “hố đen” của ông hoàn toàn sụp đổ.

Theo tạp chí New Scientist, ông hoàng vật lý Hawking đã từng tuyên bố rằng khi một hố đen chết đi, nó sẽ hút theo mọi thứ vào bên trong, tuy nhiên quan niệm này lại mâu thuẫn với lý thuyết lượng tử.

Lý thuyết lượng tử lại cho rằng “năng lượng và thông tin có thể thoát khỏi hố đen”. Để giải thích được toàn bộ quá trình này, Hawking cho rằng cần phải có một lý thuyết mới có thể hợp nhất thành công trọng lực với các lực cơ bản khác của tự nhiên. Đây chính là điều đã làm đau đầu các nhà vật lý trong gần một thế kỷ, và Hawking cũng phải thốt lên: “Cách giải thích đúng đắn vẫn còn là một bí mật.”

Hình dung về hố đen trong vũ trụ "nuốt chửng" tất cả vật chất và năng lượng

Tuy nhiên 40 năm sau, ông lại cho rằng ánh sáng và thông tin có thể thoát ra khỏi những hố đen này.

Theo New Scientist, hố đen có các “chân trời biểu kiến”, đó là những mặt phẳng có thể hút giữ ánh sáng, tuy nhiên các chân trời biểu kiến này có thể thay đổi về hình dạng giúp ánh sáng có thể thoát ra ngoài.

Hawking đã tuyên bố rằng giải pháp để giải thích mâu thuẫn là từ bỏ mọi khái niệm từ trước tới nay về thứ đã khiến hố đen trở nên vô cùng bí ẩn, đó chính là “chân trời sự kiện”. Theo lý thuyết của Hawking, “chân trời sự kiện” có thể hút mọi thứ vào bên trong mình và không có vật chất nào có thể thoát ra khỏi nó.

Trong dịp sinh nhật lần thứ 70 của mình được tổ chức trong tháng này, Hawking đã tuyên bố rằng ông coi ý tưởng về việc thông tin bị hủy diệt trong các hố đen là “sai lầm ngớ ngẩn nhất” của mình.

Trí Dũng (Theo New Scientist) (Khampha.vn)
Read more…

Ý thức và vật lý lượng tử

21:26 |
(Đặng Công Hanh)


Luận điểm nổi bật hàng đầu của truyền thống triết học Duy Thức mang một nội dung uyên áo: “Nhất thiết duy tâm tạo” hay cách phát biểu tương tự “Tam giới duy tâm“, “chính tâm là tam giới“. Tất cả đều nói lên ý nghĩa là “Thế giới không gì khác hơn là tâm“. Sự xác quyết như vậy, hệ thống Duy Thức muốn nhấn mạnh rằng tất cả đều sinh từ tâm: sinh tử hay Niết – bàn, khổ đau hay hạnh phúc, chúng sinh hay Phật, Bồ tát.v.v. tất cả đều biểu hiện của tâm – ý – thức.

Ngài Bồ tát Thế Thân (Vasubandhu) có viết rằng: “Do giả lập nên nói có ngã và có pháp“, tức biểu hiện cả hai phần: chủ thể nhận thức và đối tượng được nhận thức. Như vậy biểu hiện của thức là thế giới sơn hà đại địa, sum la vạn tượng mà con người nhận biết. Sự liên hệ chặt chẽ giữa con người và thế giới (chủ thể – khách thể) tựa hồ trạng thái khi ta nhìn các vì sao nhấp nháy trong sâu thẳm mênh mông của bầu trời đêm, ta đã mất hút trong nó và nó đang hiển thị phô trần trong ta. Trạng thái bất khả ly giữa chủ thể tri giác và khách thể đối tượng được tri giác gọi là Duy thức chứ hoàn toàn không phải chỉ có tâm thức mà không có thực tại khách quan.

Như một tiên đề toán học, Duy thức học xác định: Tất cả các pháp (sự vật hiện tượng) đều vô tự tính có nghĩa là nó hiện hữu do duyên hợp mà thành. Do đó khi nói về ngã (chủ thể nhận thức) và pháp (đối tượng nhận thức) chỉ là công ước giả định đối với tất cả hiện tượng sự vật trên cả hai phương diện tâm lý hay vật lý, tuỳ thuộc vào sự biến tấu của tâm thức nên có thể gọi thức – năng biến. Và thức – năng biến có thể nhìn dưới tác năng cụ thể thành 3 loại; đó là Dị thục, Tư lượng và Liễu biệt cảnh.

1/ Dị thục thức còn gọi là Tàng thức và nhất thiết chủng thức. Các danh từ này khác nhau nhằm giải minh tính năng của thức thứ 8.

+ Khái niệm “tàng” chỉ sự dung chứa hay năng lực cất giữ và duy trì các đối tượng của ý thức. Ý thức thực dụng là kho lưu trữ ký ức và kinh nghiệm của mỗi cá nhân, nói chung là tất cả các đối tượng của tâm – ý – thức như hình ảnh, ngôn ngữ, biến cố, khái niệm, ý niệm… Chẳng hạn, một kỷ niệm vui, buồn thời thơ ấu xa xưa ta vẫn còn nhớ được là nhờ vào năng lực của ký ức và ký ức là một trong các chức năng của tàng thức.

+ Nhất thiết chủng thức có ý nghĩa là dung chứa tất cả các hạt giống ý niệm không phân biệt chọn lựa thiện, ác, tốt xấu. Vậy nó có năng lực vô ký hay trung tính. Thông thường mọi hiện tượng diễn biến trong thế giới khách quan cũng như trong tâm thức luôn luôn được sinh khởi từ các hạt giống ý niệm ẩn sâu trong tâm thức và khi chúng ngủ yên ta gọi là “nhân” và sự hiện khởi của nó ta gọi là “quả”.

+ Khái niệm dị thục chỉ rõ sự chín mùi của nghiệp quả hay sự kết tinh “khí chất” của mỗi con người, hoặc nói đến năng lực diễn biến tương quan nhân quả của dòng tâm thức. Vì vậy tính chất tương tục của Tàng thức là luôn luôn trôi chảy như một dòng sông không có sóng vỗ và không bị lôi cuốn theo các giác quan.

2/ Tư lượng thức còn gọi là Mạt na thức, nó ở vị trí thứ 7 (thứ 8 là Tàng thức). Một tên khác là chuyển thức vì có chức năng lưu chuyển hai chiều; một mặt đưa các hạt giống ý niệm mới thu nhận (tân huân) vào Tàng thức; mặt khác tác động làm cho hạt giống ý niệm có sẵn trong Tàng thức trở thành hiện hành. Với chức năng là chuyển thức hai chiều với Tàng thức nên lấy Tàng thức là chỗ dựa để hoạt động nên xem đó là cái bản ngã vĩnh hằng của mình, vì vậy tính khí của Mạt na thức thường biểu hiện cùng với bốn phiền não.

+ Ngã kiến tức là quan niệm sai lầm về tự ngã.

+ Ngã si tức là si mê về tự ngã

+ Ngã mạn hay sự kiêu hãnh về tự ngã

+ Ngã ái hay sự yêu thích tự ngã, yêu cái tôi, cái của tôi.

Bốn dạng phiền não này có thể khái quát bằng khái niệm cơ bản cho Mạt na là “Tình”. Tình ở đâu là dục ái hay bản năng của dục vọng, vừa là nền tảng, vừa mang tính cách bao quát toàn bộ đời sống nhu cầu sinh lý. Do vậy, hình thái của Mạt na chính là sự vận hành của “tư duy hữu ngã” theo nguyên tắc của dục ái kích hoạt tâm lý con người đi tìm sự thoả mãn dục vọng, khoái lạc – một thứ hạnh phúc giả tạo đầy mộng mị phù vân và điên dại chốn trăm năm. Có thể thấy rằng cả hai thức gồm Tàng thức và Mạt na thức là trưng tính và thụ động, không tự giải thoát ra khỏi những chủng tử, những tập khí nhiễm bất tịnh, bất thiện.

3/ Khái niệm Liễu biệt cảnh tức là thức thứ 6 trong hệ thống tám thức, còn gọi là ý thức và năm thức giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Ý thức hoạt động với tư thế: một mặt quan hệ trực tiếp với Mạt na thức, mặt khác tiếp xúc với thế giới thực tại thông qua năm thức giác quan của mắt, mũi, lưỡi, tai và thân. Đây chính là hệ quả của nhận thức (tri giác), sự nhận thức đó gọi là ý thức. Trong hệ thống 8 thức, ý thức có tính năng động và tinh xảo nhất trong mọi tư duy thực hành, ý chí, tâm lý… Chức năng chính là tạo tác, tạo ra các loại nghiệp, từ các hạnh thiện, các mưu mô, tính toán xảo quyệt để làm điều ác bất thiện và cả hạnh không thiện, không ác. Vì vậy các luận sư Duy thức định danh là “Công vi thủ, tội vi khôi“.

Dòng tương tục của ý thức là vô thường, gián đoạn trong các trường hợp: ngủ mê không mộng mị, chết giả khi ngất xỉu hay bất tỉnh, trú trong cõi vô tưởng. Ý thức có phạm vi hoạt động rất rộng và bao quát hơn Tàng thức và
Mạt na, lại mang tính năng thẩm sát nhưng lại không có tính năng hằng hữu.

Ý thức khởi hiện trong các tình huống cơ bản như sau:

- Hiện khởi theo cùng 5 giác quan (tai, mắt, mũi, lưỡi và thân)

- Hoạt động độc lập một mình không quan hệ với các quan năng

- Hoạt động phóng tính ở trong định

- Hoạt động trong lúc thiền định

- Ý thức trong sự điên loạn.

Tóm lại, trong hệ thống tám thức có thể gọi chung là Tâm – ý – thức thì Tàng thức là căn bản thức, trên thực tế là tầng thức sâu xa nhất có tính chất tương tục trôi chảy không hề gián đoạn, có bản chất không bị ô nhiễm (vô phú), không bị điều động qua thiện, ác (vô ký). Đây là cái thấy – biết của Tâm trinh nguyên không nhuộm màu sắc của cảm xúc vui buồn, không khổ không lạc và do vậy nên là dòng nghiệp quả đang tuôn chảy từ vô tận quá khứ. Trái lại, Mạt na thức còn gọi là “Tình thức”, vai trò nền tảng cho sự nhiễm, tịnh vì đối tượng nhận thức của nó là ảo ảnh mà ngỡ là thật, và sự si mê này là bản tính tự nhiên chứ không do ý niệm thiện ác chi phối (vô ký, hưởng phú). Nó trở nên thanh tịnh khi kết duyên với thiền định hay chánh niệm và cũng trở thành phiền não nếu kết duyên với tam độc tham lam, si mê, sân hận.

Cuộc cách mạng thực sự của Tâm chính là ý thức. Đối tượng bao quát của nó gồm thực tại (tánh cảnh), bóng dáng của thực tại (đới chất cảnh) và ảnh tương ẩn dấu trong nội tâm (độc ảnh cảnh). Bản tính của nó gồm có cả thiện, ác và vô ký. Nó có cả trực giác và suy luận (đúng hoặc sai).

* *

Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng và rực rỡ của khoa học vật lý, các nhà bác học tin rằng chúng ta phải vượt qua giới hạn của 5 giác quan tới mức độ lượng tử mới có thể hiểu được trí não và ý thức. Họ khẳng định rằng ngoài các “quá trình phân tử và tế bào vật chất Newton diễn ra trong não bộ và trong cơ thể, còn có sóng dao động, và hoạt động hạ nguyên tử chỉ có thể giải thích bằng vật lý lượng tử”.

Xin nhắc lại: Lượng tử hay hạt có hai loại phẩm tính là tĩnh và động. Tĩnh có đặc trưng quan trọng là khối, điện tích, số spin. Biểu trưng của động của hạt như là vị trí, xung lượng và chiều của spin. Lượng tử vật chất hay lượng tử ánh sáng đều có hai hành tướng hạt và sóng, hành tướng nào phát hiện là tuỳ vào trạng huống trong đó thí nghiệm được thực hiện. Nói theo ngôn ngữ Phật học thì lượng tử là một pháp hữu vi siêu việt và hàm dung hai hành tướng sóng – hạt tương đãi đối nghịch. Và thông tin lượng tử được mô tả là truyền tải các tài nguyên lượng tử mà đơn vị lượng tử là “bit lượng tử”, quantum bit hay vắn tắc là qubit. Đơn vị thông tin lượng tử được miêu tả bởi trạng thái lượng tử của hệ thống lượng tử 2 thứ nguyên. Hai trạng thái lượng tử của qubit gọi là trạng thái cơ bản tương ứng với 2 trạng thái 0 và 1 kí hiệu ½0> và ½1>. Tuy thế hạt nào có R trạng thái lượng tử khác nhau thì tất yếu có vô số trạng thái chồng chập.

Các nghiên cứu hiện đại về trí tuệ – não bộ đã có thể kết luận rằng: “Não bộ là trạng thái đầu tiên, các phần hạ nguyên tử chờ đợi để phát huy tiềm năng bên trong và bên ngoài thể vật chất. Trí não có tiềm năng về năng lượng dao động, cũng trông chờ những kích hoạt từ tư duy, tiếp nhận một thế lực cao hơn để tổng hợp chúng lại thành ý nghĩa, phương hướng và của các sự việc tự nhiên. Quan điểm mới về sự khám phá trí tuệ và nhận thức theo phương pháp lượng tử cho thấy được tính hạn chế do vùng chức năng của “chùm nơ – ron” và giúp cho con người hiểu hơn về trí não, đồng thời các quá trình tư duy.

Cuộc cách mạng về công nghệ đã hỗ trợ những cuộc khảo sát sâu và tỉ mỉ thông qua hoạt động của các electron trên não bộ: chẳng hạn máy (EEG) thông thường hay máy ghi điện não. Phương pháp chụp X quang (PET) cho chúng ta nhìn thấy những vùng trên não có liên quan đến một quá trình tương ứng như vùng não có chức năng suy nghĩ từ ngữ hiển thị màu đỏ, lúc hiển thị màu vàng khi hoạt động của não ít căng thẳng và chủ thể nói ra từ ngữ đó. Phương pháp chụp X quang (PET) và phương pháp hình ảnh cộng hưởng từ (fMRI) dựa trên sự tác dụng liên kết chặt chữ giữa hoạt động thần kinh, sự tiêu thụ năng lượng và dòng máu cục bộ.

Sự phát triển của khoa học vật lý và công nghệ phát biểu với nhân loại rằng: bản chất của thế giới vật chất không phải là vật chất. Những chất liệu cần thiết của vũ trụ lại là phi chất liệu. Vật lý lượng tử nói rằng; “Nguyên tử, đơn vị cơ bản vật chất không phải là thực thể cứng chắc, mà là một hệ thống phân tầng, các trạng thái thông tin và năng lượng trong một khoảng không. Cơ thể con người (sắc thân) được tạo ra từ các nguyên tử, các nguyên tử đến lượt nó được tạo ra từ các hoạt động của hạt hạ nguyên tử chuyển động với vận tốc rất lớn trong khoảng không đó. Các hạt hạ nguyên tử không phải là vật chất, các hạt này chúng là các dao động của năng lượng và thông tin trong một khoảng không. Dưới một ý nghĩa nào đó, cơ thể con người được nhìn nhận từ vật lý không gian thì nó tựa như không gian giữa các thiên hà: cỡ 99,999% cơ thể chúng ta là khoảng trống rỗng: còn 0,01% có vẽ gọi là chất liệu vật chất có dáng vững chắc. Rõ ràng với tỷ lệ chênh lệch đó, cơ thể con người (sắc thân) thực sự chẳng làm bằng gì cả.

Chúng ta tự vấn, cái gì là bản tính của hư không mà mọi thứ đến từ đó? Ý thức (tư duy) rốt cuộc có phải là sự dao động của năng lượng và thông tin? Quan niệm mới của khoa học vật lý thì bản thân vũ trụ là thông tin và năng lượng, thế nên ý thức (tư duy) của con người cũng chỉ là tập trung và định xứ năng lượng và thông tin trong một vũ trụ sống động đầy thông tin và năng lượng. Vì vậy các suy tư chẳng qua chỉ là các sự việc lượng tử tự biến hình đổi thành các sự kiện không – thời gian.

Thông tin lượng tử được xem như thông tin hình thành cơ sở nhận thức (các nhà khoa học có khuynh hướng xem ý thức là sự nhận thức) chuyển thành các tính chất ở cấp độ phân tử…. Mỗi sự trải nghiệm là một sự kiện không – thời gian nên cơ thể con người là một dòng sự kiện không – thời gian. Cơ thể có quá trình khởi đầu và kết thúc, khởi đầu từ hạt thông tin trên ADN, sau đó được tăng trưởng thành một cấu trúc 3 chiều trong không – thời gian và tất cả những trải nghiệm đều là các sự kiện không – thời gian. Thông tin được truyền từ môi trường với hỗn độn lượng tử trong vũ trụ, được biến đổi và được mã hoá theo một cách nào đó trong não bộ và trong toàn cơ thể, sau đó được lưu trữ và sử dụng.

Cấu trúc xử lý của não bộ gồm các dao động điện, ở góc độ nào đó có thể gọi là một chương trình phát thanh hay truyền hình. Chương trình này mã hoá các thông tin bằng cách cuốn lấy không – thời gian thành những sự điều biến thành các tần số các loại sóng (bộ phận tiếp nhận trên đài hay trên ti vi cũng được giải mã theo kiểu cách này). Tương tự như vậy, mạch điện trên bề mặt của não mở ra, giải mã, các quá trình phân phối của mạng lưới liên lạc thành các khu vực kinh nghiệm không – thời gian thông thường.

Cơ thể con người không phải là một kết cấu có tổ chức cố định trong không – thời gian. Nó giống như một dòng sông đang chảy đầy ắp năng lượng, thông tin, kể cả sự thông minh. Thông qua hoạt động sinh lý, trong quá trình đó ta đã làm mới cơ thể. Các nghiên cứu y học cho biết, trong một hành vi hít thở ta đã dựa vào cơ thể từ 10 đến 20 nguyên tử từ vũ trụ và cũng đưa ra ngoài cũng chừng ấy nguyên tử từ nội tạng, và như vậy có hàng vô lượng nguyên tử đã luân chuyển qua các cơ thể của bất kỳ một sinh vật nào sống trên hành tinh này từ quá khứ xa xăm. Cơ thể vật lý là các nguyên tố được tái sinh như đất nước, không khí đều có ý nghĩa trong các hình thức lượng tử, thể khí, thể lỏng và thể rắn. Nó đến rồi đi chỉ trong nháy mắt.

Quả thật, trí não có khía cạnh cơ học, nó thực có một hệ thống năng lượng phát toả, chịu ảnh hưởng và chịu điều khiển bởi các nơ – ron và là một hệ thống chủ đạo của những tương tác hoá học. Điều kỳ diệu hơn cả là khi các nhà khoa học khảo sát các lớp của não bộ, họ gặp một hiện tượng rất lý thú gọi là kẻ “quan sát giấu mặt“. Về sau tại phòng thí nghiệm của Đại học Stanford, các nhà tâm lý học Ernest và Josephine Hilgard đã tiến hành nghiên cứu trên đối tượng người bị thôi miên và nói rằng “kẻ quan sát giấu mặt” dường như có “ý thức“?

Một nhà khoa học khác cũng vừa là nhà phẫu thuật thần kinh nổi tiếng Wilder Penfield đã bị hấp dẫn bởi ý tưởng này và khởi đầu một hành trình tìm kiếm “kẻ quan sát mật“. Khi làm phẫu thuật cho các bệnh nhân bằng cách gây tê cục bộ và dùng một que thăm điện để kích thích các phần khác nhau của vùng não cảm giác; kết quả là bệnh nhân này nhớ lại những hoài niệm xa xưa thông qua giác quan như ngửi thấy mùi hoa cúc, nếm được chiếc bánh kem, nhìn thấy bãi cỏ – nhưng khi Penfield hỏi: “Có phải cô đang đi dã ngoại không?” thì cô trả lời “tôi đang trong phòng phẫu thuật”.

Trong một lần khác, ông kích thích phần vỏ não vận động của một bệnh nhân và tay của bệnh nhân này nâng lên. Ông bất chợt hỏi; “Anh đang chuyển động cánh tay đúng không? Người đó lại trả lời “Tay tôi đang đưa tay“. Sau đó ông lại hướng dẫn: thay vì để tay giơ lên thế này, khi tôi kích thích vào não vận động thì hãy điều khiển tay di chuyển sang chỗ khác, bệnh nhân đã làm đúng y như thế. Vậy ai là người đã đưa ra sự lựa chọn này, trong khi phần vỏ não vận động không thực hiện được điều đó.

Tỷ như trong một giây phút nào đó, ta có nhiều sự chọn lựa như đi phố, nghe nhạc, uống cà phê, đọc sách… và ta chọn việc uống cà phê, thì theo Penfield sẽ không tìm thấy “cái gì” ở trong vỏ não hay trong cơ thể mà nơi đó các tác động đến sự quyết định chọn lựa này. Nói cách khác, sẽ không có cái “ta” thực chất trong cơ thể.

Điều này đã được minh thị qua lời dạy từ 26 thế kỷ của Đức Phật: Con người chẳng có gì khác ngoài 5 uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành và thức kết thành thân xác hiện hữu. Năm uẩn là hiện hữu của cả con người và thế giới, thậm chí những vấn đề của đau khổ và hạnh phúc cũng được xem là các biểu hiện của 5 uẩn. Do đó, Đức Phật dạy:

“Năm uẩn là gánh nặng

Kẻ gánh nặng là người

Cầm lấy gánh nặng lên

Chính cái khổ ở đời.

Đặt gánh nặng ấy xuống

Chính là lạc ở đời“.

Đức Phật sau khi giác ngộ đã tuyên bố rằng tất cả các pháp đều vô thường, vô ngã và không có thực thể. Thuyết vô ngã dạy rằng không tìm thấy gì bên trong hay bên ngoài các hiện tượng Duyên khởi. Vấn đề “ngã” và “vô ngã” là giáo pháp trung tâm của Phật học. Duyên khởi là tiền đề đi vào “Tánh Không” và dưới đôi mắt tuệ giác của Ngài mọi hiện hữu không thể được xem là có hay không, hiện hữu là hiện hữu của Duyên sinh.

Quan niệm của Phật giáo về cả hai bình diện triết học và tôn giáo được đặt trên nền tảng của thuyết Vô ngã và thuyết Duyên khởi. Vì vậy thế giới hiện tượng và đời sống con người chỉ là hiện hữu tương đối không bền vững y cứ trên sự hiện diện của hai yếu tố vật chất và tinh thần đều không có thực thể độc lập tự thân và trống rỗng, nghĩa là Vô ngã.

Trong Trung bộ Kinh Nikàza, Đức Phật dạy: “Tuỳ thuộc vào dầu và tim đèn mà ngọn lửă bùng cháy. Nó không sinh ra từ trong cái này, cũng không phải từ trong cái khác và cũng không có một nguyên động lực trong chính nó. Hiện tượng giới cũng vậy, nó không có cải gì thường tại trong chính nó. Tất cả hiện hữu là không thực có, chúng là giả danh, chỉ có Niết Bàn là chân lý tuyệt đối” .



SÁCH THAM KHẢO

1/ Luận thành Duy thức – Huyền Trang – Tuệ Sĩ chú và dịch – NXB Phương Đông – 2009.

2/ Tâm lý học Phật giáo – Thích Tâm Thiện – NXB TP.Hồ Chí Minh – 2000.

3/ The Emerging mind – Karen Nesbi Shanor – Bản dịch của Văn Thị Hồng Viết – NXB Tri thức năm 2007

4/ Lược sử thời gian: Stephen Hawking – NXB trẻ 2007.

5/ Cái toàn thể và trật tự ẩn - David Bohm – NXB Tri thức 2011

6/ Bản ngã và não bộ – Poper.K.R và J.C. Zccles – NXB New York 1977
Read more…

TÂN VẬT LÝ & VŨ TRỤ LUẬN

21:06 |
Tên sách : Tân Vật lý & Vũ trụ luận
Tác giả : Arthur Zajonc
Dịch giả : Pháp Hiền
Ngôn ngữ : Việt
Số trang : 731
Nhà xuất bản : Văn Hoá Văn Nghệ
Năm xuất bản : 2012
Phân loại : Nghiên Cứu - Khảo Luận
MCB : 12010000011753
OPAC :



Tóm tắt :
TÂN VẬT LÝ & VŨ TRỤ LUẬN

The New Physics and Cosmology
Phật giáo và thế giới lượng tử
Những mẫu đối thoại của các nhà Vật lý mới và Vũ trụ luận với đức Dalai Lama XIV
Arthur Zajonc biên soạn
Pháp Hiền cư sỹ dịch
Thượng tọa Thích Nguyên Giác
Giới thiệu và hiệu đính

Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ

TP. Hồ Chí Minh - 2012

Lời tựa

Nhà vật lý học thiên tài người Đức, Albert Einstein, vào đầu thế kỷ 20 đã có một nhận xét khá đặc biệt về Phật giáo: “If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism riqires no revision to keep it up to date with recent scientific fidings. Buddhism needs no surrender its view to science, because it embraces science as well as goes beyond science.” Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng những nhu cầu của khoa học hiện đại, thì đó là Phật giáo. Phật giáo không đòi hỏi phải xét lại mình để cập nhật với những khám phá gần đây của khoa học. Phật giáo không cần từ bỏ quan điểm của mình để đi theo khoa học, vì nó bao gồm khoa học cũng như vượt qua khoa học.

Việc ông dành cho Phật giáo một vị trí nổi bật như vậy giữa tất cả các tôn giáo đang có mặt trên thế giới, xuất phát từ niềm thao thức đi tìm một đạo lý có giá trị phổ biến, bao quát cả đời sống thiên nhiên lẫn tinh thần, để xây dựng một cuộc sống an lạc đầy ý nghĩa trên hành tinh này, trong bối cảnh khoa học đang có những khám phá mới làm thay đổi các quan điểm cũ mà một thời từng được xem như những chân lý tuyệt đối.

Trên mặt vi mô, vật lý học lượng tử đối mặt với những khám phá mới liên hệ tất yếu đến vai trò của dụng cụ quan sát trong việc quyết định các tính chất ánh sáng, như lưỡng tính sóng
– hạt (wave – partile duality), tính ngẫu nhiên khách quan của các sự kiện lượng tử (objective randomness of quantum events – Những sự kiện lượng tử vô thủy), tính phi định xứ của hạt (nonlocality), tính liên kết giữa nhiều hạt (multiparticle entanglement) v.v…

Trên mặt vĩ mô, thiên văn học mở ra cho con người thấy một vũ trụ mới mẻ, sinh động và bao la. Vũ trụ không phải chỉ có một hệ mặt trời, một dải ngân hà được xếp đặt trong một trật tự cố định, mà thực tế, dưới những ống kính thiên văn có công suất lớn, và dưới cái nhìn của thuyết Big Bang, vũ trụ hiện ra kỳ diệu, bao la với vô số hệ mặt trời, vô số thiên hà đang trong quá trình hình thành và hủy diệt không ngừng.

Những khám phá mới mẻ này một mặt làm đảo lộn các giá trị cổ điển trong hệ thống vật lý học Newton và các quan điểm vật lý khác trước đó. Mặt khác, lần đầu tiên trong lịch sử khoa học nhân loại, nó xóa tan lằn ranh ngăn cách giữa dụng cụ quan sát với đối tượng, nghĩa là giữa chủ thể và khách thể. Khách thể không còn là một sự vật độc lập ngoài chủ thể và ngược lại. Chính điều này làm người ta thấy nội dung những khám phá khoa học mới mẻ ấy ảnh hiện thấp thoáng trong giáo lý Phật giáo, một giáo lý đặt cơ sở trên nguyên lý duyên khởi (pratītyasamutpāda), gồm nhiều điều do chính đức Phật tuyên thuyết cách đây trên hai ngàn rưỡi năm, hay những hệ tư tưởng được các bộ phái hình thành về sau.

Người ta có thể tìm thấy nội dung tương đồng giữa những khái niệm mới mẻ trong khoa học lượng tử với những khái niệm căn bản của Phật giáo, chẳng hạn khái niệm lưỡng tính sóng hạt với Duy Thức (vijnaptimatra) mà trong kinh Phạm Võng đức Phật trình bày một cách cụ thể: “Tayidam, bikkhave, Tathāgata pajānāti: ime ditthitthānā ‘ti tanca Tathāgato pajānāti tato ca uttaritaram pajānāti.”

“Này các Tỷ-kheo, Như Lai biết điều này: “Rằng những quan điểm này được nắm bắt như vậy, được chấp trước như vậy, sẽ hình thành những đường đi như vậy, những định mệnh như vậy.” Như Lai biết điều ấy, và Như Lai còn biết nhiều hơn điều ấy nữa.”

Hay tính ngẫu nhiên khách quan của các sự kiện lượng tử với khái niệm vô thủy trong Phật giáo: “Purimā koti na panāyati bhavatanhāya – io pubbe bhavatanhā nāhosi atha pacchā sambhavī’ti, eancetam vuccati. Atha ca pana pannayati – īdaccayā bhavatanhā (Anguttara X. 61-62 Āhāra): Không thể biết điểm tối sơ của hữu ái để nói rằng trước điểm đó không có hữu ái, sau này nó mới xuất hiện. Nhưng có thể biết được rằng do duyên cái này mà có hữu ái.

Tính phi định xứ với khái niệm vô ngã (nairātmya) hoặc tánh không (sūnyatā); Tính liên kết giữa nhiều hạt với khái niệm trùng trùng duyên khởi.

Tính chất quan trọng nhất trong các nội dung tương đồng này là sự tương quan giữa dụng cụ quan sát và đối tượng, giữa chủ thể và khách thể, mà khoa học mô tả bằng khái niệm “lưỡng tính sóng hạt”, còn Phật giáo thì bằng khái niệm “duy thức”

– Vũ trụ được định hình do Thức Căn, tức nghiệp của chúng sinh. Tính chất này mở đường cho tính nhân văn trong khoa học. Khoa học không những phải có trách nhiệm đạo đức trong cách nghiên cứu của mình, mà còn có thể khám phá ra những cơ sở khoa học của nền đạo đức ấy cho thế giới. Phương pháp luận về giải thoát đặt nền móng trên tư tưởng Tánh Không và Duy Thức của Phật giáo hứa hẹn gì cho những nghiên cứu của khoa học trong phương diện này? Albert Einstein đã thấy gì khi ông nói:

“The religion of the future will be a cosmic religion. It would trascend a person God and avoid dogmas and Theology. Covering both the natural and spiritual, it should be based on a religious sense, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism ansers this description.” Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên một đấng thần linh, và không còn giáo điều, và thần học. Bao quát cả tự nhiên và tinh thần, tôn giáo ấy phải đặt nền móng trên một ý thức đạo lý khởi lên từ cái kinh nghiệm thấy toàn thể mọi vật, tự nhiên và tinh thần, là một thể thống nhất đầy ý nghĩa. Phật giáo đáp ứng điều kiện này”.

Những vấn đề nêu trên là những đề tài được thảo luận chi tiết và thẳng thắn giữa các nhà khoa học hàng đầu trong vật lý học lượng tử và vũ trụ học với đức Đạt-lai Lạt-ma cùng các phụ tá của ngài. Cuộc đối thoại này giữa các nhà đại diện cho Khoa học và Phật giáo diễn ra tại Dharamsala, thủ phủ của Phật giáo Tây Tạng và đã được Arthur Zajonc ghi lại trong cuốn “The new physics and Cosmology, Dialogues with the Dalai Lama”.

Phật tử Pháp Hiền có duyên tiếp xúc với cuốn sách trên, và đã dịch ra tiếng Việt. Làm việc này, trước hết anh muốn san sẻ niềm vui hiểu biết của mình với những ai quan tâm đến Khoa học cũng như Phật giáo. Thứ nữa, trong cương vị một người Phật tử, bằng niềm tin chân chánh, anh muốn góp phần vào việc hoằng pháp lợi sanh. Dịch xong, anh ngỏ ý nhờ chúng tôi viết lời tựa cho dịch phẩm của mình. Thể theo chỗ thân tình, chúng tôi mạo muội viết đôi lời trân trọng giới thiệu dịch phẩm của anh với độc giả. Mong rằng tâm nguyện của anh sẽ được như ý.

Tayidam, bikkhave, Tathāgata pajānāti: ime ditthitthānā evam gahitā evam prāmatthā evam gatikā bhavanti evam abhisamparāyā ‘titanca Tathāgato pajānāti tato ca uttaritaram pajānāti; tanca pajānanam na paramasati, aparāmasato cassa paccattann eva nibbuti vidtā / vedānam samudayan ca atthangaman ca assādan ca ādīnavan ca nissaranan ca yathābhūtam vidittvā anupādāvimutto, tathāgato.

Ime khoti, Bikkhave, dhammā gambhirā duddassa, duranubodhā santtā panātā atakkāvacarā nipunā panditavedanīyā, ye tathāgato sayam abhinnā sacchikatvā, pavedeti yehi tathāgatassa yathābhuccam vanam sammā vadamānā vadeyyuh.

Này các Tỷ-kheo, Như Lai biết điều này: “Rằng những quan điểm này được nắm bắt như vậy, được chấp trước như vậy sẽ dẫn đến những đường đi như vậy, những định mệnh như vậy.” Như Lai biết điều ấy, và Như Lai còn biết nhiều hơn điều ấy nữa. Dẫu biết điều ấy, Như Lai không chấp trước nó, và nhờ không chấp trước, Ngài cảm nhận được sự an tịnh trong nội tâm. Sau khi biết như thật sự tập khởi, sự diệt trừ, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly các cảm thọ. Này các Tỷ-kheo, Như Lai giải thoát khỏi sự chấp thủ.

Này các Tỷ-kheo, những pháp này sâu xa, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, tuyệt diệu, ngoài tầm lý luận và chỉ người có trí mới chứng nghiệm được.

Thích Nguyên Giác


MỤC LỤC

Lời tựa
Tự ngôn
Những người tham dự
Khúc dạo đầu
Thực nghiệm và ngịch lý trong vật lý lượng tử
Quán chiếu triết học trên thực tại lượng tử
Không gian, thời gian và lượng tử
Quan điểm của Phật giáo về không gian và thời gian
Lý luận học lượng tử hội ngộ cùng lý luận học Phật giáo
Tác dụng tham gia và tri kiến đặc thù (tri kiến tự chứng)
Sự liên hệ giữa tri thức khoa học và kinh nghiệm loài người
Trầm tư thế giới, mặc tưởng thức tâm
Chân dung mới của vũ trụ
Nguồn gốc vũ trụ và quan hệ nhân quả trong Phật giáo
Khoa học trong sự tìm kiếm một thế giới quan đích thực
Tri kiến và khổ đau.


Read more…

Khả năng “Thần giao cách cảm” của con người

02:16 |
Có rất nhiều câu chuyện ly kì về những người có khả năng cảm nhận được suy nghĩ của người khác. Trong một số hoàn cảnh đặc biệt, một số người có thể linh cảm được những mối nguy hiểm, sợ hãi hay vui mừng... xảy đến đối với người thân của họ (mà người ta hay gọi là giác quan thứ 6). Những cảm nhận này thường tập trung ở những người có mỗi quan hệ rất thân thiết, gần gũi như cha mẹ - con cái, anh chị - em, đặc biệt xảy ra nhiều đối với các cặp song sinh.


Đó là những trường hợp xảy ra tự nhiên. Liệu con người ta có thể tạo ra khả năng này một cách chủ động (thông qua luyện tập) được không? Trong cuốn “Huyền thuật và đạo sĩ Tây Tạng”, tác giả Alexande David Nill đã kể lại khá chi tiết những điều bà tận mắt chứng kiến về vấn đề này (đây là 1 học giả người Pháp rất nổi tiếng, bạn nào đã học tiếng Anh bằng cuốn “Cause and Effect” chắc hẳn đã biết về bà). Bà đã đi khắp Tây Tạng và tiếp xúc với rất nhiều vị Lạt ma có khả năng kì lạ. Một số Lạt ma có thể đọc được suy nghĩ của người khác một cách dễ dàng, thậm chí họ còn có thể liên lạc được với nhau qua những khoảng cách rất xa nhờ ý nghĩ!
Điều kì lạ còn ở chỗ: suy nghĩ của con người có thể bị đọc bất chấp sự khác biệt về mặt ngôn ngữ (ban đầu Tác giả còn chưa biết tiếng Tạng, các Lạt ma thì hiển nhiên không biết tiếng Pháp! Vậy mà các Lạt ma dường như đọc được mọi suy nghĩ của bà).

Vậy phải giải thích vấn đề này như thế nào? Liệu suy nghĩ của con người có thể bức xạ ra ngoài không gian hay không, và con người có thể cảm nhận được bức xạ suy nghĩ của người khác hay không?

1. Nghiên cứu khả năng bức xạ tín hiệu của bộ não

Trong bài viết về khí công, ta đã biết về khả năng bức xạ của cơ thể nói chung. Tất nhiên bộ não cũng không ngoại lệ. Vấn đề là ở chỗ: Bộ não là trung tâm tư duy của cơ thể, và sóng bức xạ từ bộ não ra ngoài có chứa đựng các thông tin về khả năng tư duy, các ý nghĩ của con người hay không?

Bộ não điều khiển cơ thể bằng cách nào?
Khi bộ não muốn ra lệnh cho một bộ phận của cơ thể, tín hiệu điều khiển sẽ đi theo các dây thần kinh tới bộ phận đó. Tín hiệu thần kinh cũng là 1 loại sóng điện từ đặc biệt - sóng sinh học. Nhưng khác với Khí, sóng thần kinh có mang “thông tin điều khiển” (suy nghĩ), còn khí đơn thuần thì không mang thông tin về ý thức.

Người ta có thể đo được các sóng thần kinh này, thông qua đó kiểm tra trạng thái hoạt động của bộ não, phát hiện được các bệnh liên quan đến não. Y học hiện đại gọi đó là phương pháp điện não (chắc hẳn mọi người đều biết phương pháp này, nó rất phổ biến trong các bệnh viện). Người ta gắn quanh đầu bệnh nhân các điểm tiếp xúc, có dây dẫn tới thiết bị xử lý, vẽ, rồi in ra các đồ thị trạng thái (điện não đồ).

Ý thức có thể bức xạ ra ngoài cơ thể hay không?
Tín hiệu điện não có thể lan ra ngoài hộp sọ, tới bề mặt ngoài cùng của đầu, lại theo dây dẫn tới máy đo (như đã nói trong phương pháp điện não). Vậy thì việc dao dộng điện não đó tiếp tục lan truyền từ bề mặt cơ thể ra ngoài không gian cũng là điều dễ hiểu. Điều cần xem xét là tín hiệu đó truyền được bao xa, và con người có thể điều khiển được tín hiệu đó ở môi trường bên ngoài hay không?

Để nghiên cứu vấn đề trên, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều thí nghiệm khác nhau. ở đây chỉ xin trình bày 2 thí nghiệm (đã chiếu trên VTV2).

a) Thí nghiệm ở Italia:
Người tham gia thí nghiệm được gắn các điểm tiếp xúc vào đầu (giống như phương pháp điện não). Các điểm này được nối dây tới một máy tính. Người đó sẽ tập trung suy nghĩ, điều khiển bộ não tới những trạng thái khác nhau (thư thái, vui vẻ, nóng giận...). Các tín hiệu này được truyền về máy tính. ứng với các trạng thái đó, trên màn hình sẽ hiện ra 1 chữ cái. Từ đó người tham gia thí nghiệm có thể soạn thảo được một văn bản bằng ý nghĩ mà không cần đụng tay vào bàn phím!

b) Thí nghiệm ở Thuỵ Sĩ:
Cũng tương tự thí nghiệm trên, người tham gia thí nghiệm được gắn các điểm tiếp xúc, nhưng dây dẫn được nối tới 1 robot đơn giản. Bằng ý nghĩ của mình, người đó có thể điều khiển robot chuyển động theo ý muốn (tiến, lùi, rẽ trái, rẽ phải...)

Qua các thí nghiệm trên ta thấy: ý nghĩ của con người có thể được truyền ra khỏi cơ thể, và con người hoàn toàn có khả năng điều khiển được các bức xạ ý thức này.

2. Sự cảm nhận tín hiệu của bộ não con người

Làm cách nào con người có thể cảm nhận được môi trường xung quanh? Đó là nhờ các giác quan. Tất cả những thông tin mà các giác quan thu nhận được sẽ chuyển thành các tín hiệu thần kinh và truyền về não. Não nhận tín hiệu này, phân tích, xử lý, lưu trữ... Như vậy, có rất nhiều loại thông tin khác nhau như ánh sáng, âm thanh, mùi, vị... được chuyển hoá thành dạng tín hiệu thần kinh phù hợp với bộ não, để não có thể thu nhận được.

Nói một cách đơn giản, con người giống như một chiếc máy tính, thông tin có thể đưa vào máy tính dưới nhiều dạng khác nhau: Hình ảnh (scanner), âm thanh (micro), bàn phím, chuột... nhưng khi đã đưa tới bộ phận xử lý thì tất cả các thông tin đó đều phải chuyển về dạng nhị phân hết!

Từ đó, người ta đặt ra câu hỏi: có phải ngũ quan (5 giác quan) là con đường duy nhất để con người tiếp nhận thông tin từ bên ngoài? Nếu trong không gian có tồn tại những tín hiệu mang thông tin phù hợp với não thì bộ não có khả năng cảm nhận nó trực tiếp mà không cần 5 giác quan kia không? Rõ ràng về mặt logic, điều đó là hoàn toàn hợp lý. Tiếc rằng với trình độ của khoa học hiện nay chưa thể chế tạo được các thiết bị có khả năng bức xạ ra các sóng như vậy. Nhưng, như đã trình bày ở phần trên, chính bộ não của con người - bộ máy tuyệt vời của tự nhiên - lại làm được điều đó.

Bộ não làm việc hầu như không ngừng nghỉ (kể cả khi ngủ), đồng thới nó liên tục bức xạ các sóng thần kinh ra môi trường xung quanh. Nếu vậy, tại sao hầu như tất cả mọi người không cảm nhận được tín hiệu này? Có nhiều nguyên nhân khác nhau:

+ Đối với đa số người, tín hiệu thần kinh bức xạ ra là yếu, và nó còn bị suy hao do ảnh hưởng của môi trường, do đó nó chỉ có thể đi được một khoảng cách ngắn chứ không thể truyền xa. Chỉ những người được luyện tập bài bản, nội khí mạnh mẽ, sóng thần kinh của họ mới phát xa được. Đôi khi những hoàn cảch đặc biệt như sợ hãi, hoảng hốt, hay vui sướng cực độ cũng có thể kích thích bộ não người bình thường phát ra những bức xạ mạnh.

+ Mỗi bộ não lại có đặc điểm riêng và phát ra những bức xạ riêng. Do đó, mỗi bộ não chỉ có thể cảm nhận được những tín hiệu thần kinh phù hợp với nó chứ không phải mọi tín hiệu có trong môi trường. (Giống như một chiếc đài chỉ có thể thu được những sóng trong dải tần của nó, ngoài dải đó ra thì không thể thu được). Hiện tượng thần giao cách cảm tự nhiên (mà ta đề cập tới ở đầu bài viết) xảy ra chủ yếu đối với những người thân trong một gia đình, có lẽ là nhờ có những điểm tương đồng trong bộ não của họ.

Một số người do luyện tập có thể đạt được khả năng cảm nhận được nhiều loại sóng khác nhau. Tâm trí họ phẳng lặng, giống như một mặt nước, mà bất cứ một rung động nhỏ nào trong không gian cũng có thể tạo ra một gợn sóng trên đó.

Còn vấn đề về rào cản ngôn ngữ thì sao? Rõ ràng dù là người Anh, Pháp, hay Trung Quốc thì khi suy nghĩ cũng vẫn chỉ phát ra “các sóng thần kinh của con người” mà thôi, mà các sóng này đâu có phân biệt ngôn ngữ hay quốc tịch!

Một trường hợp nữa mà ta muốn đề cập tới ở đây, đó là: liệu một bộ não có thể cảm nhận được bức xạ thần kinh của chính bộ não đó hay không? Tất nhiên bức xạ thần kinh của bộ não đó thì phải phù hợp với khả năng cảm nhận của chính nó. Tuy nhiên, khi bức xạ đã phát ra ngoài thì nó thường bị suy hao hết do môi trường. Một số trường hợp do bức xạ đó quá mạnh (hoặc chứa các vi hạt không suy hao), truyền trong môi trường, đập vào các vật cản của môi trường (mà không bị suy hao hết), phản xạ trở về bộ não chủ, mang theo thông tin phản ánh về môi trường cho bộ não. (giống như nguyên lý hoạt động của rađa, hay cách tìm đường của con dơi). Nhờ đó tạo ra những khả năng đặc biệt của con người như nhìn xuyên (thấu thị), xuất vía... (vấn đề này còn có nhiều tranh cãi, rất mong các bạn góp ý, đặc biệt là những người có kinh nghiệm trực tiếp).

3. Luyện tập “Thần giao cách cảm”

Trong cuốn “Huyền thuật và đạo sĩ Tây Tạng”, bà A. D. Nill đã mô tả về một lớp học thần giao cách cảm như sau:

Đầu tiên, các học viên phải học tập trung tư tưởng, tập thở, tập thiền... Khi đã đạt một trình độ nhất định, họ sẽ được ngồi chung phòng với người thầy (thường là một vị lạt ma nhiều kinh nghiệm). Người thầy sẽ phát ra những luồng suy nghĩ lặp đi lặp lại, còn người học sẽ tập trung để cảm nhận suy nghĩ của người thầy. Khoảng cách giữa thầy và trò ban đầu là ngắn, sau tăng dần tuỳ thuộc vào sự trưởng thành của người học. Thường thì đa số học viên có thể nhận được thông tin từ thầy, nhưng không phải ai cũng có thể phát lại thông tin trả lời (khi ở khoảng cách xa).

Trong Thế chiến thứ 2, quân đội Mỹ rất quan tâm tới khả năng đặc biệt này của con người. Nhiều lớp huấn luyện đặc biệt cho các nhân viên tình báo đã được tổ chức. Họ được đào tạo về khả năng thần giao cách cảm, phục vụ cho việc trao đổi thông tin tình báo. Nhiều cuộc thí nghiệm cho thấy họ có thể truyền tin cho nhau ở khoảng cách xa hàng trăm Km. Có 1 thí nghiệm như sau:
Một nhân viên tình báo ở trên 1 con tàu bằng thép ở xa ngoài khơi, một người khác thì ở trên bờ. Kết quả là họ vẫn có thể trao đổi thông tin, dù tín hiệu điện não phải đi xuyên qua lớp thành tàu bằng thép dày hàng chục centimet! (thông tin này tôi đọc trên tạp chí Tri thức trẻ).

Ở Việt nam cũng có những lớp học về khả năng này. Tại một trường ĐH ở Hà nội có một giảng viên rất giỏi về khí công. Ông thường lựa chọn trong số SV của mình những người có tố chất để huấn luyện. Kết quả của các lớp học khá khả quan (tất nhiên là chưa thể đạt được trình độ cao như ở trên). Vào các buổi kiểm tra, ông thầy thường tập trung suy nghĩ vào 1 chữ cái hoặc chữ số, sau đó yêu cầu các SV trả lời (tỷ lệ thành công đạt tới trên 60%).

(Theo tinmoi.vn)
Read more…

Video

Back to top Go bottom