Bí ẩn nhục thân các thiền sư

02:55 |
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 1: Nhục thân cụ sư Rau

Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 1: Nhục thân cụ sư Rau
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 2: Nhục thân thiền sư Vũ Khắc Trường
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 3: Chuyện lạ từ làng Phật Tích
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 4: Thiền sư Chuyết Chuyết và hành trình tìm về sự thật
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ cuối: Tu bổ nhục thân thiền sư Như Trí
Nhục thân thiền sư Vũ Khắc Minh sau khi tu bổ
BÍ ẨN NHỤC THÂN CÁC THIỀN SƯ

LTS: Trải qua hàng trăm năm với bao biến động dâu bể, làm thế nào mà nhục thân các thiền sư vẫn còn lại đến ngày nay? Từ những phát hiện về nhục thân các thiền sư Vũ Khắc Trường, Vũ Khắc Minh ở chùa Đậu, thiền sư Chuyết Chuyết ở chùa Phật Tích, PGS-TS Nguyễn Lân Cường đã hé mở phần nào những bí ẩn về nghệ thuật táng tượng và thiền táng độc đáo của người Việt trong công trình khoa học “Phía sau nhục thân của các vị thiền sư” vừa được phát hành. Xin giới thiệu đến bạn đọc loạt bài của PGS-TS Nguyễn Lân Cường dành riêng cho Thanh Niên.
Ngày 3.5.1983, theo yêu cầu của Văn phòng 10 Hội đồng Bộ trưởng, Viện Khảo cổ học cử một đoàn cán bộ xuống chùa Đậu, thuộc huyện Thường Tín (Hà Tây cũ) để kiểm tra tình trạng xuống cấp của gác chuông. Trong đoàn có tôi. Lang thang vòng ra bên phải, sau dãy hành lang, tôi thấy một chiếc am nhỏ, rêu phong mà bên ngoài cửa phủ mành tre. Nhìn vào bên trong, tôi chợt giật mình vì thấy một nhà sư ngồi thiền, đôi mắt “lim dim” như đang suy tư về cõi Phật.
Từ lâu, nhân dân quanh vùng đã truyền tụng với nhau rằng ở chùa Đậu, có hai am nằm ở bên phải và bên trái của chùa. Am bên phải là của thiền sư Vũ Khắc Minh, bên trái là am thiền sư Vũ Khắc Trường. Chuyện kể rằng, khoảng thế kỷ XVII, vào một ngày nọ, thiền sư Vũ Khắc Minh (mà nhân dân trong vùng quen gọi ngài là cụ sư Rau - nhà sư thường chỉ ăn rau trừ bữa) bước vào trong am và nói với các đệ tử rằng: “Mang cho ta một chum nước uống và một chum dầu để thắp. Khi nào thấy dứt tiếng mõ hãy mở cửa am ra. Nếu thấy thi thể của ta đã hỏng, thì dùng đất lấp am đi, còn ngược lại thì dùng sơn ta bả lên thi thể...”. Dứt lời, cụ bước vào am tọa thiền và chỉ còn nghe vẳng ra tiếng mõ tụng kinh suốt ngày này qua ngày khác. Tròn trăm ngày, các đệ tử không nghe thấy tiếng mõ nữa, vội mở cửa am ra thì thấy ngài vẫn ngồi đấy như đang trong lúc tọa thiền. Hai chân ken vào nhau đúng vị trí của thiền, còn hai tay hơi bị xệ xuống. Nhớ lời thầy dặn, họ vội lấy sơn ta bả lên thi hài.
Trong cuốn Những chùa, đình và nhà thờ của Hà Đông - Phong cảnh Hà Đông xuất bản năm 1932 (tiếng Pháp), tác giả cho rằng đó là những “momies” (xác ướp) kiểu Ai Cập. Thật sai lầm! Tệ hại hơn, trong một bài báo đăng trên tờ Thời Mới vào năm 1957 lại có tiêu đề khá giật gân Xác ướp chùa Đậu hàng trăm năm vẫn còn giữ nguyên bộ phận sinh dục!
Bằng con mắt nghề nghiệp, tôi phát hiện qua vết nứt ở trên trán có xương sọ ở bên trong, và thế là tôi nảy ra ý định chụp phim X-quang để chứng minh đây là một nhục thân nguyên dạng. Nếu chứng minh được thì rõ ràng phương thức táng này nằm ngoài 5 táng thức đã có trước đây trên thế giới: địa táng hay thổ táng (chôn trong đất); hỏa táng (đốt thi hài); hải táng hay thủy táng (thả xuống nước); thiên táng hay điểu táng (cho chim ăn để được bay lên trời); huyền táng hay táng treo.
Chiều 25.5.1983, tôi chuyển nhục thân thiền sư Vũ Khắc Minh về khoa X-quang Bệnh viện Bạch Mai. Với sự giúp đỡ tận tình của PGS - bác sĩ Đặng Văn Ấn, bác sĩ Nguyễn Trọng Đức và các kỹ thuật viên, tôi đã tiến hành soi phần sọ, ổ ngực và ổ bụng. Qua màn hình, tôi thấy toàn bộ xương sườn, xương đốt sống đổ sập xuống nằm gọn trong khoang bụng. Rõ ràng, không có chất dính giữa các xương đốt sống. Hộp sọ còn nguyên vẹn, phần xương lá mía không bị đục vỡ như trên sọ vua Ai Cập Ramsès V để lấy não ra. Từ đó, có thể suy ra não và các nội tạng - về mặt lý thuyết - là vẫn còn nguyên trong nhục thân. Kết hợp giữa chiếu và phim chụp, có thể thấy rõ các xương dưới sọ như xương cánh tay, cổ và bàn tay, xương chậu hông, đùi, xương chày, mác và xương cổ chân, bàn chân đều nằm đúng với vị trí giải phẫu. Trong các xương không có cốt bằng kim loại, rõ ràng đây là một nhục thân nguyên dạng.
Bằng phương pháp quang phổ phát xạ vùng tử ngoại và chiếu xạ tia rơn-ghen khi phân tích chất bồi của nhục thân thiền sư Vũ Khắc Minh, tiến sĩ Lê Nguyên Sóc cũng đã có kết luận phù hợp với ý kiến của chúng tôi về chất bồi. Đó là hỗn hợp của sơn ta, mùn cưa, giấy dó và đất...
Tôi mừng quá, vì như vậy là đã chứng minh được đây là một táng thức mới mà tôi đặt tên là tượng táng (táng theo kiểu làm thành tượng) hay thiền táng (táng theo kiểu ngồi thiền). Sau này tôi mới biết nét văn hóa trên cũng có ở Trung Quốc. Vào thế kỷ thứ VIII sau Công nguyên, kỹ thuật “Giáp trữ tất” (sơn ta bó lụa) đã được thực hiện khi Lục tổ Huệ Năng (638 - 713) viên tịch. Hiện nay, chân thân còn nguyên vẹn để tại Nam Hoa Tự, nằm ở phía tây tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc, thuộc thôn Nam Hoa, huyện Khúc Giang, cách TP Quảng Châu về phía tây hơn 230 km. (Còn tiếp)
PGS-TS Nguyễn Lân Cường
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 2: Nhục thân thiền sư Vũ Khắc Trường
24/12/2009 12:50:00 PGS-TS Nguyễn Lân Cường
Đã đọc: 2938 Cỡ chữ:
Tượng đối chứng (trước) và tượng gốc (sau) của thiền sư Vũ Khắc Minh - ảnh: N.L.C
BÍ ẨN NHỤC THÂN CÁC THIỀN SƯ
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 1: Nhục thân cụ sư Rau
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 2: Nhục thân thiền sư Vũ Khắc Trường
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 3: Chuyện lạ từ làng Phật Tích
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 4: Thiền sư Chuyết Chuyết và hành trình tìm về sự thật
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ cuối: Tu bổ nhục thân thiền sư Như Trí

Trong chùa còn có pho tượng cổ thứ hai: Thiền sư Vũ Khắc Trường - người trụ trì chùa Đậu kế tục ngay sau Vũ Khắc Minh, không có tài liệu nào nói đây là “chú, cháu” như một số báo đã đưa tin. Năm 1893, chùa bị lụt, tượng Vũ Khắc Trường nằm ở vị trí thấp hơn nên bị nước tràn vào và bị hỏng. Các cụ trong làng đã làm lại một pho tượng khác bằng sơn ta có cốt dựng bằng tre và gỗ rồi xếp xương vào bên trong.
Tại Viện Thông tin khoa học xã hội VN ở Hà Nội, chúng tôi tìm thấy hai bức ảnh chụp tượng thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường còn bóng nước sơn, không hề có vết nứt nào.
Nhưng chỉ sau vài chục năm, do tượng để trong am cạnh chùa rất ẩm ướt nên đã làm cho cả hai pho tượng xuống cấp trầm trọng. Pho tượng Vũ Khắc Minh bị nứt ở đầu gối và phần mặt. Pho tượng Vũ Khắc Trường, hỏng trầm trọng ở phần chõn, hầu như không còn ngồi được ngay ngắn, nếu không có những miếng gỗ kê ở phía dưới.
Tôi bắt tay viết dự án Tu bổ, bảo quản tượng hai vị thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường ở chùa Đậu (Hà Tây) ngay vào đầu năm 2000. Nhóm công tác gồm: PGS-TS Nguyễn Lân Cường (Chủ nhiệm dự án), họa sĩ sơn mài Đào Ngọc Hân, các nhà điêu khắc Phạm Xuân Sinh, Nguyễn Ngọc Lâm, kỹ sư Nguyễn Mạnh Hà. Ngoài ra, còn có 6 cơ quan cùng kết hợp để thực hiện dự án, một hội đồng cố vấn và Ban quản lý dự án được thành lập. Điều khó khăn nhất với chúng tôi là các phương án nêu ra không thể mắc sai lầm vì hai pho tượng này là độc bản, chỉ cần mắc một lỗi nhỏ là không thể sửa chữa được. Chúng tôi là những người hiểu nhất điều này vì các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước lúc đó như ông Nguyễn Khoa Điềm - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Văn hóa - Thông tin Phạm Quang Nghị... đã tới tận chùa để nghe chúng tôi trình bày phương án tu bổ - bảo quản hai nhục thân.
Ngày 18 tháng 4 năm 2003 (tức 17 tháng 3 năm Quý Mùi) sau vài tháng tranh luận quyết liệt xem tu bổ nhục thân ở đâu, lễ khởi công dự án tu bổ - bảo quản nhục thân hai vị thiền sư chùa Đậu được tổ chức ngay tại chùa. Và thế là bắt đầu những ngày lao động trong suốt 6 tháng trời...
Bằng kỹ thuật truyền thống: bó, hom, lót, thí, mài và thếp với các nguyên liệu như: sơn ta, vải màn, giấy dó, mạt cưa và đất, chúng tôi đã tiến hành sơn 14 lớp và thếp vàng đối với tượng gốc Vũ Khắc Minh, còn nhục thân Vũ Khắc Trường thì thếp bạc. Sau mỗi lớp sơn lại tiến hành mài, khiến bề mặt là các lớp sơn đan ken, xoắn quyện với nhau. Đến lớp cuối khi phủ quang dầu xong, chúng tôi phát hiện bề mặt pho tượng không nhẵn. Những hạt bụi lơ lửng trong không trung đã bám vào bề mặt tượng. Chúng tôi quyết định làm lại và thực hiện khâu này trong... màn. Trời nóng, mấy anh em phải xoay trần suốt cả buổi chiều. Thật tuyệt vời, 2 ngày sau kiểm tra trên mình thiền sư mịn bóng, không một gợn bụi...
Với pho tượng của thiền sư Vũ Khắc Trường, vốn là pho tượng đã được dựng lại năm 1893, nên có nhiều chi tiết sai lệch về mặt giải phẫu.

Họa sĩ sơn mài Đào Ngọc Hân đang thếp vàng tượng gốc thiền sư Vũ Khắc Minh
Trong dự án soạn thảo đầu tiên, tôi có ý định dỡ ra, thu thập xương cốt rồi dựa theo xương sọ để phục nguyên lại đúng với vẻ mặt ban đầu của thiền sư. Đây là phương pháp của Gherasimov (người Nga) mà tôi là người VN đầu tiên và duy nhất được học tập tại nước ngoài. Nhưng nhà chùa và cơ quan văn hóa thông tin địa phương không tán thành, vì cho rằng nhân dân địa phương hơn trăm năm nay đã in đậm trong tâm khảm hình ảnh của cụ Vũ Khắc Trường hiện tại rồi. Dù phục dựng pho tượng mới có giống với hình hài thật của cụ, họ cũng sẽ không chấp nhận. Tôi đành phải theo ý họ, mặc dầu vẫn ấm ức!
Pho tượng bị hỏng trầm trọng, bề mặt tượng lớp sơn bị mủn nát. Chỉ cần một tác động nhẹ là cả pho tượng sẽ bị đổ sập xuống. Do đó không thể đổ thạch cao làm khuôn trên chính pho tượng gốc để làm tượng đối chứng. Nhóm chúng tôi quyết định giao cho nhà điêu khắc trẻ Nguyễn Ngọc Lâm làm một pho tượng bằng đất sét có kích thước, hình dáng giống hệt tượng gốc và tiến hành đổ khuôn để tu bổ phần chân và pho tượng đối chứng.
Vào một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi ngắm pho tượng gốc của Vũ Khắc Trường và cứ suy nghĩ mãi không hiểu tại sao vị thiền sư này có cánh tay dài thế, khi so sánh với tỷ lệ chung của pho tượng. Tôi bàn bạc với họa sĩ sơn mài Đào Ngọc Hân và quyết định “bí mật” khoét bốn ô nhỏ ở vùng gần đầu xương cánh tay và khuỷu tay. Điều này cấp trên không tán đồng, nhưng chúng tôi cứ “liều” vì biết đâu có thể phát hiện ra một chân lý nào đó... Ước mơ ấy của chúng tôi đã thành sự thật. Trong hố khoét của cánh tay phải ở phía trên gần vai, tôi phát hiện ra ròng rọc và chỏm của xương cánh tay (đã bị đặt lộn ngược), bên cạnh nó là xương mác của xương ống chân được ghép vào xương cánh tay và cũng bị lộn đầu. Đây chính là nguyên nhân làm cánh tay của thiền sư dài quá cỡ. Chúng tôi đã tiến hành phủ sơn ta, giấy bản, vải màn, mạt cưa, đất và thếp bạc mà chỗ dày nhất tới 22 lớp. Toàn bộ pho tượng thiền sư Vũ Khắc Trường nặng 31 kg.
Ngày nay ai tới chùa Đậu cũng thấy có 2 cụ Minh, 2 cụ Trường, từng cặp giống nhau như hệt. Thật ra chỉ có 2 pho tượng gốc là đặt trong nhà tổ. Hai pho còn lại được làm bằng thạch cao để đặt trong am ở hai bên cạnh chùa. (Còn tiếp)
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 3: Chuyện lạ từ làng Phật Tích
24/12/2009 13:05:00 PGS-TS Nguyễn Lân Cường
Đã đọc: 1078 Cỡ chữ:
Nhà điêu khắc Bùi Đình Quang (trái) và nhà nhân chủng học Nguyễn Lân Cường tái tạo hình dạng của nhục thân thiền sư Chuyết Chuyết dựa vào di cốt còn lại - Ảnh tác giả cung cấp
BÍ ẨN NHỤC THÂN CÁC THIỀN SƯ

Chùa Phật Tích - ngôi chùa thời Lý nghìn năm tuổi còn giữ được pho tượng đá lớn nhất và những con thú bằng đá, nằm trên lưng chừng núi Lạn Kha, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Nhưng tại sao lại có tên Lạn Kha, Tiên Du và Phật Tích?
Chuyện xưa
Trèo lên đỉnh núi phía sau chùa, chúng ta sẽ bắt gặp mấy khối đá vuông, mặt phẳng. Các cụ già trong làng bảo đấy là bàn cờ tiên. Tương truyền, trong làng lúc đó có một chàng tiều phu tên gọi là Vương Chất. Một hôm, nhân lên núi đốn củi, Vương Chất thấy hai cụ già râu tóc bạc phơ đang ngồi đánh cờ trên tảng đá bằng phẳng. Hai cụ vừa đánh cờ vừa ăn đào và vứt hột sang bên. Vương Chất vừa xem cờ, vừa nhặt hạt đào để ngậm tiếp. Ván cờ vừa xong, nhìn xuống chân, thấy chiếc cán rìu đã mục và cũng là lúc hai cụ biến vào sau hàng thông hiu quạnh... Soi mình trong bóng nước thấy râu tóc bạc trắng, chàng mới chợt hiểu rằng mình đã lạm sống một thời gian dài ở cõi tiên - một năm bằng sáu, bảy mươi năm ở cõi trần. Thế là, vì có tiên xuống chơi mà người ta gọi là Tiên Du và cũng vì “cán rìu mục nát” mà núi ở đây cũng còn có tên là Lạn Kha...
Truyện kể lại, chùa xưa rộng rãi khang trang có tới 300 tòa nhà. Chỉ riêng công việc dọn dẹp đã cần tới 70 người. Đặc biệt ngọn tháp của chùa cao vời vợi, nhòa lẫn trong mây, đến nỗi ở tận kinh thành Thăng Long vẫn còn nhìn rõ. Nhà vua ngạc nhiên hỏi cận thần cớ sao ở nơi thôn dã mà lại có cây tháp cao hơn cả cung điện trong hoàng thành? Sau lời “quở” đó, cây tháp thần kỳ bị đổ dọc theo sườn núi, gạch đổ xuống tới tận đầu làng dài gần cây số, nơi ấy nay còn tên là “Ngõ Gạch”. Dưới lòng đáy tháp lộ ra một pho tượng Phật sừng sững. Pho tượng ấy nay vẫn còn, gọi là tượng Phật A Di Đà. Để ghi lại tích Phật ấy, làng đổi tên là Phật Tích và dời lên sườn núi.
Bí ẩn tháp Báo Nghiêm
Vào một đêm cuối tháng 8.1989, trời mưa tầm tã, những tia sét cuối hè xé ngang bầu trời tối đen như mực, liếm sang cả phía sau sườn núi Lạn Kha. Chính trong cái đêm mưa bão ấy, kẻ gian đã lẻn lên sau chùa phá ô cửa nhỏ bằng đá của tháp Báo Nghiêm, hòng tìm kiếm vàng bạc, hay tượng đồng đen trong tháp. Tháp Báo Nghiêm, dựng năm Chính Hòa thứ 13 (1692), cao bốn tầng. Mặt tháp có chạm tượng Phật, ngồi trên tòa sen. Bọn trộm có ngờ đâu, trong lòng tháp chỉ vỏn vẹn có một vại sành, trong đó đựng xương và những mảnh vỡ của một pho tượng cổ. Ngày hôm sau, đoàn tham quan gồm bảy nhà sư do Thượng tọa Thích Thanh Quang - trụ trì chùa Quỳnh Lâm (tỉnh Quảng Ninh) dẫn đầu lên thăm khu tháp bỗng nhìn thấy các mảnh xương, mảnh bồi nằm tung tóe dưới chân tháp. Thượng tọa vội báo cho Ban di tích “Tìm thấy di hài của Phật Tổ rồi!...”. Ông Trần Xuân Trường và Ban di tích của chùa vội gom lại xương và các mảnh bồi vào trong một hòm kính đặt ở chùa. Chẳng mấy chốc, cái tin tìm thấy thi hài của “Phật Tổ” lan đi rất nhanh. Đúng vào thời gian này, tôi đang nghiên cứu tại Viện Khảo cổ học Viện Hàn lâm khoa học Cộng hòa Liên bang Nga (Liên Xô cũ) ở Moscow. Về nước vào đầu tháng 3.1991, thì giữa tháng 4, tôi được Ban di tích của chùa Phật Tích mời lên nghiên cứu nhục thân của thiền sư.
Ngày 26.4.1991, trở lại chùa Phật Tích lần thứ hai, suốt cả một ngày trời tôi loay hoay chắp gắn và khớp được ống chân phải với phần dưới của đùi, tạo thành một góc nhọn, chúng tôi khẳng định tư thế hai chân ngồi xếp bằng tròn của pho tượng. Chúng tôi đã phát hiện ra 209 mảnh bồi và 133 mảnh xương. Nghiên cứu góc xương mu, khuyết ngồi lớn, mỏm chũm... chiều dài xương đùi, chúng tôi cho rằng đây là di hài của một người đàn ông chừng 65-70 tuổi, cao 1,59m. Đặc biệt chúng tôi tìm được bảy đoạn dây đồng nằm lọt giữa mảnh bồi. Như vậy, chắc chắn người ta đã dựng khung xương trước nhờ những đoạn dây đồng và bồi ra bên ngoài để tạo tượng. Chất bồi cũng là sơn ta, vải màn, mạt cưa, đất... giống chất bồi của thiền sư Vũ Khắc Minh, nhưng cách tạo tượng thì khác hẳn vì không bồi trực tiếp lên thi hài.
Nhìn chiếc vại đựng thi hài, chúng tôi thấy nét vẽ rồng bằng phẩm màu rất sơ sài, nên tôi và nhà khảo cổ học Trịnh Cao Tưởng đều cho rằng đây là chiếc vại có niên đại rất muộn - chỉ cách ngày nay vài chục năm, không thể so sánh với niên đại của tháp. Thế thì có đúng đây là di hài của thiền sư Chuyết Chuyết hay không? Tại sao bức tượng có xương cốt của ngài lại bị đập vỡ và để trong vại đặt trong tháp Báo Nghiêm của chùa Phật Tích? Tất cả những câu hỏi trên mãi sau này chúng tôi mới có lời giải đáp...
(Lược trích từ cuốn Bí mật phía sau nhục thân của các vị thiền sư của PGS-TS Nguyễn Lân Cường)
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 4: Thiền sư Chuyết Chuyết và hành trình tìm về sự thật
24/12/2009 13:07:00 PGS-TS Nguyễn Lân Cường
Đã đọc: 1057 Cỡ chữ:
Nhục thân thiền sư Chuyết Chuyết sau khi phục nguyên
BÍ ẨN NHỤC THÂN CÁC THIỀN SƯ
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 1: Nhục thân cụ sư Rau
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 2: Nhục thân thiền sư Vũ Khắc Trường
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 3: Chuyện lạ từ làng Phật Tích
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 4: Thiền sư Chuyết Chuyết và hành trình tìm về sự thật
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ cuối: Tu bổ nhục thân thiền sư Như Trí

Ngày 10.10.1992, bà Nguyễn Thị Lan - Phó ban di tích, chính thức đề nghị tôi đứng ra chịu trách nhiệm phục nguyên nhục thân thiền sư Chuyết Chuyết. Tổ công tác được thành lập ngay gồm: họa sĩ sơn mài Đào Ngọc Hân, nhà điêu khắc Bùi Đình Quang, họa sĩ Nguyễn Đình Hiển, và tôi, chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp.
Toàn bộ chi phí cho việc phục dựng được nhiều phật tử đóng góp vẻn vẹn chỉ có 5 triệu đồng! Ngồi tính toán mãi tôi thấy đúng là chỉ đủ tiền mua sơn ta, vàng lá để dát và một số nguyên vật liệu khác. Tôi nói thẳng với anh em là kinh phí quá hạn hẹp, nên việc phục dựng xin cái tâm là chính, chứ không có công xá gì cả... Anh em trong cả tổ đều vui vẻ tán thành. Có khó khăn mới thấy được họ đúng là những người bạn tuyệt vời của tôi.
Được sự giúp đỡ của Sở Văn hóa - Thông tin Bắc Ninh, Phòng Văn hóa huyện Tiên Sơn, ngày 12.1.1993, chúng tôi đã chuyển 133 mảnh xương và 209 mảnh bồi về Hà Nội để nghiên cứu.
Cả nhóm chúng tôi trao đổi, tranh luận với nhau xem nên phục dựng toàn bộ pho tượng bằng cách nào. Lúc đầu, có ý kiến đưa ra là dùng dây đồng nối các xương lại, kết hợp với khung tre làm cốt để dựng tượng. Bàn đi tính lại mãi thấy không ổn, vì bản thân tôi muốn bên trong tượng của thiền sư chỉ nên có di cốt của ngài. Cuối cùng, cả nhóm nhất trí theo phương án từng bước như sau:
1. Tái tạo pho tượng bằng đất sét theo tư thế ngồi thiền.
2. Đổ khuôn pho tượng, bằng cách tạo các mảng khuôn.
3. Bồi sơn ta, lót vải màn, rắc mạt cưa, trộn sơn ta tất cả là 10 lớp ở mặt trong của khuôn.
4. Gắn xương vào đúng vị trí giải phẫu bằng chất liệu sơn ta trộn với mùn cưa.
5. Khi sơn ta với lớp vải màn, mạt cưa đã khô cứng lại, tiến hành phá khuôn thạch cao ở bên ngoài, gỡ các mảnh bó cốt và gắn thành hình tượng thô.
6. Tiếp theo là các công đoạn làm sơn thông thường: “bó” hai nước, “hom” ba nước, “lót” hai nước và “thí” hai nước.
7. Thếp bạc.
8. Quang dầu hai lần.
Cả nhóm chúng tôi đã miệt mài lao động trong hơn ba tháng rưỡi và sáng 1.5.1993, nước sơn quang cuối cùng đã phủ kín pho tượng, kết thúc công việc của một phương án táo bạo, mà chưa một nhà điêu khắc nào làm theo kiểu này: tượng hoàn toàn không có cốt bằng sắt, thép hay tre, gỗ làm trụ ở bên trong.


Mặt trong của mang khuôn
Phục nguyên nhục thân xong, tôi cứ băn khoăn mãi, vì không hiểu có chắc vị thiền sư mà chúng tôi phục nguyên là thiền sư Chuyết Chuyết hay không? Ban Di tích của chùa nói với tôi, vị sư trụ trì ở chùa Phật Tích trong thời gian trước chiến tranh là đại đức Hồng Đức, đã mất năm 1980 (?). Nhưng không thể chỉ có một vị sư ở chùa, nghĩ vậy nên tôi lần dò tìm mãi thì được biết còn có ông già Triệu vốn là sư bác của chùa vào những năm trước khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ.
Tìm đến thôn Mao Rộc, cách chùa Phật Tích 15 km, tôi gặp được cụ Nguyễn Chí Triệu, vốn là sư bác ở chùa bốn nhăm năm về trước. Tôi mở cặp lấy ra tấm ảnh chụp pho tượng mà chúng tôi vừa phục chế, đưa cho cụ xem. Nheo nheo đôi mắt, cụ trả lời ngay: “Đúng là cái tượng để trong khám rồng đấy”. Trở về Hà Nội, tôi lật tìm cuốn sách Phật Lục của Trần Trọng Kim xuất bản năm 1943, tới trang 95 thì thấy tác giả cũng khẳng định rõ “khám thờ Tổ đệ nhất bó cốt làm tượng...”. Lại có cả bản vẽ minh họa vị trí đặt pho tượng Chuyết Công trong nhà Tổ, nhưng không có ảnh chụp chiếc khám. Tiếp tục lục tìm kho tư liệu ảnh về chùa Phật Tích của Viện Thông tin khoa học xã hội, tôi không hề thấy ảnh chiếc khám nào. Nhưng thật may mắn khi lật tìm những tư liệu của chùa Bút Tháp, tôi chợt thấy bức ảnh mang ký hiệu số 7956 chụp một chiếc khám vào năm 1930 và có chú thích phía sau bằng tiếng Pháp “Khám gỗ chạm trổ thếp son giữ tượng nhà sư Chuyết Công”.
Chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh, cách chùa Phật Tích chỉ độ dăm cây số theo đường chim bay. Nơi đây cũng có tháp Báo Nghiêm, nhưng không hề có chiếc khám gỗ thờ Tổ đệ nhất. Chắc chắn người ta đã xếp nhầm bức ảnh này vào số ảnh của chùa Bút Tháp. Tôi lại vội vàng phóng xe máy lên gặp sư bác Nguyễn Chí Triệu để xác nhận xem có đúng chiếc khám của chùa Phật Tích không? Ông đã khẳng định đó là chiếc khám đặt tượng tổ Chuyết Chuyết. Từ những câu chuyện trên, chúng tôi suy đoán rằng: Khi kháng chiến bùng nổ, thấy chùa bị địch pháo kích, sau đó lại bị đốt cháy, nên có thể vị sư trụ trì của chùa đã đập vỡ pho tượng cổ thành nhiều mảnh nhỏ, đưa vào vại sành rồi giấu vào tháp Báo Nghiêm.
Đây chính là nhục thân của thiền sư Chuyết Chuyết vốn đặt trong khám rồng ở nhà Tổ. Thế là sự thật được minh chứng...
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ cuối: Tu bổ nhục thân thiền sư Như Trí
24/12/2009 13:11:00 PGS-TS Nguyễn Lân Cường
Đã đọc: 1027 Cỡ chữ:
Chụp X-quang tại Bệnh viện Đa khoa Bắc Ninh - Ảnh: N.L.C
BÍ ẨN NHỤC THÂN CÁC THIỀN SƯ
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 1: Nhục thân cụ sư Rau
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 2: Nhục thân thiền sư Vũ Khắc Trường
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 3: Chuyện lạ từ làng Phật Tích
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ 4: Thiền sư Chuyết Chuyết và hành trình tìm về sự thật
Bí ẩn nhục thân các thiền sư - Kỳ cuối: Tu bổ nhục thân thiền sư Như Trí
Ni sư Đàm Chính, chùa Tiêu Sơn (huyện Từ Sơn, Bắc Ninh), năm nay đã ngót nghét 80 tuổi. Năm 17 tuổi, bà là người đầu tiên nhìn thấy nhục thân thiền sư Như Trí trong tòa tháp ở chùa.
Hơn 60 năm trước, ni sư Đàm Chính đã về tu nghiệp ở chùa khi còn là một thiếu nữ 17 tuổi. Năm 1971, khi vén một nhành cây phủ tháp Viên Tuệ, ni sư thấy một viên gạch màu đỏ, trên đó có ghi tên và năm tịch của người trong tháp - Tỳ kheo Như Trí (mất năm 1723). Ni sư là người đầu tiên nhìn thấy nhục thân ngồi trong tháp, qua một khe nứt của tháp. Nhưng rồi cụ bít chặt khe nứt này lại và giữ kín chuyện mãi đến ngày 4.3.1996, khi Hòa thượng Thích Thanh Từ - trụ trì Thiền viện Trúc Lâm ở Đà Lạt và Tỳ kheo Thích Kiến Nguyệt - Tổng thư ký Thiền viện Trúc Lâm tới thăm chùa Tiêu Sơn. Ni sư Đàm Chính đã nhờ thiền viện giúp đỡ. Tôi gặp Tỳ kheo Thích Kiến Nguyệt lần đầu tiên tại chùa Đậu (Hà Tây cũ), khi chúng tôi đang tu bổ hai nhục thân thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường. Tỳ kheo đã yêu cầu chúng tôi giúp tu bổ nhục thân thiền sư Như Trí.
Bắt đầu tu bổ
Chúng tôi đã soạn thảo dự án “Tu bổ và bảo quản nhục thân thiền sư Như Trí ở chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh)”. Theo dự án này, Sở Văn hóa - Thông tin Bắc Ninh là cơ quan lập thiết kế và phương án thi công, Thiền viện Trúc Lâm là đơn vị chủ đầu tư của dự án. Tôi là chủ nhiệm dự án cùng thực hiện với họa sĩ sơn mài Đào Ngọc Hân và Tỳ kheo Thích Kiến Nguyệt - Tổng thư ký Thiền viện Trúc Lâm, người theo sát dự án để lo kinh phí.
Ngày 5.3.2003, nhục thân thiền sư Như Trí được đưa ra khỏi tháp. Nhục thân ngồi thiền định trong tư thế bán già, tay kiết ấn Tam muội, nhưng vì ẩm mốc nên bị mục rớt phần cẳng tay. Có một lỗ thủng lớn chính giữa mặt. Xương mũi và xương hàm trên thụt vào hộp sọ. Xương màu đen còn nhìn thấy rõ bên trong hộp sọ. Vết nứt ở tai phải từ thái dương qua trước dái tai xuống cổ và chạy sát tới đầu xương đòn phải. Hai tay bị vỡ từ cánh tay đến hết bàn tay. Các mảnh vỡ rơi rụng xuống nền và lẫn với đất, đá. Xương mỏng và có màu đen. Một vết vỡ lớn khác ở giữa ống chân phải, không nhìn thấy xương. Mặc dầu tượng bị vỡ phần tay, ống tay bị vỡ rụng xuống dưới, nhưng trên ống chân còn dấu vết của một phần bàn tay. Phía trong mảng bồi, nhìn thấy rõ thớ vải bằng mắt thường. Trật tự từ ngoài vào trong là: vải bồi, bó, hom, sơn (màu ngà). Không thấy thếp vàng hay bạc. Nhục thân được sơn phủ bên ngoài một lớp sơn ta màu ngà, mắt và lông mày vẽ bằng sơn đen. Lớp sơn đã bị bong tróc nhiều nơi, nên có màu sắc loang lổ. Do nhục thân đặt trong tháp bịt kín lâu ngày trong môi trường ẩm, mốc làm hỏng lớp sơn và bong tróc. Từ các phần hỏng, thủng, hơi ẩm, côn trùng và vi sinh vật đang xâm nhập vào phá hoại phần bên trong của nhục thân.
Do ở chùa Tiêu Sơn rất hiếm nước, khách tham quan lại đông nên việc tu bổ, bảo quản được quyết định chuyển về thực hiện tại chùa Duệ Khánh (xã Nội Duệ, huyện Tiên Du - Bắc Ninh).
Để diệt khuẩn ở bên ngoài và trong tượng, phải phun thuốc diệt khuẩn và xông thuốc. Bề mặt pho tượng bị nứt, nhiều nơi bị bong tróc lớp sơn ta. Chúng tôi xử lý ngay bề mặt pho tượng bằng cách phủ bề mặt bằng vải màn và phủ sơn rồi rắc mạt cưa lên sơn khi bề mặt chưa khô. Bề mặt pho tượng được gia cố dần. Khi gỡ phần nhục thân khỏi đế, chúng tôi phát hiện đế là một tấm gốm nung màu đỏ, mặt áp vào đáy tượng có in hình nan phên. Phía trong lớp bồi nhìn rất rõ lớp vải màn. Từ mặt đáy, chúng tôi thấy xương sên, gót và xương mác nằm khá đúng vị trí giải phẫu. Như vậy có thể kết luận nhục thân được bó cốt ngay sau khi tịch, không có sắp xếp xương như nhục thân thiền sư Vũ Khắc Trường. Để xác định giới tính, tuổi tác, tầm vóc và bệnh lý của thiền sư Như Trí, chúng tôi đã nghiên cứu tất cả số di cốt bị rơi xuống dưới trong khi đưa nhục thân ra khỏi tháp. Có một đốt sống ngực có chiều cao thân thấp và không cân xứng. Điều này gợi ý cho chúng tôi về bệnh viêm cột sống của thiền sư. Diện khớp mu còn thấy rõ để có thể định tuổi của thiền sư khoảng 40 - 45 tuổi.
Phủ tạng còn trong bụng
Ngày 11.5.2004, tôi và họa sĩ sơn mài Đào Ngọc Hân lật ngược nhục thân để nghiên cứu phần trong lòng và ngạc nhiên khi phát hiện ra một khối hợp chất bằng quả bưởi nằm chính giữa phần bụng. Tượng được phủ kín bằng sơn ta, phía dưới lại có đáy gốm, do đó khối vật chất này từ ngoài không thể lọt vào trong ổ bụng được. Sau khi lấy mẫu phân tích, kết quả thật bất ngờ rằng đó là các chất còn lại của phần phủ tạng trong bụng thiền sư Như Trí.
Như vậy, đây là lần đầu tiên ở Việt Nam chúng ta phát hiện và chứng minh được có phần nội tạng trong bụng thiền sư. Điều này có thể suy luận rằng trong bụng thiền sư Vũ Khắc Minh ở chùa Đậu, huyện Thường Tín (Hà Tây cũ) chắc cũng còn lại khối vật chất là phần nội tạng mà qua phim X-quang không thể phát hiện được, như chúng tôi đã đoán định từ năm 1983.
Sau khi đã tu bổ được phần thân, chúng tôi khoét phần gáy để đưa đốt sống cổ bị rời ra ban đầu. Đến độ sâu 1,3 cm bỗng chiếc đục trên tay họa sĩ Đào Ngọc Hân bật trở lại, ánh xanh của gỉ đồng lóe lên. Ngày 4.6.2004, Tỳ kheo Thích Kiến Nguyệt và chúng tôi đã chuyển nhục thân tới Bệnh viện Đa khoa Bắc Ninh để chụp phim X-quang.
Chúng tôi phát hiện thấy sau khi bồi lớp thứ nhất, người ta đã đặt một tấm đồng lớn trên lưng (chiều dài 65 cm; rộng 15 cm) và một tấm đồng trên ngực (chiều rộng 22 cm). Phía ngoài hai tấm đồng là lớp bồi dày trên dưới 1 cm. Trên đầu và bắp tay cũng được cuốn những dải băng bằng đồng có các kích thước khác nhau. Vòng quanh đầu trên hai tai là ba dải băng: một dải nhỏ 0,6 cm, hai dải lớn hơn 0,79 cm. Có ba dải băng khác từ trên đỉnh đầu dọc theo thái dương xuống sau cằm. Ba dải băng này có một dải to: 1cm và hai dải nhỏ 0,5 cm. Nhìn theo chuẩn sau có bốn dải băng to chiều rộng 2,13 cm, chạy từ cổ lên đỉnh đầu luồn qua dải băng to (vuông góc với nó) gập quay trở lại xuống cổ ở phía sau gáy. Qua phim X-quang thấy rất rõ vết gấp này. Một số dải băng khác được cuốn quanh cổ và hai dải băng có chiều ngang nhỏ: 0,4 cm chạy vòng từ nách vắt qua vai, từ trước ra sau.
Đây là hiện tượng đầu tiên ở Việt Nam. Có nhiều khả năng nó giúp cho tư thế ngồi của thiền sư vươn thẳng, tránh bị cúi gập xuống ở phần cổ, lưng và cũng có khả năng để bảo vệ hộp sọ. Lớp bồi bên ngoài nhục thân thiền sư Như Trí dày 0,66 cm, gồm hai lớp: lớp ngoài màu vàng nâu, lớp trong màu đen. Cả hai lớp thành phần đều gồm vải, sơn ta và mạt cưa... Không hề có dát vàng hay bạc như tượng thiền sư Vũ Khắc Minh. Để bảo đảm độ bền vững cho pho tượng nhục thân thiền sư Như Trí, chúng tôi đã thếp bạc trên toàn bộ pho tượng. Chúng tôi quyết định đổ khuôn làm một pho tượng thứ hai bằng composite đặt trong tháp Viên Tuệ, còn pho tượng gốc đặt tại nhà Tổ.
Ngày 27.9.2004, Thiền viện Trúc Lâm đã tổ chức lễ cầu nguyện cho thiền sư Như Trí tại chùa Duệ Khánh và làm lễ rước nhục thân về chùa Tiêu Sơn rất trọng thể. Ngày 28.9.2004, lễ khánh thành việc tu bổ và bảo quản nhục thân thiền sư Như Trí đã được tổ chức tại chùa Tiêu Sơn. Thế là một dấu son nữa lại được ghi thêm vào trang sử của ngôi chùa cổ kính này. Với riêng tôi thì có một nỗi mừng khôn tả. Vừa mừng, vừa chờ đợi và hy vọng, vì tôi chắc rằng sẽ còn ở đâu đó, trong những ngôi tháp cổ đang bị xuống cấp, những vị thiền sư khác đang "chờ" chúng tôi, lại bắt tay vào một công trình tu bổ mới...
Về thân thế sự nghiệp của thiền sư Như Trí tới nay chưa thấy sử liệu nào ghi rõ, chỉ sơ lược qua một vài tác phẩm văn Nôm mà chúng

Nhục thân thiền sư Như Trí trong khám rồng (sau khi tu bổ) - Ảnh: N.L.C
ta chưa có dịp kiểm chứng. Theo đó, Ngài cùng với một số huynh đệ có cùng chữ NHƯ, phụ giúp thiền sư Chân Nguyên sao lục ấn hành những tác phẩm của thời Trần còn sót lại trong nhân gian như: Khóa hư lục, Thánh đăng lục, Tam tổ trúc lâm, Kiến tánh thành Phật và đặc biệt là tập Thiền uyển tập anh... Theo Thượng tọa Thích Thông Phương - trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử thì: “Thiền sư Như Trí là đệ tử nối pháp của thiền sư Chân Nguyên, một thiền sư thời Hậu Lê có công phục hưng Thiền phái Trúc Lâm do sư tổ Trúc Lâm - Trần Nhân Tông mở ra và từng trụ trì chùa Long Động ở Yên Tử, nay là Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử. Hiện ở đây còn tháp đá tôn thờ thiền sư, gọi là tháp Tịch Quang. Đây là mốc lịch sử của dòng thiền Trúc Lâm. Nhiều thiền sư ra đời, những tư liệu của chư tổ được thiền sư Chân Nguyên cùng hàng môn đồ kế tiếp, biên tập, khắc in để giữ gìn, làm cơ sở sách cho người nghiên cứu. Thiền sư Như Trí đã từng khắc in lại bộ Thiền uyển tập anh năm 1715, là bộ sách rất có giá trị về văn hóa của Phật giáo Việt Nam...”.

http://phatphapchanthat.blogspot.com/search/label/z%20B%C3%AD%20m%E1%BA%ADt%20Ph%C3%A1p?updated-max=2011-07-11T07:37:00-07:00&max-results=20&start=81&by-date=false
Read more…

Những nhà tiên tri lừng danh thế giới

22:55 |
Nhà tiên tri Nostradamus

Nhắc đến các nhà tiên tri trên thế giới, người đầu tiên nhân loại nhớ đến là Nostradamus bởi khác với những nhà tiên tri khác, ông có khả năng đoán vận mệnh thế giới trong một thời gian dài, thậm chí đến vài thế kỷ. Những lời tiên đoán của Nostradamus về những biến cố trọng đại của thế giới như tật bệnh, chiến tranh, về các thiên tai khủng khiếp, hầu hết đều được chứng minh trong thực tế.

Sinh ra và lớn lên tại xứ sở của rượu vang, Nostradamus từ nhỏ đã bộc lộ những tài năng trời phú, nhất là ở bộ môn toán học, thiên văn và chiêm tinh. Tốt nghiệp trường đại học, Nostradamus trở thành một bác sĩ cho đến khi dịch hạch ập đến cướp đi tính mạng tất cả thành viên trong gia đình ông.

Rời bỏ quê hương, Nostradamus bỏ đi lang thang đến nhiều nơi trên đất nước Pháp và Ý. Mang tâm trạng u uất và đau khổ, “người đàn ông với đôi mắt sâu thẳm” đến với một niềm đam mê mới trong ngành khoa học huyền bí. Năm 1550, ông cho xuất bản “đứa con” đầu tiên trong sự nghiệp tiên tri của mình và mang lại thành công bất ngờ.



Nhà tiên tri Nostradamus (Ảnh: Elmonasterio.org)

Nostradamus tiếp tục sự nghiệp với hơn 1.000 bài thơ tứ tuyệt mà sau này đã trở thành những lời Sấm Ký của loài người. Tuy nhiên, để tránh con mắt soi xét của chính quyền, ông phải dùng biện pháp chơi chữ và các loại ngôn ngữ khác như Hy Lạp, La Tinh, Italy, Do Thái và Ả Rập…

Chính điều này đã gây khó khăn cho việc phiên dịch những lời sấm của cấc tầng lớp hậu duệ. Cuốn sách “Les propheties” (tạm dịch là “Những lời sấm”) của ông ra đời gây nhiều sự phản ứng trái ngược của công chúng. Có người cho ông là tay sai của quỹ dữ, một kẻ ngông cuồng và dối trá, song cũng có rất nhiều người ủng hộ ông, đặc biệt là tầng lớp quý tộc.

Qúy tộc khắp nơi đổ dồn về xin nhà tiên tri này những lá số tử vi và lời khuyên cho cuộc đời họ. Một trong những người vô cùng sùng mộ Nostradamus là hoàng hậu Catherine de Médicis, phu nhân của vua Henry đệ II.

Sau khi đọc quyển Niên Giám cho năm 1955 của Notradamus trong có ám chỉ một tai họa sẽ giáng xuống cho gia đình hoàng tộc, bà liền triệu ông về Paris để giảng giải tường tận, đồng thời lập lá số tử vi cho các hoàng tử, công chúa (sau này chính bà là người phong cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia). Bắt đầu từ thời điểm này, Nostradamus liên tục gây được tiếng vang lớn, khẳng định ngôi vị thứ một của ông trong ngành khoa học huyền bì thế giới.

Cái chết được nhà tiên tri báo trước của vua Henry đệ nhị

Sư tử con sẽ vượt qua sư tử già
Trong cuộc chiến chỉ có một trận đánh
Nó sẽ đâm thủng mắt từ trong lồng vàng
Hai vết thương và một cái chết thảm thương.

Đó là một trong số ít những lời sấm dễ hiểu và chính xác nhất của Nostradamus được ghi trong quyển Thế kỷ 1, câu 35. Phớt lờ lời cảnh báo về cái chết đau đớn này, vua Henry II vẫn nhận lời giao đấu với bá tước Montgomery. Cả hai người cùng đeo khiên khắc hình sư tử và Montgomery - “sư tử con” ít hơn “sư tử già” 6 tuổi. Cuộc chiến diễn ra hoàn toàn trùng khớp với lời sấm, vua Henry bị mù mắt do bị Montgomery mất đà đâm giáo vào miếng che mắt mạ vàng. Cùng với hai vết thương nặng, Henry đã phải trả giá cho việc từ chối nghe theo lời sấm của Nostradamus và ra đi sau 10 ngày nằm trên giường bệnh.

Cảnh báo việc Napoleon bại trận ở Nga

Năm 1812, được sự ủng hộ của một số quân đồng minh như Italy, Áo và Đức, Napoleon đem quân xâm chiếm nước Nga. Đội quân viễn chinh hùng mạnh này đông tới 600.000 người, tuy nhiên cũng hoàn toàn chịu bó tay khi quân đội Nga dùng chiến lược tiêu thổ, rút quân để lại những thành phố hoang tàn trơ trụi. Không còn cách nào khác, đội quân của Hoàng đế chỉ còn đường rút lui đúng lúc mùa đông lạnh giá ập đến. Kết cục quân sĩ chết rải rác dọc đường lui quân và chỉ còn sống sót vài nghìn người. Nếu như Napoleon chịu nghe theo lời cảnh báo của Nostradamos trước đó, chắc chắn đã không phải nhận kết cục thảm thương như thế. Lời sấm của Nostradamus đã cảnh báo trước rằng:

Một đội quân lớn sẽ tràn vào nước Nga
Những người bị xâm lược sẽ phá hủy một thành phố
Quân chủ lực sẽ phản công
Những kẻ chiến bại sẽ chết trên miền đất trắng.

Lời sấm về cuộc đời và số phận của Napoleon

Hoàng đế vĩ đại sẽ khởi đầu với một vị trí thấp kém
Và nhanh chóng trở nên lớn mạnh
Nơi nhỏ hẹp sẽ trở thành trung tâm
Khi ông giành được quyền lực tối cao.

Ông hoàng chiến bại bị lưu đày ở Elba
Sẽ trở về Marseilles qua vịnh Genoa
Nhưng không vượt qua được các thế lực ngoại bang
Tuy thoát chết nhưng vẫn phải đổ máu.

Tiếp sau thất bại tại Nga là những tháng ngày đen tối liên tiếp của vị hoàng đế tài ba Napoleon. Ông bị đày ra đảo Elba song vẫn không yên vì vua Louis XVIII đã cử quân đội đến để bắt giữ ông. Sau khi thu phục lại một phần quân đội của mình và chiến đấu chống liên quân nằm dưới quyền chỉ huy của Công tước Wellington, thất bại tại trận Waterloo, Napoleon tuy thoát được cái chết nhưng vẫn bị tước hết chức vị và phải đi lưu vong cho đến khi ông qua đời vào năm 1821. Có thể thấy không phải ai khác, mà chính lịch sử đã chứng nhân hùng hồn nhất cho khả năng tiên đoán thần kỳ của Nostradamos.

Vụ hỏa hoạn thảm khốc ở London năm 1966

Máu của thần công lý sẽ bao phủ London
Thành phố sẽ cháy vào năm 66
Vị phu nhân mất địa vị tối cao
Và nhiều nơi bị hủy hoại.

Vụ hỏa hoạn này cũng được Nostradamus báo trước trong Quyển Thế kỷ 2, câu 51. Đây cũng là một trong những lời sấm gây ngạc nhiên nhiều nhất vì ông còn dự đoán chính xác cả năm xảy ra thảm họa.

Có lần một quý tộc đã thử tài ông bằng cách chỉ cho ông hai con heo và hỏi tương lai của chúng. Nostradamus suy nghĩ một hồi lâu rồi bảo: “Con heo lông xám trắng sẽ bị chó sói ăn còn heo lông đen thì ngài và quan khách sẽ ăn thịt nó”. Để làm sai lời đoán, nhà quý tộc sai gia nhân giết heo trắng để đãi khách. Nhưng sau khi đã giết heo, đầu bếp mãi lo nấu các món khác, bất ngờ có một con chó sói lén tha con heo đã làm thịt, người nhà la lên đánh đuổi sói thì nó đã kéo chạy mất buộc lòng phải làm luôn con heo lông đen. Biết rõ chuyện, từ đó nhà quý tộc hết sức bái phục nhà tiên tri này.

Nostradamus còn tiên đoán được sự kiện phi thuyền con thoi của Mỹ bị nổ tung khi được phóng khỏi giàn phóng. Ông thậm chí biết trước cả ngày tháng năm ông mất (2/7/1566). Nhà tiên tri đã cho bọn đào trộm hầm mộ một phen kinh hãi khi nhìn thấy dấu tích ghi ngày tháng năm ông tạ thế trên bàn tay ông trong hầm mộ.

Về tương lai, nhà tiên tri còn cho rằng sẽ bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới thứ ba kéo dài 30 năm, bắt đầu từ năm 1999. Lúc bấy giờ Pháp là quốc gia bị thiệt hại nặng nề. Trước đó là sự xích lại gần nhau của hai siêu cường Nga, Mỹ sau cuộc thế chiến thứ 3 đầy tàn khốc, nhân loại có ai còn sống sót sẽ sống một thời gian dài thái bình an lạc. Cũng theo nhà tiên tri Nostradamus thì ngày thế giới tận thế sẽ là một ngày nào đó của năm 3979. Trước đó sa mạc Gobi sẽ biến thành biển.

Nhà tiên tri Emanuel Swedenborg

Ở Thụy Điển có một người "thấy được tương lai" nổi tiếng khác là Emanuel Swedenborg. Sinh năm 1688 và mất năm 1772, ông có hiểu biết sâu sắc ở rất nhiều lĩnh vực, từ khoa học, thiên văn, tôn giáo, toán học, lịch sử, địa chất đến đại dương, sinh học, cơ khí, vũ khí, tàu bè... Nhà tiên tri này được coi là nhà bác học của thế kỷ 18.

Ông đã làm các thành viên trong gia đình vô cùng kinh sợ khi đang dùng bữa tối, ông bỗng giật mình nói to: “Đang có trận hỏa hoạn lớn xảy ra tại Stockhom" (Stockhom là quê hương của ông). Điều kỳ lạ là nhà tiên tri này đang ở cách Stockhom những 500 km. Thậm chí, nhờ “thần nhãn” của mình, Emanuel còn biết đám cháy đã lan đến đâu, ông tả chính xác việc đám cháy bị dập tắt như thế nào và thở phào nhẹ nhõm khi “nhìn thấy” đám cháy được dập khi chỉ còn cách nhà mình vài ba ngôi nhà nữa thôi!



Khổng Minh "thần cơ diệu toán" - (Ảnh: Viettimes)

Quân sư Khổng Minh Gia Cát Lượng

Khi nhắc đến các nhà tiên đoán tương lai Trung Quốc, không thể nào không nhắc đến một nhân vật nổi danh thế giới về lĩnh vực này. Người đó chính là Khổng Minh Gia Cát Lượng. Ông là quân sư của Lưu Bị đời Tam Quốc. Gia Cát Lượng thường tiên đoán rất nhanh mọi việc bằng phép Chiêm Bốc hay Bốn Độn.

Khổng Minh là người được xem như chịu ảnh hưởng nhiều nhất về âm dương Dịch Lý trong vũ trụ. Các sách của Gia Cát Khổng Minh về phép Độn Toán còn lưu lại đến ngày nay rất nhiều cuốn Khổng Minh Thần Toán. Các tiên tri của ông còn truyền tụng mãi đến bây giờ với những hiệu quả rất lạ và đúng dù ông đoán trước cả mấy trăm năm.

Nhà tiên tri Jean Dixon

Nước Mỹ là quê hương của một phụ nữ lừng danh về đoán biết tương lai - bà Jean Dixon. Bà là một người có thế đứng trên chính trường Mỹ thời bấy giờ, lời nói của bà rất có trọng lượng. Tuy nhiên, không ai tin lời bà khi năm 1952, người phụ nữ tài ba này đưa ra một tin giật gân rằng Tổng thống Kennedy sẽ bị ám sát. Lời tiên đoán ấy mãi đến 4 năm sau mới được báo chí mới lan truyền.

Bà Dixon cố thuyết phục người thân của tổng thống là tổng thống nên bảo trọng vì ngày nguy hiểm đã gần kề. Tuy nhiên, không ai dám đưa lời tiên đoán ấy đến tổng thống vì Kennedy là một người rất ghét chuyện bói toán. Sáng 23/11/1963, Dixon cảm thấy lo lắng trong lòng, bà nôn nao hồi hộp thấy rõ và nhà tiên tri khẳng định với một người bạn tên Harley Cope rằng: “Tôi rất lo, vì hôm nay chắc chắn tổng thống sẽ bị ám sát!” Và quả thật, sự việc đã xảy ra đúng như bà Dixon đã tiên đoán; Tổng thống Kennedy đã bị ám sát.

Đại úy Becky Denlinger

Những chuyện kể trên đều là khả năng của những nhà bói toán, tiên tri. Tuy nhiên, có những người bình thường cũng có được khả năng ấy. Báo chí Mỹ đã từng đăng một tin khá lạ lùng về một nữ nhân viên kỳ cựu trong đội cứu hỏa thuộc tiểu bang Georgia, đại úy Becky Denlinger, một trong đội cứu hỏa.

Ngày 8/11/1989 trong một giấc mơ khủng khiếp, bà thấy toàn thể nhân viên trong đội cứu hỏa của mình được huy động đến cứu chữa khẩn cấp một tòa cao ốc đang bốc lửu vì bị một máy bay phản lực đâm nhào vào. Cảnh tượng thật hỗn loạn và có rất nhiều người bị thương, tiếng la hét và một tiếng nổ kinh hoàng.

Kinh hãi tỉnh dậy, mồ hôi tỏa khắp người, bà kể lại giấc mơ kỳ lạ cho các nhân viên trong đội cứu hỏa nghe. Nhiều người kết luận rằng đó là hiện tượng tự kỷ ám thị mà thôi. Nhưng chỉ sau đó không đầy một giờ, toàn bộ đội cứu hỏa của Becky Denlinger phải tức tốc lên đường cứu chữa một đám cháy lớn tại một cao ốc ở cách chỗ họ 60 km. Một phản lực của hải quân Mỹ đã bị nổ và đâm vào tòa nhà làm phát ra đám cháy lớn, khiến nhiều người bị thương và hai người thiệt mạng.

Em bé Eryl Mai Jones

Một em bé tên là Eryl Mai Jones một hôm thức giấc kể cho mẹ nghe rằng trong giấc mơ, em thấy một vật to lớn dị thường màu xám đen không biết từ đâu ập tới cày nát ngôi làng gia đình em ở. Hôm em bé nằm mơ là ngày 20/10/1966. Người mẹ cứ nghe con kể mãi chuyện cái khối đen thì bực mình bảo con nói nhảm.

Nhưng qua ngày hôm sau, 21/10, tự nhiên dân làng nghe những tiếng động phát ra làm long trời lở đất, cả ngôi làng bị những khối than đá khổng lồ đổ xuống che phủ. Nhiều người trong làng đã bị chôn vùi, một số lớn bị chết, chỉ khoảng 100 người may mắn thoát chết nhưng cũng bị thương nặng. Trong số đó có người mẹ của em Eryl Mai Jones. Điều kỳ lạ là những người sống sót cũng kể rằng, trước đó họ nằm mơ hoặc nghe người thân kể lại giấc mơ y hệt giấc mơ mà bé Erylk đã kể cho mẹ nghe.

Hân Khánh (Tổng hợp)


Theo Dân trí
http://www.khoahoc.com.vn/khampha/1001-bi-an/18824_Nhung-nha-tien-tri-lung-danh-the-gioi.aspx
Read more…

Rùng mình tiên đoán hiểm họa năm 2014, 2016?

21:18 |
Nữ tiên tri mù nổi tiếng Vanga đã nói, năm 2011, những đợt mưa phóng xạ sẽ ảnh hưởng và tiêu diệt mọi sinh vật ở Bắc bán cầu…


Bà Vanga (người Bulgari) được cả thế giới biết đến và ngưỡng mộ bởi khả năng tiên tri của mình. Sau một biến cố thuở ấu thơ, bà bắt đầu có khả năng nhìn trước được tương lai. Bà đã từng báo trước về chiến tranh và cái chết của rất nhiều người, trong đó có chồng bà.

Nữ tiên tri Vanga từng tiên đoán năm 2011, những đợt mưa phóng xạ ảnh hưởng và tiêu diệt mọi sinh vật ở Bắc bán cầu. Tiếp đó, người Hồi giáo sẽ tiến hành cuộc chiến tranh hóa học chống lại những người châu Âu còn sống sót.

Hai tiên đoán về thế giới vào năm 2011 đang trở thành hiện thực?

Mưa phóng xạ liệu có phải là ngụ ý nói đến thảm họa hạt nhân đang xảy ra ở Nhật Bản. Từ sau khi nhà máy điện hạt nhân số 1 Fukushima phát nổ hôm 12/3, đám mây phóng xạ lúc đầu di chuyển về phía đông ra Thái Bình Dương nhưng rồi ngoặt về phía tây, phía lục địa Á - Âu tức là về phía Bắc bán cầu. Và sự thực là điều này đã khiến rất nhiều quốc gia lo lắng trước tình trạng nhiễm phóng xạ, loài người cẩn trọng hơn với thực phẩm và các loại thực vật.

Còn cuộc chiến tranh hóa học? Đó có phải là cuộc chiến hiện đang diễn ra ở Libya, nơi một bên là liên quân các nước châu Âu và Mỹ và một bên là quân đội Libya đang giao chiến kịch liệt với nhau. Nhà lãnh đạo đất nước Libya, ông Gaddafi đã gọi những kẻ đang tấn công đất nước ông là đội quân Thập tự chinh và cam kết sẽ dùng mọi phương tiện để chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng, kể cả là vũ khí hóa học có sức hủy diệt khủng khiếp.

Báo chí phương Tây đã nói rằng, ông Gaddafi có vũ khí hoá học là điều chắc chắn. Điều gì sẽ xảy ra khi ông và quân đội của ông bị dồn vào bước đường cùng? Một cuộc chiến tranh với các loại vũ khí hóa học của người Hồi giáo chống lại người châu Âu - những người “láng giềng” ở ngay phía bên kia Địa Trung Hải xảy ra là điều rất khó tránh khỏi.

Nếu những điều đó thực sự xảy ra, lời tiên đoán tiếp theo về thế giới năm 2014 sẽ là một bức tranh toàn màu xám với đa số người sẽ bị mụn nhọt, ung thư da và những căn bệnh khó hiểu khác do hậu quả của chiến tranh hóa học. Tiếp đó là năm 2016 “châu Âu sẽ trở nên trống vắng”…


Theo Vietnamnet
Read more…

Lý thuyết của Einstein chứng minh ma có thật?

19:58 |
Những người săn ma tin rằng sự tồn tại của ma có thể được khẳng định bằng lý thuyết về năng lượng của Albert Einstein.

Hằng đêm, nhiều nhóm săn ma trên thế giới vẫn lùng sục khắp các nhà kho, nhà bỏ hoang hay nghĩa địa để tìm ma. Họ thường mang theo các thiết bị điện tử mà họ tin là có thể giúp xác định nguồn năng lượng ma quỷ.

Dù các nhóm săn ma nỗ lực tìm kiếm nhiều năm nay, chúng ta vẫn chưa có bằng chứng chắc chắn khẳng định sự tồn tại thực sự của ma quỷ. Nhiều người săn ma tin rằng sự tồn tại của ma có thể được khẳng định bằng vật lý học hiện đại. Đặc biệt, Albert Einstein, một trong những nhà khoa học lớn nhất mọi thời đại, cung cấp nền tảng khoa học cho sự tồn tại thực sự của ma quỷ.

Tìm kiếm trên Google cho thấy gần 8 triệu đường dẫn đến các trang đề cập tới mối liên hệ giữa ma và lý thuyết của Einstein về năng lượng. Sự khẳng định này cũng được nhiều chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này nhắc đến. Ví dụ, nhà nghiên cứu về ma quỷ John Kachuba, trong cuốn sách “Ghosthunters” (Những người săn ma, 2007), có viết: “Einstein chứng minh rằng mọi năng lượng trong vũ trụ là không đổi, và nó cũng không tự nhiên sinh ra hay mất đi… Vậy thì điều gì xảy ra khi con người chết đi? Nếu năng lượng của chúng ta không bị mất đi thì phải được chuyển hóa thành dạng năng lượng khác. Loại năng lượng mới đó là gì? Liệu chúng ta có thể gọi đó là ma hay không"?

Nhóm nghiên cứu về ma mang tên Tri County Paranormal nói: “Albert Einstein nói rằng năng lượng không thể được tạo ra hay bị phá hủy, nó chỉ có thể chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Khi chúng ta còn sống, chúng ta có năng lượng điện trong cơ thể… Điều gì xảy ra với nguồn năng lượng giúp tim chúng ta đập và phổi hô hấp sau khi con người chết đi"? Trả lời câu hỏi này thật không dễ dàng.

Tuy nhiên, câu trả lời lại rất đơn giản. Sau khi một người chết đi, năng lượng từ cơ thể người đó tỏa ra môi trường. Năng lượng cơ thể sau khi con người chết đi được giải phóng dưới dạng nhiệt, và được chuyển sang những động vật ăn xác người (ví dụ, những động vật hoang dã ăn xác người nếu người chết không được chôn cất, hay những côn trùng, vi khuẩn ăn xác sau khi tử thi được chôn), và những thực vật hấp thu chúng ta. Nếu con người được hỏa táng, năng lượng trong cơ thể được giải phóng dưới dạng nhiệt và ánh sáng.

Khi con người ăn thực vật và động vật, chúng ta hấp thu năng lượng của chúng và chuyển sang năng lượng để cơ thể con người sử dụng. Thức ăn được chuyển hóa sau khi cơ thể con người tiêu hóa, và các phản ứng hóa hóa giúp giải phóng năng lượng mà động vật cần để sống, di chuyển và sinh sản… Năng lượng đó không tồn tại dưới dạng sống, năng lượng ma hay điện từ, mà tồn tại dưới dạng năng lượng nhiệt và hóa học.

Nhiều người săn ma nói rằng họ có thể phát hiện ra điện trường mà ma quỷ tạo ra. Thực tế là những quá trình chuyển hóa của con người và những sinh vật khác cũng tạo ra những dòng điện yếu, nhưng những dòng điện này mất đi sau khi sinh vật chết. Vì khi nguồn năng lượng bị mất thì dòng điện cũng ngừng – giống như bóng đèn ngưng sáng sau khi chúng ta ngắt công tắc điện để tắt nguồn điện cung cấp.

Hầu hết năng lượng mà người chết để lại được tái nhập vào môi trường sau nhiều năm dưới dạng thức ăn; phần còn lại bị tiêu tan đi ngay sau khi chúng ta chết, và đây không phải là dạng mà chúng ta có thể phát hiện ra sau nhiều năm nhờ các thiết bị săn ma phổ biến hiện nay, như máy phát hiện điện trường (EMF). Những người săn ma viện dẫn lý thuyết của Einstein thực ra chỉ chứng tỏ họ hiểu biết chưa sâu sắc về khoa học cơ bản. Ma quỷ có thể thực sự tồn tại, nhưng bản thân Einstein hay lý thuyết của ông không khẳng định ma quỷ là có thật.


(Theo Đất Việt)
Read more…

Nostradamus có thật sự đoán được tương lai?

19:41 |
Nostradamus (1503 - 1566) thường được coi là nhà tiên tri xuất chúng nhất mọi thời đại, với khả năng tiên đoán chính xác hầu hết các sự kiện quan trọng có ảnh hưởng đến lịch sử thế giới, dù nó xảy ra hàng trăm năm sau khi ông qua đời.

Những lời tiên tri

Thế nhưng, lại có một số quan điểm cho rằng những tiên đoán của Nostradamus thực ra chỉ là sự suy diễn của người đời sau, hay thậm chí là do trùng hợp ngẫu nhiên.

Toàn bộ những câu sấm của Nostradamus được lưu truyền cho đến ngày nay đều nằm trong bộ sách Những lời tiên tri (Les Prophéties), được xuất bản lần đầu từ năm 1555 đến 1558. Khi đó, bộ sách gồm 10 chương, mỗi chương là 100 lời tiên đoán được viết dưới dạng một bài thơ tứ tuyệt. Nhưng khi tái bản năm 1568 (sau khi Nostradamus đã qua đời) thì chỉ còn 9 chương đầu là đủ 100 bài thơ. Riêng chương cuối cùng chỉ còn 42 bài.


Theo những người hâm mộ Nostradamus thì trong bộ sách này, nhà tiên tri đã dự báo trước hầu hết các sự kiện lớn xảy ra từ thế kỷ 16 trở về sau, từ những biến cố lịch sử như Cách mạng Pháp, hai cuộc Đại chiến thế giới thứ I và thứ II; cho đến vai trò của những cá nhân đặc biệt như Napoleon Bonaparte, Hitler, cái chết của công nương Diana; hay thậm chí cả những thành tựu khoa học kỹ thuật nổi bật như việc tàu Apollo đáp xuống mặt trăng…

Nhưng điều đáng nói là ở chỗ, tất cả những lời tiên tri này đều được diễn đạt một cách mơ hồ, khó hiểu. Nostradamus hầu như không bao giờ chỉ rõ thời gian, địa điểm xảy ra các sự kiện nên chẳng ai có thể dựa vào những lời tiên tri của ông mà đoán biết trước được điều gì sắp đến. Trong hầu hết các trường hợp, người ta chỉ có thể sử dụng chúng để chiêm nghiệm sau khi sự việc đã diễn ra.

Tình cờ mà đúng?

Chính cách diễn đạt mơ hồ, thiếu thời gian và địa điểm cụ thể trong phần lớn các lời tiên tri là lý do khiến một số ý kiến cho rằng Nostradamus chỉ đúng do… tình cờ.

Ông đưa ra tới gần 1.000 tiên đoán, mà trong gần 500 năm từ đó đến nay, đã có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn sự kiện trọng đại xảy ra. Vậy thế nào chẳng có những sự kiện tình cờ trùng với những gì Nostradamus đã viết. Hơn nữa, rất nhiều lời tiên tri của ông đề cập đến chiến tranh, thiên tai, chết chóc, những vấn đề thường gặp của lịch sử. Thế nên, khả năng trùng hợp lại càng cao.


Cuốn sách ghi lại những lời tiên tri của Nostradamus
Cũng chính vì cách viết mơ hồ, bí hiểm mà tiên tri của Nostradamus có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy theo suy diễn chủ quan của người đọc. Đó là chưa kể đến việc dịch lại các ghi chép của ông từ tiếng Pháp cổ thế kỷ 16 sang các ngôn ngữ hiện đại sau này cũng làm cho ý nghĩa ban đầu rơi rụng đi ít nhiều.

Ví dụ như lời tiên tri thứ 97 của chương thứ 6 trong bản tiếng Anh là: Ở 45 độ bầu trời bốc cháy/ Lửa bao trùm thành phố mới… Một số người cho rằng đây là tiên tri về vụ khủng bố 11/9 ở Mỹ: tâm điểm là thành phố New York (New: mới), đám cháy xuất phát từ trên không (do máy bay đâm vào cao ốc) và vĩ độ của New York là 40 độ 5 phút Bắc (khá gần với 45 độ). Tuy nhiên, nếu đọc bản gốc bằng tiếng Pháp sẽ thấy Nostradamus dùng từ “Villeneuve”.

Từ này vừa có thể hiểu là “thành phố mới”, nhưng đồng thời lại là tên một thị trấn nằm ở ngoại ô Paris, có vĩ độ gần 45 độ Bắc. Như vậy, rất có thể Nostradamus muốn ám chỉ một sự kiện nào đó xảy ra ở thị trấn này chứ không phải là vụ 11/9.

Tương tự, lời tiên tri thứ 24 chương 2 viết: Con dã thú đói khát sẽ vượt qua sông/ Phần lớn hơn trên chiến trường sẽ chống lại Hister... Đây vẫn được coi là những câu tiên tri nổi tiếng về Hitler. Nhưng trên thực tế, vào thời của Nostradamus, Hister lại là một địa danh nằm gần hạ lưu sông Danube. Có ý kiến cho rằng đây mới chính là điều Nostradamus định nói đến.

Theo Bee - (khoahoc.com.vn)
Read more…

Người phụ nữ có nhiều khả năng kỳ lạ

19:52 |
Bà Culaghina (1926 – 1990) chỉ làm công việc nội trợ gia đình, chăm sóc ba con, nhưng mỗi khi chạm tay vào da thịt ai là có thể gây bỏng cho người đó. Nhiều người cho rằng, bà khó khả năng phóng ra nhiệt cao.

Minh chứng là khi Giáo sư Y.Cođarez đề nghị Culaghina chữa giúp chứng viêm rễ thần kinh vùng thắt lưng, bà đỏ mặt lên và “đốt” cho ông một phát vào chỗ đau. Vợ ông đã cạo ra từ vết bỏng một thìa cà phê những chất muối natri và kali thông thường vẫn có trong cơ thể con người. Ngoài khả năng này, bà Culaghina còn có thể xê dịch các vật dụng như dịch chuyển chiếc bút máy, làm quay kim la bàn, làm nghiêng bàn cân…
Điều khiển mọi vật từ xa
Khoảng ba mươi năm trước, tại Liên Xô (cũ), người ta phát hiện bà Culaghina, vợ một kỹ sư đóng tàu, chỉ làm nội trợ gia đình, chăm ba con, nhưng cứ chạm tay vào da thịt ai là có thể gây bỏng cho người đó, rồi hút ra được cả bệnh tật. Bà có thể xê dịch các vật dụng như chuyển chỗ bút máy, làm quay lại kim la bàn, làm nghiêng bàn cân… Đã có rất nhiều nhà báo đến đưa tin, nhiều nhà khoa học đến nghiên cứu về chuyện lạ của Culaghina.
Chồng bà là kỹ sư Culaghin đã tự thực hiện một bộ phim tài liệu về người vợ yêu quý của mình. Khả năng kỳ lạ của bà mỗi ngày một lan xa, người từ Mỹ, Nhật Bản, Úc, Tây Âu… kéo đến để tận mục sở thị tài năng của bà ngày một nhiều. Một hãng truyền hình Nhật Bản cũng đã trả cho Liên Xô 15.000 đô la để được Nhà nước giúp họ quay một bộ phim về Culaghina.

Bà có thể dùng năng lượng nhân điện nâng nhiều vật lên không trung mà không cần chạm vào.
Có lần khi Culaghina mở một ngăn tủ trong phòng, chiếc ngăn tủ bị hỏng rồi bung ra khiến mọi thứ văng ra tung tóe. Culaghina tỏ ra vô cùng bực tức. Cùng lúc đó, những ngọn đèn trong phòng cứ bật rồi tắt, bật rồi tắt liên tục, những đồ vật rơi dưới đất bỗng “nhảy múa” – nói chính xác thì chúng gắn chặt lấy Culaghina. Cũng kể từ đó, bà phát hiện ra một sự thật kỳ diệu: bà có khả năng điều khiển mọi vật.
Đầu những năm 1980, hiện tượng Culaghina được Giáo sư Y. Cođarez cùng Giáo sư P.Gulaez nghiên cứu. Trong buổi thí nghiệm đầu tiên, Culaghina lấy một chiếc la bàn và huơ tay lên phía trên. Một lát sau, kim la bàn động đậy, bà nói: “Đây là bước khởi động”. Để tránh có sự dẫn điện nào đó nhằm tìm ra một câu trả lời chính xác, Giáo sư P.Gulaez đã đặt lên mặt la bàn có trải vải nhựa một chiếc nắp bút bằng kim loại. Sau khi huơ tay vài lần, Culaghina lại làm cho nó chạy theo tay bà đến tận mép bàn…
Từ thực tế này, Giáo sư P.Gulaez cho rằng Culaghina đã “gồng” rất mạnh để tạo ra dòng điện mạnh tới hàng trăm kilôvôn. Vì vậy, lần hẹn sau, Y.Cođarez chuẩn bị sẵn một vôn kế điện tĩnh, rồi đấu nó với nắp bút bằng một sợi dây dẫn dài và vứt lên đèn chùm. Culaghina lại làm cho nắp bút chuyển động như lần trước, nhưng vôn kế không hề nhúc nhích.
Y.Cođarez đã bị Culaghina chinh phục, ông nói: “Tôi có cảm tưởng là để giải thích hiện tượng Culaghina, chỉ có một cách duy nhất là thừa nhận rằng con người có thể tác động lên quy luật của không gian và thời gian bằng sức mạnh của ý chí”.
Để nhiều nhà khoa học được chứng kiến, người ta đã tiến hành tiếp hàng loạt thí nghiệm tại căn phòng rộng của Viện sĩ I. Kicôin. Tại đây, Culaghina đã làm sửng sốt nhiều nhà bác học bằng cách điều khiển cho chiếc ly nhỏ chuyển động mà không cần tới bất cứ một “sợi chỉ” nào.
Chạm tay vào đâu, chỗ đó cháy xém và “hút” ra bệnh
Culaghina còn khiến mọi người đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác bằng thuật điều động từ xa. Đứng trên bục, Culaghina sẵn sàng chiều những khán giả nào muốn bà cho một “liều bỏng”.
Để có thể chạm tay vào đâu là chỗ đó cháy xém rồi “hút” ra bệnh thì việc chuẩn bị rất tốn thời gian, có khi mất hàng giờ đồng hồ. Nói cách khác, Culaghina nói rằng bà phải xóa hết các ý nghĩ khác khỏi đầu mình thì mới phát huy khả năng được. Ngoài ra, mỗi lần như vậy bà phải chịu những cơn đau nhức dọc xương sống, mắt cũng mờ đi… Giáo sư Y.Cođarez đã làm bài kiểm tra với Culaghina.
Khi Giáo sư Y.Cođarez đề nghị Culaghina chữa giúp chứng viêm rễ thần kinh vùng thắt lưng, bà đỏ mặt lên và “đốt” cho ông một phát vào chỗ đau. Vết bỏng của ông nặng đến nỗi mấy ngày sau vẫn chưa liền. Trên vết bỏng ấy, có những hạt ánh như thể được phủ bởi một lớp tinh thể nhỏ li ti. Về sau, vợ nhà khoa học này đã cạo ra ở vết bỏng đó một thìa cà phê những chất như thể muối. Kết quả xét nghiệm cho thấy, đó là loại muối natri và kali thông thường vẫn có trong cơ thể con người.
Giáo sư Y.Cođarez đã miêu tả lại cảm giác khi Culaghina huơ đôi bàn tay của mình vài lần rồi đặt lên chỗ đau đó: “Đôi bàn tay của Culaghina như viên gạch nóng áp vào lưng người tôi. Cảm giác nóng mỗi lúc thêm tăng, chỉ một lát sau chỗ Culaghina đặt tay nóng ran, y như bị bỏng. Vừa day ấn bà ấy vừa thổi ‘phù phù’, gần giống người học huýt sáo để “thu năng lượng. Do sự hiện diện của luồng hạt nhân.
Trong quá trình nghiên cứu, Giáo sư Y. Cođarez bỗng nảy ra sáng kiến, thử nghe những xung điện phát ra từ bàn tay của Culaghina xem sao. Kết quả là ông đã nghe thấy bằng tai, những âm thanh hỗn loạn khi Culaghina “gồng”. “Gồng” càng mạnh thì tiếng phát càng nhanh. Giáo sư Y. Cođarez đã nhiều lần xác minh lại xung âm mà ông tìm ra, nhưng vẫn chưa dám tin rằng tay người có thể phát ra xung âm. Hiện tượng “động từ xa” ở Culaghina là do bàn tay của bà phát ra những siêu âm, đây là một phát hiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, liên quan đến sinh học, sinh lý học, và y học.
Đôi bàn tay của Culaghina còn phát quang và sự bức xạ này được ghi nhận bằng một dụng cụ: đó là một máy khuyếch đại quang điện tử và một máy ghi chỉ số. Để ghi lại tác động đối với máy khuyếch đại quang điện tử, tay của Culaghina sẽ được giữ chặt ở bên trên, tất cả đều được che kín để đảm bảo hoàn toàn tối. Trời nóng làm tay bà vã mồ hôi nên máy vẫn không nhúc nhích. Culaghina lo lắng, bà ra sức “gồng”.
Cuối cùng con số hiện ra và bắt đầu lớn dần. Hết con số chín, nó nhẩy vọt lên gấp hàng nghìn lần của dòng tối. Mọi người đều có cảm giác là bà Culaghina đã đuối sức, nhưng bà không dừng lại được, ngay cả khi có lệnh ngừng.
Ngoài ra, Culaghina còn có thể phát ra xung lượng điện này và các xung âm kể trên là hai mặt của một quá trình.
Trong cả hai trường hợp, khi tay của bà phóng ra những hạt, sau khi mới đi được một đoạn đường ngắn thì đã đập ngay vào màng rung của micrô. Một trong hai khả năng để giải thích cho điều này là: hoặc bản thân các hạt này mang điện tích, hoặc chúng làm ion hoá không khí. Khi rơi vào mặt phẳng kính, chúng làm kính bị mờ, rơi vào bề mặt da, chúng tạo ra ở đó những tinh thể cực nhỏ, kích thích các đầu cuối thần kinh, gây xung huyết bất thường và tạo bỏng giống như cao mù tạc.
Tiếp tục tiến hành các thử nghiệm, Culaghina khiến tất cả giới chuyên môn lẫn những người xung quanh đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Culaghina còn có khả năng làm chua nước, và rõ ràng là những hạt phóng ra từ bàn tay ưa nước, vì thế nó dễ bị hấp thụ và tan vào nước.
Sự hiện diện của luồng hạt nhân này là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, để có được những luận chứng khoa học về thuật điều động từ xa, cần phải đo cơ thể, tính toán các điện trường và khẳng định được rằng hiệu điện của chúng đảm bảo làm xuất hiện các hạt đủ mạnh, để dịch chuyển các đồ vật có trọng lượng đã định trong trường lực.
Người có năng lượng nhân điện quá lớn
Năm 1982, Trung tâm thí nghiệm sinh học bằng phương pháp vô tuyến điện tử, khẳng định Culaghina có khả năng làm tăng khá lớn tính dẫn điện của không khí xung quanh lòng bàn tay mình. Bàn tay bà có thể phát ra ánh sáng và cả âm thanh. Hiện tượng huỳnh quang mạnh đến mức có thể nhìn thấy bằng mắt thường và âm thanh phát ra lớn ngang bằng tiếng động do cá heo phát ra, có thể nghe được mà không cần tăng âm. Hiện tượng Culaghina ngày nay được các nhà vật lý, hóa học, y học nghiên cứu rộng rãi và người ta nhận thấy nhiệt phát ra từ bàn tay Culaghina có tác dụng chữa bệnh đáng ngạc nhiên.
Khoa học hiện đại chỉ ra rằng, trong cơ thể con người ai cũng có nhân điện tối thiểu mới khỏe mạnh không bệnh tật, người có ít người có nhiều, năng lượng nhân điện ấy được cung cấp từ thức ăn và hơi thở. Khi năng lượng dư thừa, nó phát ra bàn tay ấm nóng, nếu dư quá hóa nhiệt làm cao áp huyết.
Nhân điện được cảm nhận bằng nhiệt, nếu bàn tay ấm nóng, mà không có bệnh tim mạch áp huyết hay táo bón, đó là người có nhiều nhân điện. Ngoài cách giải thích bằng ion, người ta còn gọi là tĩnh điện, sẽ trở thành động điện khi bàn tay di chuyển nhanh. Đó là nhân điện tự nhiên không do tập luyện, không chữa bệnh được sẽ bị hao mất điện.
Còn nhân điện do luyện tập có nhiều cách khác nhau và có nhiều trình độ khác nhau: lúc đầu dạy cho người ta vô tâm (chân không, ở thể tĩnh điện), người bệnh thiếu năng lượng thì hút vào, dư năng lượng thì nhả ra, bắt buộc phải tập thiền mới thu nạp được năng lượng nhiều. Một người thiền đúng có rất nhiều năng lượng, nhân điện chỉ là một phần trong số năng lượng ấy.
Tập khí công chuyển hóa khí âm (hơi thở, và khí của thức ăn) thành khí dương, từ khí dương tích lũy chuyển hoá thành điện âm, dư thừa nữa thì khí dương và điện âm chuyển hóa thành điện dương, là điện năng, có những cách tập mà con người dùng tay làm cháy sáng bóng đèn tức là điện sinh quang, hoặc đốt cháy tờ giấy, là điện sinh hỏa, ngoài ra điện phát sinh ra điện từ trường, có thể phát sóng từ trường, cao hơn nữa nhận được sóng thông tin tầm xa ngoài không gian vào não bộ để xử lý.
Trường hợp của Culaghina được xét vào người đặc biệt có năng lượng nhân điện rất lớn. Nguồn năng lượng điện này có thể làm cháy xém da thịt, “cạo” ra bệnh và điều khiển mọi vật dụng từ xa.
Những khả năng tổng hợp ở Culaghina đã được các nhà khoa học thời đó kiểm tra bằng vô số các phép thử ngày càng khó khăn hơn. Kết luận cuối cùng: đây là một khả năng đặc biệt có một không hai trong lịch sử hiện đại. Tuy nhiên, một số người vẫn tranh cãi xung quanh khả năng của người phụ nữ này. Ngày nay, mặc dù khoa học hiện đại rất phát triển nhưng vẫn chưa tìm ra được lời giải thích xác đáng cho hiện tượng kỳ lạ của bà Culaghina.
Theo ĐS&PL
Nguồn: VTC News (Ngày 23/9/2011)


Thông tin tham khảo thêm: (tiếng Anh)


http://en.wikipedia.org/wiki/Nina_Kulagina

(http://phatphapchanthat.blogspot.com/2011/10/nguoi-phu-nu-co-kha-nang-phong-ra-lua.html)

Read more…

Charles Robert Darwin

20:22 |
1809 là năm chào đời của các danh nhân trên thế giới như Abraham Lincoln, vĩ nhân giải phóng nô lệ, Charles Darwin, nhà sinh vật học lừng danh, William Gladstone, Thủ Tướng của nước Anh, Felix Mendelssohn, nhạc sĩ tài hoa, các thi nhân như Edgar Allen Poe, Elizabeth Bannett Browning, Alfred Tennyson.

Trong số các danh nhân kể trên và trong số hàng triệu người ra đời trong thể kỷ 19, ngoại trừ Karl Marx, Charles Darwin đã làm thay đổi các khuynh hướng tư tưởng của Nhân Loại, tạo nên một hướng nhìn mới.
Cuốn sách “Về Nguồn Gốc của các Chủng Loại do Cách Chọn Lựa Tự Nhiên” (On the Origin of Species by Means of Natural Selection) của Charles Darwin đã là một khúc quanh của nền Khoa Học mới, tạo nên một lý thuyết gây chấn động cho tới thời gian gần đây, ảnh hưởng sâu đậm không chỉ vào phạm vi suy nghĩ khoa học mà còn tới các địa hạt Triết Học, Tôn Giáo và các ngành tư tưởng khác.

Ngày nay, các nguyên tắc căn bản của lý thuyết Darwin hầu như được toàn thế giới khoa học chấp nhận nhưng khởi đầu, lý thuyết này đã gây nên sóng gió trong gần một thế kỷ. Khởi đầu vào năm 1860 là vụ tranh luận tại thành phố Oxford, với rất nhiều cuộc tranh cãi khác rồi tới năm 1925 là “vụ kiện con khỉ” (Monkey trial) tại tiểu bang Tennessee, Hoa Kỳ, và các tranh luận chỉ nguôi dần qua thời gian.

Charles Robert Darwin (12/02/1809 — 19/04/ 1882

1/ Vụ kiện “Con Khỉ”.

Vào năm 1925, tiểu bang Tennessee của Hoa Kỳ thông qua Đạo Luật Butler (the Butler Act) cấm đoán việc giảng dạy Thuyết Tiến Hóa tại các trường học trong tiểu bang. Các chống đối đã diễn ra và một vụ kiện được đưa ra trước Công Lý. Bị lôi ra trước Tòa là ông John T. Scopes, 24 tuổi, giáo sư Khoa Học và ông bầu của đội banh bầu dục. Ông Scopes thú nhận rằng mình đã vi phạm luật do giảng dạy lý thuyết của Charles Darwin. Vì vậy vào tháng 7 năm đó đã xẩy ra “vụ kiện Scopes con khỉ” (Scopes Monkey Trial) mà các nhà sử học về Luật Pháp coi đây là vụ án của thế kỷ.

Vụ án này là tiêu đề lớn nhất trên toàn quốc Hoa Kỳ, đã chế ngự mọi loại thông tin, các báo chí, các hệ thống truyền thanh, đã làm sáng tỏ các lý lẽ liên quan tới Hiến Pháp Hoa Kỳ, tương tự như vấn đề ngăn cách Nhà Thờ và Quốc Gia (separation of church and state), như nền tự do học vấn (academic freedom) cũng như việc diễn đạt Tu Chính Án Thứ Nhất (the First Amendment). Nhưng chính các nhân vật trong vụ tranh cãi đã khiến cho vụ án trở nên một màn kịch.

Luật sư bên bị là ông Clarence Darrow, đã đối đầu với một nhân vật đã từng ba lần làm ứng viên Tổng Thống và cũng là một tín đồ Thiên Chúa Giáo thuần thành, đây cũng là nhà hùng biện danh tiếng William Jennings Bryan. Sau khi quan tòa ngăn cản việc đưa ra nhân chứng là các chuyên gia khoa học, luật sư Darrow đã kêu gọi công tố viên Bryan đứng làm chuyên gia về Thánh Kinh. Trong sức nóng bức của tháng 7, ông Darrow không ngừng đặt các câu hỏi về Thánh Kinh khiến cho cuối cùng ông Bryan phải thú nhận rằng “sự sáng tạo ra con người có thể cần tới hàng triệu năm” mà không phải chỉ trong 6 ngày, theo như Sách Sáng Thế (Genesis). Như vậy nhiều người đã tin rằng luật sư bên bị đã thắng vẻ vang về lý thuyết Tiến Hóa. Chiến thuật của bên bị là đặt vấn đề bất hợp hiến của Đạo Luật Butler, còn bên nguyên truy tố ông Scopes đã vi phạm luật. Cuối cùng bồi thẩm đoàn kết luận rằng ông Scopes “phạm tội” (guilty), đây chính là điều bên bị mong muốn! Bản án “phạm tội” này được chống án lên Tòa trên, là nơi sẽ tiêu hủy Đạo Luật Butler chống Thuyết Tiến Hóa. Tuy nhiên việc chống án chỉ được xét xử vào năm 1967 trong khi các hội đồng giáo dục của vài tiểu bang Hoa Kỳ đã bỏ thăm không đề cập tới Thuyết Tiến Hóa trong các câu hỏi thi trắc nghiệm khi mà việc giảng dạy lý thuyết này còn trong vòng tranh cãi.

2/ Thời kỳ đi học và đi khảo sát của Charles Darwin.

Charles Darwin 7 tuổi
Charles Robert Darwin là cháu của hai người ông danh tiếng và giàu có sống trong thời đại Victoria của nước Anh. Ông nội Eramus Darwin là một vị thầy thuốc và nhà tư tưởng phóng khoáng, còn ông ngoại Josiah Wedgwood là nhà sáng lập lò gốm Wedgwood và cũng là một nhân vật hàng đầu trong cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ tại nước Anh. Cha của Charles Darwin là ông Robert Darwin, một bác sĩ tài giỏi còn mẹ là bà Susannah Wedgwood. Charles Darwin chào đời vào ngày 12 tháng 2 năm 1809 trong gia đình có người anh Eramus lớn hơn 4 tuổi. Gia đình này sống trong một tòa nhà lớn bên ngoài thị xã Shrewsbury.

Khi còn nhỏ tuổi, Darwin không tỏ lộ một hứa hẹn nào rằng sau này sẽ trở nên một nhà khoa học lừng danh trên thế giới. Tuy xuất thân từ một gia đình gồm các học giả và nhà chuyên môn nhưng Darwin không phải là một học sinh xuất sắc. Tại trường tiểu học, cậu Charles chán nản trước tiếng La Tinh và chương trình giáo dục cổ điển kém uyển chuyển. Cậu bị vị hiệu trưởng trách mắng vì đã phí thời giờ vào các thí nghiệm hóa học hay vào công việc thu thập các côn trùng, các mẫu đá. Theo bước chân của cha, Charles được gửi tới trường Đại Học Edinburg vào tuổi 16 để theo học Y Khoa. Sau hai năm học tại trường này, cậu nhất định rằng ngành Y không thích hợp nên được chuyển sang Đại Học Cambridge để sau này phục vụ cho Nhà Thờ Anh Cát Giáo.

Charles Darwin đã coi ba năm dài tại trường đại học sau này là phí phạm thời gian nhưng dù thế, Darwin đã hưởng lợi to lớn nhờ quen biết hai vị thầy nhiều ảnh hưởng, đó là ông John Stevens Henslow, giáo sư môn Thực Vật, và ông Adam Sedgwick, giáo sư môn Địa Chất. Nhờ hai vị thầy này chỉ dẫn, Darwin đã trải qua nhiều thời giờ trong các cuộc du khảo, thu lượm các loại côn trùng và thực tập cách quan sát thiên nhiên.

Tầu H.M.S. Beagle
Nhờ sự giới thiệu của Giáo Sư Sedgwick, Darwin được đề nghị đảm nhận chức vụ nhà tự nhiên học (naturalist) trên con tầu hải quân Beagle đi thực hiện một chuyến khảo sát kỹ càng miền nam bán cầu. Tầu H.M.S. Beagle là một con tầu nhỏ, dài 90 ft, rộng 24 ft nên căn phòng dành cho Darwin rất chật hẹp. Nhiều năm về sau khi nhìn lại cuộc hành trình này, Darwin đã coi đây là “một biến cố quan trọng nhất trong đời của tôi”. Trong 5 năm trường từ 1831 tới 1836, con tầu biển Beagle đã ghé vào hầu như tất cả các lục địa và các hòn đảo chính khi nó chạy vòng quanh trái đất. Darwin đã phục vụ bằng các công việc của nhà địa chất, nhà thực vật, nhà động vật và một nhà khoa học tổng quát, đây là một chuẩn bị đầy đủ dành cho cuộc đời khảo cứu và viết sách của ông sau này. Tại mỗi nơi đi qua, Darwin đều thu lượm thật nhiều cây cỏ và thú vật, các vật hóa thạch và các sinh vật, các hình thức sống trên mặt đất hay dưới biển. Ông đã nghiên cứu bằng con mắt của một nhà tự nhiên học các hệ thực vật và hệ động vật (the flora and fauna) của nhiều miền đất và miền biển, tìm kiếm thật nhiều mẫu vật trên các cánh đồng hoang của xứ Argentina, trên sườn núi khô cằn của rặng núi Andes, nơi các hồ muối hay các sa mạc của xứ Chile và Australia, trong rừng rậm của xứ Brazil, Tierra del Fuego và Tahiti, trên hòn đảo Cape Verde trơ trụi. Các nơi khảo sát của Darwin còn là các cấu tạo địa chất của bờ biển và miền núi Nam Mỹ, các ngọn núi lửa đang hoạt động hay đã tắt trên các hòn đảo hay đất liền, các đảo san hô, các hóa thạch của động vật có vú nơi miền Patagonia, các dấu vết suy tàn của con người tại Peru và cả các thổ dân của miền Tierra del Fuego và Patagonia.

Nhưng qua tất cả các miền đã từng thăm viếng và khảo cứu, không nơi nào gây ấn tượng mạnh tới Darwin hơn quần đảo Galapagos, nằm cách bờ biển Nam Mỹ 500 dặm về phía tây. Trên hòn đảo cô liêu, không người cư ngụ này, chỉ gồm các ngọn núi lửa trơ trụi, Charles Darwin đã nhìn thấy các con rùa khổng lồ, các con thằn lằn thực to lớn chưa từng thấy trên thế giới, các con cua và sư tử biển quá cỡ. Ông cũng đặc biệt nhận thấy rằng các con chim tại nơi đây tương tự như thứ chim trên các hòn đảo bên cạnh nhưng không giống hệt. Ngoài ra đã có sự thay đổi trong các loại chim khác nhau từ hòn đảo này sang hòn đảo khác.

Hiện tượng lạ lùng của các sinh vật trên quần đảo Galapagos cộng với các sự kiện chắc chắn đã được ghi nhận trước kia tại miền Nam Mỹ đã tăng cường các ý tưởng về tiến hóa bắt đầu hình thành trong đầu óc của Darwin. Ông Darwin đã ghi trong sổ tay như sau: “tôi đặc biệt ngạc nhiên thứ nhất vì các hóa thạch của động vật có vẩy như loại armadillo hiện có, thứ hai vì cách thức các động vật liên hệ gần đã thay thế nhau trên lục địa khi đi dần về phía nam và thứ ba, các sinh vật đổi thay khác nhau đôi chút trên các hòn đảo Galapagos dù cho các đảo này không rất cổ theo ý nghĩa địa chất”. Charles Darwin đã không hiểu ngay ý nghĩa của sự thay đổi hình thức bên ngoài của các sinh vật, ông đã ghi chép tất cả nhận xét để sau này nghiên cứu khi trở về nước Anh. Ông không chấp nhận các giáo điều trong Sách Sáng Thế (Genesis) theo đó mọi chủng loại đã được tạo nêncùng một lúc và không thay đổi qua thời gian.

Sau khi trở về nước Anh, Charles Darwin cho xuất bản vào năm 1839 cuốn “Tạp Chí Khảo Cứu Địa Chất và Khoa Học Tự Nhiên của các Quốc Gia khác nhau do chuyến đi trên con tầu Beagle” (Journal of Researches into the Geology and Natural History of the Various Countries Visited by H.M.S. Beagle) và ông bắt đầu suy nghĩ về lý thuyết của sự tiến hóa hữu cơ (organic evolution) theo đó các chủng loại thay đổi không chỉ từ nơi này sang nơi khác mà còn qua các thời đại địa chất, ông muốn khám phá ra lý do của các thay đổi và đồng thời, Darwin viết cuốn sách “Nguồn Gốc của các Chủng Loại” (The Origin of Species). Bản phác thảo đầu tiên gồm 35 trang viết vào năm 1842, qua năm 1844 đã được nới rộng thành 230 trang. Từ đầu, bài toán bí ẩn là làm sao cắt nghĩa đời sống hữu cơ (organic life) đã bắt đầu phát triển kể từ thời khởi đầu của trái đất, cắt nghĩa sự xuất hiện và biến đi của các loài vật. Tại sao các loài vật đã sinh ra, bị thay đổi qua thời gian, phân chia thành các ngành khác nhau và thường khi biến mất hoàn toàn?

3/ Lập gia đình và nghiên cứu Khoa Học.

Vào ngày 19/1/1839, Charles Darwin kết hôn với cô em họ gần tên là Emma Wedgwood. Cặp vợ chồng này cư ngụ tại Bloomsbury trong một căn nhà chứa nhiều mẫu vật giống như một viện bảo tàng rồi 3 năm sau, họ dọn qua làng Downe thuộc hạt Kent, một miền quê hẻo lánh. Ông bà Darwin đã có 10 người con, 2 đứa trẻ đã bị chết yểu, một người con gái tên là Annie được yêu thương nhất đã qua đời năm lên 10 tuổi, còn lại 7 người con khác đều có cơ thể yếu đuối.

Darwin Annie
Trong 20 năm trường, Charles Darwin đã biên soạn cuốn sách “Nguồn Gốc” kể trên, cụ thể hóa các lý thuyết của mình. Ông đã đọc vô số tài liệu: tạp chí, sách du lịch, sách thể thao, sách dạy trồng hoa, sách dạy nuôi súc vật và sách lịch sử tự nhiên. Ông đã nói chuyện với nhiều nhà gây giống cây và thú vật, đã gửi câu hỏi tới nhiều người hiểu biết. Ông sưu tầm các bộ xương của các con vật đã được thuần hóa, so sánh chúng với xương của các con vật hoang dã. Ông đã khảo cứu các trái cây và hạt giống nổi và di chuyển trên mặt nước biển. Ông đã dùng các dữ kiện thu lượm được trong cuộc hành trình trên con tầu biển Beagle để giải đáp nhiều bài toán liên quan tới thực vật học, động vật học, địa chất học, cổ sinh vật học...

Charles Darwin đã dùng cách chọn lựa nhân tạo (artificial selection) của các con vật và cây cối thuần hóa: chó, mèo, ngựa, lúa mì, lúa mạch, các loại hoa vườn... mà con người đã lai tạo để có được thứ giống vật có lợi cho nhu cầu. Như vậy nhiều chủng loại mới đã được phát triển do chọn lựa. Ông đã lý luận rằng nếu sự tiến hóa được thực hiện do cách chọn lựa nhân tạo thì thiên nhiên cũng có thể hoạt động theo cùng một phương thức do cách chọn lựa tự nhiên (natural selection)? Tuy nhiên, trong hoàn cảnh thiên nhiên, đã xẩy ra cuộc tranh đấu để sống còn. Ông đã quan sát thấy một số lớn chủng loại đã bị chết đi, chỉ một phần nhỏ sống sót. Vài loại động vật là thức ăn của các loại động vật khác. Sự tranh đấu tiếp tục không ngừng và cuộc cạnh tranh dữ dội đã diệt đi chủng loại nào không thích hợp với sự sống còn. Các thay đổi về chủng loại đã xẩy ra để đáp ứng các điều kiện cần thiết vì sự sống còn (survival).


4/ Lý thuyết Tiến Hóa ra đời.

Chìa khóa của lời bí ẩn đối với Darwin do đọc cuốn sách “Khảo Luận về Dân Số” (Essay on Population) của Thomas Robert Malthus. Malthus đã cho biết sự việc cung cấp thực phẩm đã kiểm soát mức độ gia tăng dân số và số tăng thêm của con người trên trái đất bị chặn lại vì các hạn chế tích cực như tai nạn, bệnh tật, chiến tranh và nạn đói kém. Như vậy các yếu tố tương tự có thể áp dụng vào các sinh vật và thực vật. Darwin đã viết: “Từ sự quan sát lâu dài các thói quen của sinh vật và thực vật, tôi nhận ra rằng trong các hoàn cảnh sống, các chủng loại thích nghi thường được duy trì và các chủng loại không biết thích nghi sẽ bị tiêu diệt. Kết quả của sự kiện này là các chủng loại mới được sinh ra”.

Như vậy đã ra đời Chủ Thuyết Darwin danh tiếng về “chọn lựa tự nhiên” (natural selection), “tranh đấu để sống còn” (struggle for existence) hay “sự sống còn của kẻ thích hợp nhất” (survival of the fittest), và đây là nền móng của cuốn sách “Nguồn Gốc của các Chủng Loại”. Charles Darwin đã cố gắng thiết lập các chứng cớ rất đồ sộ khiến cho ông không vội phổ biến công trình nghiên cứu cho tới thập niên 1850 bởi vì bà vợ Emma của ông là một người rất sùng đạo Thiên Chúa, bà đã khiến chồng thường xuyên phải đóng góp cho nhà thờ, giúp đỡ các kẻ nghèo khó và biểu lộ tấm lòng mộ đạo. Nhưng rồi do sự thúc giục của các bạn thân, Darwin chuẩn bị một tác phẩm nhiều tập. Công trình được nửa chừng thì một tiếng sấm lớn vọng tới. Charles Darwin nhận được một bức thư từ Alfred Russel Wallace, một nhà khoa học thâm niên, hiện đang thám hiểm về sinh học tại quần đảo Mã Lai. Wallace cho biết rằng ông ta đang suy nghĩ về nguồn gốc của các loài vật và giống như Darwin, cũng bị ảnh hưởng khi đọc tác phẩm của Malthus. Bức thư của ông Wallace có đi kèm với một khảo sát có tên là “Khảo luận về chiều hướng biến đổi vĩnh viễn xuất phát từ loài gốc” (Essay on the Tendency of Varieties to Depart Indefinitely from the Original Type). Đây cũng chính là lời minh xác của Darwin.

Charles Darwin hiện đang ở trong tình trạng khó xử. Rõ ràng là cả hai nhân vật này do nghiên cứu độc lập với nhau, đã đi tới cùng các câu kết luận giống nhau, trong khi Darwin đã bỏ ra nhiều năm suy nghĩ và tìm kiếm, còn ý tưởng của Wallace được dẫn tới do trực giác. Nhiều nhà khoa học có cảm tình với Darwin muốn ông được ghi công do các nghiên cứu lâu dài đã qua, nên đã xếp đặt một buổi công bố các công trình của hai nhà khoa học tự nhiên. Darwin và Wallace được mời trình bày các tìm kiếm của mình trước Hội Khoa Học Linnaean (the Linnaean Society) và văn bản đầu tiên về Lý Thuyết Tiến Hóa (the theory of evolution) được phổ biến vào buổi chiều ngày 01 tháng 7 năm 1858. Sau đó cả hai bài khảo sát được đăng trên Tạp Chí của Hội Khoa Học Linnaean.

Do sự việc tìm kiếm của ông Wallace, Charles Darwin ngưng việc soạn thảo một tác phẩm thật lớn mà viết một khảo cứu tóm lược. Vào cuối năm 1859, tác phẩm của Charles Darwin đã trở nên một cái mốc của Lịch Sử Khoa Học và được ông John Murray xuất bản tại thành phố London. Ấn bản đầu tiên gồm 1,200 cuốn đã bán hết trong vài ngày đầu. Các ấn bản khác chỉ bán tại nước Anh đã lên tới 24,000 cuốn và đã được dịch sang hầu hết các ngôn ngữ chính. Bản gốc của tác phẩm của Charles Darwin có tên là: “Về Nguồn Gốc của các Chủng Loại do Cách Chọn Lựa Tự Nhiên” (On the Origin of Species by Means of Natural Selection), hay “Sự Duy Trì các Dòng Giống thích ứng trong cuộc Tranh Đấu vì Lẽ Sống” (The Preservation of Favoured Races in the Struggle for Life). Nhan đề dài của cuốn sách đã được rút gọn thành: “Nguồn Gốc của các Chủng Loại” (Origin of Species).

Các căn bản của lý thuyết của Darwin đã được thảo luận trong 4 chương đầu của tác phẩm “Nguồn Gốc”. Các chương sau đề cập tới ngành địa chất học, việc phân phối thực vật và sinh vật, các sự kiện thích hợp với sự phân loại, hình thái học và phôi thai học, và cuối cùng dẫn tới phần kết luận.

Tác phẩm “Nguồn Gốc của các Chủng Loại” từ phần đầu đã mô tả các thay đổi nơi thú vật và cây cỏ do con người kiểm soát, các biến đổi do “chọn lựa nhân tạo” so với các thay đổi trong thiên nhiên hay “chọn lựa tự nhiên” và chủ thuyết Darwin đã kết luận rằng mỗi khi có đời sống, đều có đổi thay và không có hai cá nhân nào hoàn toàn giống nhau. Trong sự biến đổi, còn có sự tranh đấu để sinh tồn và tốc độ gia tăng theo cấp số nhân. Tác phẩm “Nguồn Gốc” còn cho thấy nguyên tắc “chọn lựa tự nhiên” đã hoạt động để kiểm soát độ gia tăng của số lượng sinh vật. Một số cá nhân trong một chủng loại sẽ có sức mạnh hơn, chạy nhanh hơn, thông minh hơn, ít bị bệnh tật hơn, có khả năng chịu đựng các khắc nghiệt về thời tiết. Các cá nhân này sẽ sống còn và các sinh vật yếu đuối hơn sẽ suy tàn. Loại thỏ trắng trường tồn trên miền bắc cực còn loại thỏ nâu sẽ bị loại chồn, sói ăn thịt. Các con hươu cao cổ nhờ cổ dài, sẽ sống còn do ăn các lá trên ngọn cây trong khi loại hươu cổ ngắn bị chết đói. Như vậy các hoàn cảnh thay đổi đã chi phối sự sống còn của các sinh vật có khả năng nhất. Charles Darwin cũng đề cập tới sự chọn lựa truyền giống (sexual selection) với các con đực thích nghi được nhiều nhất trong môi trường sống, sẽ để lại nhiều hậu duệ nhất.

Khí hậu cũng là một yếu tố quan trọng. Các sinh vật chịu đựng nổi sức nóng và độ lạnh, lại có khả năng kiếm ăn, sẽ trường tồn. Tất cả các hình thức phức tạp của cuộc sống phải theo đúng với các định luật tự nhiên và tác phẩm “Nguồn Gốc” đã trình bày cuộc tiến hóa không ngừng.

5/ Tranh cãi về Thuyết Tiến Hóa.

Trái ngược với điều mà mọi người hằng tin tưởng, Charles Darwin không phải là nhân vật đầu tiên tìm ra lý thuyết Tiến Hóa. Các nhà khoa học xuất sắc như Buffon, Goethe, Eramus Darwin (ông nội của Charles Darwin), Lamarck và Herbert Spencer đã ủng hộ lý thuyết này. Nhưng công trình đóng góp của Charles Darwin là ông đã thu lượm đầy đủ các dữ kiện để chứng minh sự tiến hóa và ông cũng đi xa hơn trong lý thuyết chọn lựa tự nhiên do cách cắt nghĩa phương pháp tiến hóa.

Tác phẩm “Nguồn Gốc các Chủng Loại” đã xuất hiện như một tia chớp đánh vào vựa rơm. Nếu lý thuyết mới và mang tính cách mạng này có giá trị, thì câu chuyện trong Thánh Kinh về Chúa tạo ra con người sẽ không còn được chấp nhận. Giáo Hội Thiên Chúa vì thế đã coi luận đề của Charles Darwin là nguy hiểm cho tôn giáo, nên đã gây ra một trận bão tố phản đối. Dù cho Charles Darwin đã cẩn thận tránh né việc áp dụng lý thuyết của ông vào nhân loại nhưng lời buộc tội đã coi tác giả cho rằng con người bắt nguồn từ con khỉ. Nhiều lời diễu cợt đã được dùng làm cách bác bỏ lý thuyết của Charles Darwin. Tạp chí Quarterly Review đã gọi Darwin là một con người nông nổi, làm ô danh Khoa Học. Ông Darwin còn bị tố cáo là đã thu thập nhiều dự kiện để cụ thể hóa một “nguyên tắc sai”. Tại ngôi trường cũ, Đại Học Trinity ở Cambridge, ông William Whewell đã không cho phép một ấn bản nào của tác phẩm “Nguồn Gốc” được đặt trong thư viện của nhà trường.

Trong số các nhân vật bảo thủ chống đối, có ông Robert Owen, nhà xã hội và kỹ nghệ tại nước Anh và ông Louis Agassiz, nhà động vật học và địa chất học người Hoa Kỳ, cả hai đều cho rằng lý thuyết của Charles Darwin là một tà thuyết khoa học, chẳng bao lâu sẽ bị quên lãng. Nhà thiên văn lừng danh người Anh Sir John Herschel đã mô tả lý thuyết này là “một định luật bừa bãi”. Vị giáo sư địa chất cũ của Darwin là ông Sedgwick, đã coi chủ thuyết Darwin là sai nhầm nặng nề.

Tuy nhiên Charles Darwin đã không thiếu người bênh vực đầy can đảm. Đứng hàng đầu trong số nhân vật này là Sir Charles Lyell, nhà địa chất, Thomas Huxley, nhà sinh học, Sir Joseph Hooker, nhà thực vật học và Asa Gray, nhà thực vật học danh tiếng của Hoa Kỳ. Trong số các vị uy tín này, Darwin nhờ tới ông Huxley nhiều nhất. Darwin đã không xuất hiện trước công chúng để bênh vực lý thuyết của mình. Phần lớn sự bảo vệ là do khả năng của ông Huxley và đấu trường là buổi họp của Hội Anh Quốc (the British Association) tại thành phố Oxford vào năm 1860 với chủ đề là Chủ Thuyết Darwin (Darwinism). Đứng đầu phe đả phá là Tổng Giám Mục Wilberforce của miền Oxford. Trong bài diễn văn kết luận, vị Tổng Giám Mục này tin rằng có thể đè bẹp lý thuyết Darwin nên đã hướng về ông Huxley và hỏi một cách châm biếm: “Tôi hỏi Giáo Sư Huxley, liệu có phải phía ông nội hay bà nội của ngài có nguồn gốc từ loài khỉ phải không?”. Ông Huxley quay sang một người bạn và nói nhỏ: “Chúa đã giao ông ta vào tay tôi rồi!”. Ông Huxley bèn đứng lên và phát biểu: “Một người không có lý do gì phải xấu hổ khi có một con khỉ là ông nội. Nếu tôi xấu hổ chỉ vì có một ông tổ trí thức gặp một câu hỏi không biết rõ, làm mờ tối câu hỏi này vì lời hùng biện không chủ đích, làm lãng trí các người nghe bằng các lời lẽ lạc đề lại khéo léo dùng tới thành kiến tôn giáo”.

Trên đây chỉ là một vụ trong các đụng độ diễn ra trong nhiều thập niên giữa Nhà Thờ và Khoa Học về chủ thuyết Darwin. Qua tác phẩm “Nguồn Gốc”, Charles Darwin đã đề cập một cách nhẹ nhàng về nguồn gốc của con người nhưng về sau, qua cuốn sách “Dòng dõi của Con Người” (The Descent of Man), một khối lượng lớn dữ kiện của Darwin đã chứng minh rằng con người cũng là sản phẩm của định luật Tiến Hóa, từ các hình thức thấp kém hơn.

Định luật Tiến Hóa của Charles Darwin dần dần được coi là chính xác, đã ảnh hưởng tới rất nhiều phạm vi học thuật chính. Chủ thuyết Tiến Hóa Hữu Cơ (the organic evolution) đã được chấp nhận bởi các nhà sinh học, địa chất, hóa học, vật lý, nhân chủng, tâm lý, giáo dục, triết học, xã hội học và ngay cả các nhà sử học, khoa học chính trị, ngữ văn (philologists). Charles Darwin đã làm cách mạng không chỉ đối với bộ môn Sinh Học, mà còn ảnh hưởng sâu rộng tới các phạm vi Khoa Học khác, từ Thiên Văn tới Lịch Sử, từ môn Cổ Sinh Vật tới Tâm Lý Học, từ ngành Phôi Thai Học tới Tôn Giáo. Vì vậy ông Charles Ellwood đã tuyên bố rằng Charles Darwin xứng đáng với hàng danh dự cao nhất dành cho Nhà Tư Tưởng đã mang lại các kết quả sâu rộng nhất trong Thế Kỷ 19.

Qua thế kỷ 20, Chủ Thuyết Darwin với ý tưởng chọn lựa tự nhiên, đã bị chế độ Đức Quốc Xã dùng vào việc tuyên truyền và tiêu diệt một số dân tộc thiểu số. Các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia đã được biện hộ một cách sai lạc rằng đây là một phương tiện để diệt trừ các kẻ yếu, và về sau khi tranh giành quyền lực, các người Cộng Sản Mác Xít cũng áp dụng lý thuyết tranh đấu để sống còn vào chủ trương “đấu tranh giai cấp” của họ.

Charles Darwin qua đời vào ngày 19/4/1882 vì bệnh tim. Tin buồn này được nhiều tờ báo đăng tải bởi vì vào thời kỳ này, lý thuyết của ông đã được nhiều người công nhận. Nhật báo London Standard đã viết rằng: “Các tín đồ Thiên Chúa Giáo chân chính có thể chấp nhận các sự kiện của Luật Tiến Hóa giống như họ đã làm đối với ngành Thiên Văn và ngành Địa Chất, không vì các thành kiến do các niềm tin lâu đời và được ưa thích”.

Charles Darwin mong muốn được an táng trong ngôi làng Downe, hạt Kent, nhưng giới Khoa Học của nước Anh đã đặt di cốt của ông tại Tu Viện Westminster danh tiếng, bên cạnh ngôi mộ của một nhà khoa học khác lừng danh trên Thế Giới, là Sir.

(http://vietsciences.free.fr/biographie/biologists/darwin.htm)
Read more…

Wolf Messing-Nhà ngoại cảm tiên tri lỗi lạc

20:12 |
Hiện nay Wolf Messing ít được nhắc tới. Giới thanh niên nói chung không biết cái tên này. Thế nhưng nửa thế kỷ trước Wolf Messing nổi tiếng khắp châu Âu. Ở Liên Xô cũ ông được coi là một nhà thôi miên học và một nghệ sĩ tài năng. Ở phưong Tây người ta nói tới ông như một nhà ngoại cảm và nhà tiên tri lỗi lạc nhất của thế kỷ XX. Albert Enstein và Zigmund Freud đã từng ngưỡng mộ ông. Năng lực của ông được Joseph Stalin đánh giá cao. Trước đây nền khoa học Liên Xô không thừa nhận ngoại cảm và tất cả những gì liên quan tới nó. Vì vậy, hiện tượng Wolf Messing không được nghiên cứu. Ông chết, mang theo những bí mật của mình xuống mồ. Messing biết chính xác ngày mất của mình, 8.11.1974, nhưng không thể làm gì được, vả lại, ông cũng không muốn thay đổi.


Wolf Messing sinh ngày 10 tháng 9 năm 1899 trong một gia đình Do Thái tại vùng Gora-Kalevarya gần Warshaw, Ba Lan. Sau khi tốt nghiệp trường phổ thông, ông được gửi vào học trường đào tạo giáo sĩ. Nhưng chẳng bao lâu chàng trai bỏ học và nhảy theo một đoàn tàu hỏa đến Berlin.

Ở Berlin Messing tình cờ quen biết với giáo sư Abel – bác sĩ tâm thần và nhà bệnh học thần kinh. Phát hiện ra chàng trai có khả năng thần giao cách cảm, giáo sư quyết định làm thí nghiệm thôi miên với anh và đã thành công. Chẳng bao lâu Abel tìm cho Messing một ông bầu, và họ bắt đầu hoạt động tích cực: anh biểu diễn trong rạp xiếc, đoán ý nghĩ của khán giả và tìm kiếm những đồ vật bị cất giấu…

Năm 1921 Messing trở về Warshaw để gia nhập quân đội. Hoàn thành nghĩa vụ quân sự, ông cùng với ông bầu mới phục hồi các tiết mục biểu diễn. Họ đi biểu diễn khắp châu Âu.

Năm 1939 khi quân Đức tiến vào Ba Lan, Messing biết rằng ở lại đây sẽ rất nguy hiểm, vì vậy Messing buộc phải chạy sang Liên Xô.

Ông đến Liên Xô khi đã nổi tiếng. Bằng những khả năng kỳ lạ của mình Wolf Messing đã làm cho Hitler nổi giận. Một vài tháng trước khi Đức tấn công Ba Lan, tại một buổi biểu diễn của mình trước đông đảo khán giả, Messing đã tuyên bố: "Nếu Hitler quay sang phía đông, ông ta sẽ bị tiêu diệt". Ngay lập tức thông tin này được trình báo lên quốc trưởng. Vốn là người mê tín, Hitler gọi thầy chiêm tinh của mình Eric Hanussen tới, ông ta đã kể cho quốc trưởng về cuộc gặp gỡ của mình với Messing và về việc kẻ Do Thái này không phải là người bịp bợm. Eric và Wolf đã đụng độ với nhau một lần trong chuyến lưu diễn. Hai nhà ngoại cảm đã tìm cách thăm dò ý nghĩ của nhau. Nhưng Hanussen cảm thấy mình thua cuộc.

Hitler rất điên tiết. Y tuyên bố rằng Wolf Messing là kẻ thù riêng của mình và treo giải thưởng 200.000 mác cho người nào lấy được đầu của ông. Thời ấy đó là một gia tài lớn. Khi quân Đức tấn công vào Warshaw, các bức áp phích in chân dung Messing xuất hiện trên tất cả các bức tường và hàng rào. Messing buộc phải lẩn trốn. Ông bị bắt ngay trên đường phố – một sĩ quan Đức nhận ra Messing và một quả đấm trời giáng vào hàm đã làm ông gãy 6 cái răng và bất tỉnh. Ông không kịp sử dụng khả năng của mình. Khi tỉnh đậy, Messing đã ngồi trong xà lim của đồn cảnh sát. Ông hiểu rằng cái chết đang rình rập mình nên đã quyết định làm cái điều mà trước đây chưa bao giờ làm. Messing có khả năng cùng một lúc thôi miên cho một số người phục tùng mệnh lệnh của mình, nhưng ông cần phải nhìn thấy họ. Ngồi trong xà lim, Messing nhớ lại, ông tập trung tất cả sức lực của mình và bắt đầu dùng ý nghĩ ra lệnh cho các nhân viên cảnh sát đang ngồi ở phòng khác. Ông bắt tất cả chúng bước vào xà lim của ông, còn ông thì đi ra và khóa chúng lại trong đó. Tuy nhiên, đúng vào lúc ấy Mesing bị kiệt sức. Ông thậm chí không thể bước theo thang gác xuống tầng một, vì vậy đã nhảy qua cửa sổ tầng hai xuống đất và bị gãy chân, nhưng vẫn kịp trốn thoát. Messing được đưa ra khỏi Warshaw bằng xe chở cỏ. Sau đó ông vượt biên giới Ba Lan sang lãnh thổ Liên Xô. Thời gian đầu ông gặp rất nhiều khó khăn vì không biết tiếng Nga, không hiểu luật pháp Liên Xô. Nhưng ông đọc được ý nghĩ của họ. Sau một thời gian Messing được phép biểu diễn truớc công chúng. Ông khiêm tốn gọi các tiết mục của mình là "Những thí nghiệm tâm lý".

Mùa xuân năm 1941, lần đầu tiên Messing được gặp Stalin. Tuy nhiên, Messing không thích nhớ lại cuộc gặp gỡ này, chỉ nói rằng Stalin rất quan tâm tới tình hình ở Ba Lan và những người mà nhà ngoại cảm có quen biết.

Dù sao Stalin cũng có ý định kiểm tra khả năng của Wolf Messing. Wolf kể: ông nhận được lệnh đến Ngân hàng nhà nước Liên Xô lấy một khoản tiền mặt rất lớn mà không có giấy tờ gì cả. Hai sĩ quan công an tháp tùng ông. Đến nơi, Wolf xé trong cuốn sổ một tờ giấy trắng, đưa cho những người bạn đường xem và bước tới quầy trả tiền. Ông đưa tờ giấy cho người thủ quỹ. Anh ta chăm chú xem rồi cắm vào chiếc đinh giữ séc và cẩn thận đếm cho Wolf 100.000 rúp. Ông quay trở lại gặp hai sĩ quan công an và đưa cho họ xem. Họ kiểm tra cẩn thận rồi sau đó mang gói tiền trả lại. Người thủ quỹ ngạc nhiên nhìn họ, sau đó nhìn tờ séc và ngả xuống bất tỉnh.

Stalin vẫn chưa hài lòng với kết quả đó. Ông yêu cầu Messing đến gặp ông tại phòng làm việc ở điện Kremlin mà không có giấy phép gì cả. Đồng thời đội bảo vệ cũng được cảnh báo trước. Nhà ngoại cảm đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Ông không chỉ đi vào và đi ra khỏi phòng làm vệc của Stalin, mà còn đứng dưới cửa sổ, cạnh một gốc cây vẫy tay chào tạm biệt Stalin. Khi được hỏi vì sao làm được điều đó, nhà ngoại cảm nói rằng ông ta đã thôi miên các chiến sĩ bảo vệ khiến họ cứ tưởng Beria đang đứng trước mặt mình.

Nhà ngoại cảm còn có mặt ở điện Kremlin nhiều lần nữa. Người ta đồn rừng Messing đã cứu sống Vasily Stalin (con trai Stalin). Trước khi Vasily chuẩn bị bay tới Sverdlovsk cùng đội tuyển khúc côn cầu của lực lượng không quân, Messing thông báo điều gì đó với Stalin và Stalin đã ngăn cản Vasily đi máy bay. Vasily đã đi tàu hỏa. Còn chiếc máy bay chở đội tuyển bị nổ tung và tất cả các cầu thủ đều thiệt mạng.

Một lần, vào cuối những năm 40, khi Messing đang biểu diễn các “thí nghiệm tâm lý học“ của mình ở Kiev, bỗng nhiên từ Moskva chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Bunganin bay tới. Bunganin nói rằng ở Moskva có một cán bộ cao cấp bị mất tích, mang theo một chiếc cặp đựng các tài liệu mật. Stalin gia hạn 3 ngày để tìm các tài liệu đó. Sau này Messing nhớ lại: "Tôi bắt đầu kiểm tra cẩn thận phòng làm việc của người cán bộ cao cấp bị mất tích, xem xét kỹ lưỡng tất cả các đồ vật. Dần dần trong ý thức của tôi xuất hiện hình ảnh một làng quê, bờ sông dốc đứng, phía xa có một ngôi nhà thờ nhỏ, chiếc cầu vắt qua sông. Có một vật màu đen nằm dưới mố cầu. Chiếc cặp chăng? Quả đúng như vậy”. Người ta triệu tập các nhà địa phương học tới. Qua câu chuyện tỉ mỉ của Messing, họ nhận ra vị trí đó. Chiếc cặp đựng tài liệu mật quả là nằm dưới mố cầu. Cách đấy không xa người ta tìm thấy xác của người cán bộ. Stalin tỏ ra hài lòng.

Nước Nga trở thành tổ quốc thứ hai của Messing. Ở đây anh đã trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng. Trong các buổi biểu diễn của mình anh đáp ứng những yêu cầu khác nhau của khán giả: tìm những vật bị cất giấu, mô tả ngoại hình của những người lạ đối với anh, v.v… Rất tiếc thời đó những hiện tượng như linh cảm, ảo thuật, ngoại cảm chưa trở nên thịnh hành, mặc dù có rất nhiều nhà ảo thuật khéo léo, có khả năng biểu diễn những tiết mục “siêu nhiên". Trong số đó có Wolf Messing.

Năm 1942, Messing được một cán bộ của đảng ở Cục biểu diễn mời đến gặp và hỏi anh sẵn sàng đóng góp bao nhiêu tiền cho mặt trận. "30.000 rúp", - Messing trả lời. Vị cán bộ cười vào nói: "Ở nước ta ngay cả những người nông trang viên cũng sẵn sàng quyên góp để chế tạo xe tăng và máy bay cho mặt trận, còn anh với thu nhập của mình mà…". Nhưng Messing nói ngay: "Tôi xin tuyên bố chính thức với ông rằng quân đội chúng ta sẽ giành chiến thắng mà không cần sự giúp đỡ của tôi. Tôi nhìn thấy những chiếc xe tăng của Liên Xô treo cờ đỏ diễu hành trên đường phố Berlin!”

Tuy nhiên sau đó Messing đã đóng góp một triệu rúp để chế tạo máy bay. Một thời gian sau trên báo chí xuất hiện thông tin rằng nhà nghệ sĩ nổi tiếng đã tặng quân đội Liên Xô một chiếc máy bay tiêm kích do anh hùng Liên Xô, phi công Kovalev lái.

Vào giữa những năm 60 Messing đượ̣c phong danh hiệu nghệ sĩ công huân của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa xô viết Nga.

Bản thân Messing không coi mình là một hiện tượng đặc biệt. Ông tin rằng tất cả mọi người đều có khả năng ngoại cảm ở một mức độ nào đó. Messing nói rằng khả năng đó cũng giống như trực giác hay bản năng tự vệ Ở người này nó phát triển được 20%, ở người kia – 100%. Hồi nhỏ Messing bị bệnh mộng du. Để chữa bệnh cho con, ông bố đặt cạnh giường ngủ của cậu một chậu nước lạnh. Cậu bé thức dậy trong mơ, dẫm chân vào nước và tỉnh ngủ. Phương pháp này tỏ ra có hiệu quả.

Vào những năm cuối đời Messing bị bệnh nặng. Hai chân ông bị liệt do vết thương cũ trong thời gian chạy trốn khỏi Warshaw tái phát. Cần phải làm phẫu thuật. Và bác sĩ nổi tiếng Vlađimir Burakovsky nhận phẫu thuật cho Meesing. Khi đến phòng khám của bác sĩ, trước sự có mặt của nhiều người, ông ta chăm chú nhìn bức chân dung của mình treo trên tường và nói: "Hết rồi, Wolf ạ. Anh sẽ không trở lại đây nữa đâu”. Messing được làm phẫu thuật, nhưng sau đó ông bị đau thận và tim. Ông qua đời ngày 8 tháng 11 năm 1974.

Trân Hậu

(Theo facts.kiev.ua)

Hiện nay Wolf Messing ít được nhắc tới. Giới thanh niên nói chung không biết cái tên này. Thế nhưng nửa thế kỷ trước Wolf Messing nổi tiếng khắp châu Âu. Ở Liên Xô cũ ông được coi là một nhà thôi miên học và một nghệ sĩ tài năng. Ở phưong Tây người ta nói tới ông như một nhà ngoại cảm và nhà tiên tri lỗi lạc nhất của thế kỷ XX. Albert Enstein và Zigmund Freud đã từng ngưỡng mộ ông. Năng lực của ông được Joseph Stalin đánh giá cao. Trước đây nền khoa học Liên Xô không thừa nhận ngoại cảm và tất cả những gì liên quan tới nó. Vì vậy, hiện tượng Wolf Messing không được nghiên cứu. Ông chết, mang theo những bí mật của mình xuống mồ. Messing biết chính xác ngày mất của mình, 8.11.1974, nhưng không thể làm gì được, vả lại, ông cũng không muốn thay đổi.

Wolf Messing sinh ngày 10 tháng 9 năm 1899 trong một gia đình Do Thái tại vùng Gora-Kalevarya gần Warshaw, Ba Lan. Sau khi tốt nghiệp trường phổ thông, ông được gửi vào học trường đào tạo giáo sĩ. Nhưng chẳng bao lâu chàng trai bỏ học và nhảy theo một đoàn tàu hỏa đến Berlin.

Ở Berlin Messing tình cờ quen biết với giáo sư Abel – bác sĩ tâm thần và nhà bệnh học thần kinh. Phát hiện ra chàng trai có khả năng thần giao cách cảm, giáo sư quyết định làm thí nghiệm thôi miên với anh và đã thành công. Chẳng bao lâu Abel tìm cho Messing một ông bầu, và họ bắt đầu hoạt động tích cực: anh biểu diễn trong rạp xiếc, đoán ý nghĩ của khán giả và tìm kiếm những đồ vật bị cất giấu…

Năm 1921 Messing trở về Warshaw để gia nhập quân đội. Hoàn thành nghĩa vụ quân sự, ông cùng với ông bầu mới phục hồi các tiết mục biểu diễn. Họ đi biểu diễn khắp châu Âu.

Năm 1939 khi quân Đức tiến vào Ba Lan, Messing biết rằng ở lại đây sẽ rất nguy hiểm, vì vậy Messing buộc phải chạy sang Liên Xô.

Ông đến Liên Xô khi đã nổi tiếng. Bằng những khả năng kỳ lạ của mình Wolf Messing đã làm cho Hitler nổi giận. Một vài tháng trước khi Đức tấn công Ba Lan, tại một buổi biểu diễn của mình trước đông đảo khán giả, Messing đã tuyên bố: "Nếu Hitler quay sang phía đông, ông ta sẽ bị tiêu diệt". Ngay lập tức thông tin này được trình báo lên quốc trưởng. Vốn là người mê tín, Hitler gọi thầy chiêm tinh của mình Eric Hanussen tới, ông ta đã kể cho quốc trưởng về cuộc gặp gỡ của mình với Messing và về việc kẻ Do Thái này không phải là người bịp bợm. Eric và Wolf đã đụng độ với nhau một lần trong chuyến lưu diễn. Hai nhà ngoại cảm đã tìm cách thăm dò ý nghĩ của nhau. Nhưng Hanussen cảm thấy mình thua cuộc.

Hitler rất điên tiết. Y tuyên bố rằng Wolf Messing là kẻ thù riêng của mình và treo giải thưởng 200.000 mác cho người nào lấy được đầu của ông. Thời ấy đó là một gia tài lớn. Khi quân Đức tấn công vào Warshaw, các bức áp phích in chân dung Messing xuất hiện trên tất cả các bức tường và hàng rào. Messing buộc phải lẩn trốn. Ông bị bắt ngay trên đường phố – một sĩ quan Đức nhận ra Messing và một quả đấm trời giáng vào hàm đã làm ông gãy 6 cái răng và bất tỉnh. Ông không kịp sử dụng khả năng của mình. Khi tỉnh đậy, Messing đã ngồi trong xà lim của đồn cảnh sát. Ông hiểu rằng cái chết đang rình rập mình nên đã quyết định làm cái điều mà trước đây chưa bao giờ làm. Messing có khả năng cùng một lúc thôi miên cho một số người phục tùng mệnh lệnh của mình, nhưng ông cần phải nhìn thấy họ. Ngồi trong xà lim, Messing nhớ lại, ông tập trung tất cả sức lực của mình và bắt đầu dùng ý nghĩ ra lệnh cho các nhân viên cảnh sát đang ngồi ở phòng khác. Ông bắt tất cả chúng bước vào xà lim của ông, còn ông thì đi ra và khóa chúng lại trong đó. Tuy nhiên, đúng vào lúc ấy Mesing bị kiệt sức. Ông thậm chí không thể bước theo thang gác xuống tầng một, vì vậy đã nhảy qua cửa sổ tầng hai xuống đất và bị gãy chân, nhưng vẫn kịp trốn thoát. Messing được đưa ra khỏi Warshaw bằng xe chở cỏ. Sau đó ông vượt biên giới Ba Lan sang lãnh thổ Liên Xô. Thời gian đầu ông gặp rất nhiều khó khăn vì không biết tiếng Nga, không hiểu luật pháp Liên Xô. Nhưng ông đọc được ý nghĩ của họ. Sau một thời gian Messing được phép biểu diễn truớc công chúng. Ông khiêm tốn gọi các tiết mục của mình là "Những thí nghiệm tâm lý".

Mùa xuân năm 1941, lần đầu tiên Messing được gặp Stalin. Tuy nhiên, Messing không thích nhớ lại cuộc gặp gỡ này, chỉ nói rằng Stalin rất quan tâm tới tình hình ở Ba Lan và những người mà nhà ngoại cảm có quen biết.

Dù sao Stalin cũng có ý định kiểm tra khả năng của Wolf Messing. Wolf kể: ông nhận được lệnh đến Ngân hàng nhà nước Liên Xô lấy một khoản tiền mặt rất lớn mà không có giấy tờ gì cả. Hai sĩ quan công an tháp tùng ông. Đến nơi, Wolf xé trong cuốn sổ một tờ giấy trắng, đưa cho những người bạn đường xem và bước tới quầy trả tiền. Ông đưa tờ giấy cho người thủ quỹ. Anh ta chăm chú xem rồi cắm vào chiếc đinh giữ séc và cẩn thận đếm cho Wolf 100.000 rúp. Ông quay trở lại gặp hai sĩ quan công an và đưa cho họ xem. Họ kiểm tra cẩn thận rồi sau đó mang gói tiền trả lại. Người thủ quỹ ngạc nhiên nhìn họ, sau đó nhìn tờ séc và ngả xuống bất tỉnh.

Stalin vẫn chưa hài lòng với kết quả đó. Ông yêu cầu Messing đến gặp ông tại phòng làm việc ở điện Kremlin mà không có giấy phép gì cả. Đồng thời đội bảo vệ cũng được cảnh báo trước. Nhà ngoại cảm đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Ông không chỉ đi vào và đi ra khỏi phòng làm vệc của Stalin, mà còn đứng dưới cửa sổ, cạnh một gốc cây vẫy tay chào tạm biệt Stalin. Khi được hỏi vì sao làm được điều đó, nhà ngoại cảm nói rằng ông ta đã thôi miên các chiến sĩ bảo vệ khiến họ cứ tưởng Beria đang đứng trước mặt mình.

Nhà ngoại cảm còn có mặt ở điện Kremlin nhiều lần nữa. Người ta đồn rừng Messing đã cứu sống Vasily Stalin (con trai Stalin). Trước khi Vasily chuẩn bị bay tới Sverdlovsk cùng đội tuyển khúc côn cầu của lực lượng không quân, Messing thông báo điều gì đó với Stalin và Stalin đã ngăn cản Vasily đi máy bay. Vasily đã đi tàu hỏa. Còn chiếc máy bay chở đội tuyển bị nổ tung và tất cả các cầu thủ đều thiệt mạng.

Một lần, vào cuối những năm 40, khi Messing đang biểu diễn các “thí nghiệm tâm lý học“ của mình ở Kiev, bỗng nhiên từ Moskva chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Bunganin bay tới. Bunganin nói rằng ở Moskva có một cán bộ cao cấp bị mất tích, mang theo một chiếc cặp đựng các tài liệu mật. Stalin gia hạn 3 ngày để tìm các tài liệu đó. Sau này Messing nhớ lại: "Tôi bắt đầu kiểm tra cẩn thận phòng làm việc của người cán bộ cao cấp bị mất tích, xem xét kỹ lưỡng tất cả các đồ vật. Dần dần trong ý thức của tôi xuất hiện hình ảnh một làng quê, bờ sông dốc đứng, phía xa có một ngôi nhà thờ nhỏ, chiếc cầu vắt qua sông. Có một vật màu đen nằm dưới mố cầu. Chiếc cặp chăng? Quả đúng như vậy”. Người ta triệu tập các nhà địa phương học tới. Qua câu chuyện tỉ mỉ của Messing, họ nhận ra vị trí đó. Chiếc cặp đựng tài liệu mật quả là nằm dưới mố cầu. Cách đấy không xa người ta tìm thấy xác của người cán bộ. Stalin tỏ ra hài lòng.

Nước Nga trở thành tổ quốc thứ hai của Messing. Ở đây anh đã trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng. Trong các buổi biểu diễn của mình anh đáp ứng những yêu cầu khác nhau của khán giả: tìm những vật bị cất giấu, mô tả ngoại hình của những người lạ đối với anh, v.v… Rất tiếc thời đó những hiện tượng như linh cảm, ảo thuật, ngoại cảm chưa trở nên thịnh hành, mặc dù có rất nhiều nhà ảo thuật khéo léo, có khả năng biểu diễn những tiết mục “siêu nhiên". Trong số đó có Wolf Messing.

Năm 1942, Messing được một cán bộ của đảng ở Cục biểu diễn mời đến gặp và hỏi anh sẵn sàng đóng góp bao nhiêu tiền cho mặt trận. "30.000 rúp", - Messing trả lời. Vị cán bộ cười vào nói: "Ở nước ta ngay cả những người nông trang viên cũng sẵn sàng quyên góp để chế tạo xe tăng và máy bay cho mặt trận, còn anh với thu nhập của mình mà…". Nhưng Messing nói ngay: "Tôi xin tuyên bố chính thức với ông rằng quân đội chúng ta sẽ giành chiến thắng mà không cần sự giúp đỡ của tôi. Tôi nhìn thấy những chiếc xe tăng của Liên Xô treo cờ đỏ diễu hành trên đường phố Berlin!”

Tuy nhiên sau đó Messing đã đóng góp một triệu rúp để chế tạo máy bay. Một thời gian sau trên báo chí xuất hiện thông tin rằng nhà nghệ sĩ nổi tiếng đã tặng quân đội Liên Xô một chiếc máy bay tiêm kích do anh hùng Liên Xô, phi công Kovalev lái.

Vào giữa những năm 60 Messing đượ̣c phong danh hiệu nghệ sĩ công huân của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa xô viết Nga.

Bản thân Messing không coi mình là một hiện tượng đặc biệt. Ông tin rằng tất cả mọi người đều có khả năng ngoại cảm ở một mức độ nào đó. Messing nói rằng khả năng đó cũng giống như trực giác hay bản năng tự vệ Ở người này nó phát triển được 20%, ở người kia – 100%. Hồi nhỏ Messing bị bệnh mộng du. Để chữa bệnh cho con, ông bố đặt cạnh giường ngủ của cậu một chậu nước lạnh. Cậu bé thức dậy trong mơ, dẫm chân vào nước và tỉnh ngủ. Phương pháp này tỏ ra có hiệu quả.

Vào những năm cuối đời Messing bị bệnh nặng. Hai chân ông bị liệt do vết thương cũ trong thời gian chạy trốn khỏi Warshaw tái phát. Cần phải làm phẫu thuật. Và bác sĩ nổi tiếng Vlađimir Burakovsky nhận phẫu thuật cho Meesing. Khi đến phòng khám của bác sĩ, trước sự có mặt của nhiều người, ông ta chăm chú nhìn bức chân dung của mình treo trên tường và nói: "Hết rồi, Wolf ạ. Anh sẽ không trở lại đây nữa đâu”. Messing được làm phẫu thuật, nhưng sau đó ông bị đau thận và tim. Ông qua đời ngày 8 tháng 11 năm 1974.
Read more…

Video

Back to top Go bottom