Nghiên cứu tình trạng 'hồn lìa khỏi xác'

21:38 |
Các chuyên gia Anh đã tiến hành một cuộc nghiên cứu lớn nhất từ trước đến nay để trả lời câu hỏi: Liệu có cuộc sống sau khi chết hay không?



Giới khoa học cuối cùng đã nắm được chứng cứ cho thấy sự sống tiếp tục sau khi chết, qua cuộc nghiên cứu được triển khai với quy mô lớn nhất từ trước đến nay về vấn đề này. Tờ The Telegraph đưa tin một nhóm chuyên gia Anh đã bỏ ra khoảng 4 năm để phân tích những bệnh nhân sống sót sau cơn đau tim nhằm thu thập trải nghiệm của họ sau khi rời phòng cấp cứu. Kết quả cho thấy gần 40% số người sống sót sau cơn thập tử nhất sinh đều mô tả một vài dạng “nhận thức” vào thời điểm họ bị tuyên bố chết lâm sàng.

Hiện giới chuyên gia cho rằng bộ não ngưng hoạt động trong vòng từ 20 đến 30 giây kể từ khi tim ngừng đập, và trong tình trạng này bệnh nhân không thể nhận thức được bất cứ chuyện gì. Tuy nhiên, các nhà khoa học trong cuộc nghiên cứu mới đã ghi nhận được những chứng cứ cho thấy bệnh nhân cảm nhận được những sự kiện có thật kéo dài đến 3 phút kể từ bị chẩn đoán chết lâm sàng, và có thể nhớ lại một cách chính xác những gì đã xảy ra một khi họ được hồi sinh.

Trưởng nhóm nghiên cứu, tiến sĩ Sam Parnia, hiện là trợ lý giáo sư của Đại học bang tại New York và từng nghiên cứu sinh của Đại học Southampton (Anh), cho hay trước đây ông luôn nghĩ rằng những gì bệnh nhân mô tả về khoảnh khắc cận kề cái chết chỉ tồn tại trong ảo giác. Tuy nhiên, một người đã kể lại chính xác những diễn biến xảy ra trong lúc bác sĩ và các y tá chạy đua với thời gian để cứu sống ông. Ông cho biết mình đã quan sát toàn bộ quá trình cấp cứu từ một góc trong căn phòng. Khi nghe được những gì mà bệnh nhân 57 tuổi mô tả lại, tiến sĩ Parnia không thể nào tin được. “Chúng tôi biết não không hoạt động khi tim ngừng đập. Nhưng trong trường hợp này, trạng thái tỉnh thức vẫn tiếp tục được duy trì đến 3 phút”, theo trưởng nhóm nghiên cứu. “Ông ấy kể lại mọi diễn biến trong phòng lúc đó, và quan trọng là ông nghe được 2 tiếng bíp từ một cái máy, được lập trình để thông báo mỗi 3 phút. Nên chúng tôi biết được chính xác thời gian đã trôi qua bao nhiêu lâu”.

Nhóm của tiến sĩ Parnia đã nghiên cứu 2.060 trường hợp bệnh nhân lên cơn đau tim tại 15 bệnh viện ở Anh, Mỹ, Áo, và kết quả cuộc nghiên cứu đã được công bố trên chuyên san Resuscitation. Tuy nhiên, chỉ có 330 người sống sót và 140 người cho biết họ phần nào nhận thức được vào thời điểm tỉnh lại. Trong số những người sống sót, 46% số người kể lại những hồi ức khác nhau, 9% cảm nhận được những tình trạng được gọi là thời khắc trước khi chết, 2% hoàn toàn nhận biết được những cái gọi là “nghe” và “thấy” từ góc độ ngoài cơ thể, tức tình trạng "xuất hồn". Tiến sĩ Parnia kết luận từ cuộc nghiên cứu trên, những trải nghiệm hồi tưởng xung quanh trạng thái chết xứng đáng được nghiên cứu thêm trong thực tế. Còn tiến sĩ Jerry Nolan, tổng biên tập tạp chí đăng tải bài báo cáo của nhóm khoa học gia Anh, đánh giá cao nỗ lực của họ trong việc hoàn thành một cuộc nghiên cứu đầy hấp dẫn. Từ đó hứa hẹn mở ra một cánh cửa mới để tiến tới một cuộc nghiên cứu sâu rộng hơn nhằm biết được chuyện gì sẽ xảy ra khi chúng ta chết.

TS Châu Nhật Tân (Học viện Voviology, California, Mỹ) cũng đã có nghiên cứu về đề tài này trong dự án Astral Anatomy - Giải phẫu linh hồn học, qua đó chứng minh được sự tồn tại của linh hồn. Kết quả nghiên cứu này có thể sẽ được tiết lộ trong thời gian tới đây.

Hạo Nhiên
Read more…

Ông hoàng Vật lý: Không có hố đen trong vũ trụ

21:31 |
Ông hoàng vật lý Stephen Hawking đã thừa nhận sai lầm trong lý thuyết của mình và cho rằng không hề có hố đen bí ẩn trong vũ trụ.

Mới đây, “ông hoàng vật lý” Stephen Hawking đã khiến giới khoa học quốc tế sửng sốt khi tuyên bố rằng ánh sáng và thông tin có thể thoát ra khỏi hố đen, một tuyên bố hoàn toàn trái ngược với lý thuyết đã tạo nên danh tiếng của ông trong giới khoa học.

Năm 1974, Hawking đã đưa ra lý thuyết về hố đen và bổ sung thêm khái niệm về cơ học lượng tử, châm ngòi cho một cuộc tranh luận gay gắt giữa các nhà khoa học hàng đầu thế giới cho đến tận ngày nay.

Ông hoàng vật lý Stephen Hawking

Tuy nhiên, sau một cuộc đánh cược với một nhà vật lý khác gần đây, Hawking đã tuyên bố rằng vật chất có thể thoát ra khỏi hố đen, đồng nghĩa với việc khái niệm “hố đen” của ông hoàn toàn sụp đổ.

Theo tạp chí New Scientist, ông hoàng vật lý Hawking đã từng tuyên bố rằng khi một hố đen chết đi, nó sẽ hút theo mọi thứ vào bên trong, tuy nhiên quan niệm này lại mâu thuẫn với lý thuyết lượng tử.

Lý thuyết lượng tử lại cho rằng “năng lượng và thông tin có thể thoát khỏi hố đen”. Để giải thích được toàn bộ quá trình này, Hawking cho rằng cần phải có một lý thuyết mới có thể hợp nhất thành công trọng lực với các lực cơ bản khác của tự nhiên. Đây chính là điều đã làm đau đầu các nhà vật lý trong gần một thế kỷ, và Hawking cũng phải thốt lên: “Cách giải thích đúng đắn vẫn còn là một bí mật.”

Hình dung về hố đen trong vũ trụ "nuốt chửng" tất cả vật chất và năng lượng

Tuy nhiên 40 năm sau, ông lại cho rằng ánh sáng và thông tin có thể thoát ra khỏi những hố đen này.

Theo New Scientist, hố đen có các “chân trời biểu kiến”, đó là những mặt phẳng có thể hút giữ ánh sáng, tuy nhiên các chân trời biểu kiến này có thể thay đổi về hình dạng giúp ánh sáng có thể thoát ra ngoài.

Hawking đã tuyên bố rằng giải pháp để giải thích mâu thuẫn là từ bỏ mọi khái niệm từ trước tới nay về thứ đã khiến hố đen trở nên vô cùng bí ẩn, đó chính là “chân trời sự kiện”. Theo lý thuyết của Hawking, “chân trời sự kiện” có thể hút mọi thứ vào bên trong mình và không có vật chất nào có thể thoát ra khỏi nó.

Trong dịp sinh nhật lần thứ 70 của mình được tổ chức trong tháng này, Hawking đã tuyên bố rằng ông coi ý tưởng về việc thông tin bị hủy diệt trong các hố đen là “sai lầm ngớ ngẩn nhất” của mình.

Trí Dũng (Theo New Scientist) (Khampha.vn)
Read more…

Khả năng “Thần giao cách cảm” của con người

02:16 |
Có rất nhiều câu chuyện ly kì về những người có khả năng cảm nhận được suy nghĩ của người khác. Trong một số hoàn cảnh đặc biệt, một số người có thể linh cảm được những mối nguy hiểm, sợ hãi hay vui mừng... xảy đến đối với người thân của họ (mà người ta hay gọi là giác quan thứ 6). Những cảm nhận này thường tập trung ở những người có mỗi quan hệ rất thân thiết, gần gũi như cha mẹ - con cái, anh chị - em, đặc biệt xảy ra nhiều đối với các cặp song sinh.


Đó là những trường hợp xảy ra tự nhiên. Liệu con người ta có thể tạo ra khả năng này một cách chủ động (thông qua luyện tập) được không? Trong cuốn “Huyền thuật và đạo sĩ Tây Tạng”, tác giả Alexande David Nill đã kể lại khá chi tiết những điều bà tận mắt chứng kiến về vấn đề này (đây là 1 học giả người Pháp rất nổi tiếng, bạn nào đã học tiếng Anh bằng cuốn “Cause and Effect” chắc hẳn đã biết về bà). Bà đã đi khắp Tây Tạng và tiếp xúc với rất nhiều vị Lạt ma có khả năng kì lạ. Một số Lạt ma có thể đọc được suy nghĩ của người khác một cách dễ dàng, thậm chí họ còn có thể liên lạc được với nhau qua những khoảng cách rất xa nhờ ý nghĩ!
Điều kì lạ còn ở chỗ: suy nghĩ của con người có thể bị đọc bất chấp sự khác biệt về mặt ngôn ngữ (ban đầu Tác giả còn chưa biết tiếng Tạng, các Lạt ma thì hiển nhiên không biết tiếng Pháp! Vậy mà các Lạt ma dường như đọc được mọi suy nghĩ của bà).

Vậy phải giải thích vấn đề này như thế nào? Liệu suy nghĩ của con người có thể bức xạ ra ngoài không gian hay không, và con người có thể cảm nhận được bức xạ suy nghĩ của người khác hay không?

1. Nghiên cứu khả năng bức xạ tín hiệu của bộ não

Trong bài viết về khí công, ta đã biết về khả năng bức xạ của cơ thể nói chung. Tất nhiên bộ não cũng không ngoại lệ. Vấn đề là ở chỗ: Bộ não là trung tâm tư duy của cơ thể, và sóng bức xạ từ bộ não ra ngoài có chứa đựng các thông tin về khả năng tư duy, các ý nghĩ của con người hay không?

Bộ não điều khiển cơ thể bằng cách nào?
Khi bộ não muốn ra lệnh cho một bộ phận của cơ thể, tín hiệu điều khiển sẽ đi theo các dây thần kinh tới bộ phận đó. Tín hiệu thần kinh cũng là 1 loại sóng điện từ đặc biệt - sóng sinh học. Nhưng khác với Khí, sóng thần kinh có mang “thông tin điều khiển” (suy nghĩ), còn khí đơn thuần thì không mang thông tin về ý thức.

Người ta có thể đo được các sóng thần kinh này, thông qua đó kiểm tra trạng thái hoạt động của bộ não, phát hiện được các bệnh liên quan đến não. Y học hiện đại gọi đó là phương pháp điện não (chắc hẳn mọi người đều biết phương pháp này, nó rất phổ biến trong các bệnh viện). Người ta gắn quanh đầu bệnh nhân các điểm tiếp xúc, có dây dẫn tới thiết bị xử lý, vẽ, rồi in ra các đồ thị trạng thái (điện não đồ).

Ý thức có thể bức xạ ra ngoài cơ thể hay không?
Tín hiệu điện não có thể lan ra ngoài hộp sọ, tới bề mặt ngoài cùng của đầu, lại theo dây dẫn tới máy đo (như đã nói trong phương pháp điện não). Vậy thì việc dao dộng điện não đó tiếp tục lan truyền từ bề mặt cơ thể ra ngoài không gian cũng là điều dễ hiểu. Điều cần xem xét là tín hiệu đó truyền được bao xa, và con người có thể điều khiển được tín hiệu đó ở môi trường bên ngoài hay không?

Để nghiên cứu vấn đề trên, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều thí nghiệm khác nhau. ở đây chỉ xin trình bày 2 thí nghiệm (đã chiếu trên VTV2).

a) Thí nghiệm ở Italia:
Người tham gia thí nghiệm được gắn các điểm tiếp xúc vào đầu (giống như phương pháp điện não). Các điểm này được nối dây tới một máy tính. Người đó sẽ tập trung suy nghĩ, điều khiển bộ não tới những trạng thái khác nhau (thư thái, vui vẻ, nóng giận...). Các tín hiệu này được truyền về máy tính. ứng với các trạng thái đó, trên màn hình sẽ hiện ra 1 chữ cái. Từ đó người tham gia thí nghiệm có thể soạn thảo được một văn bản bằng ý nghĩ mà không cần đụng tay vào bàn phím!

b) Thí nghiệm ở Thuỵ Sĩ:
Cũng tương tự thí nghiệm trên, người tham gia thí nghiệm được gắn các điểm tiếp xúc, nhưng dây dẫn được nối tới 1 robot đơn giản. Bằng ý nghĩ của mình, người đó có thể điều khiển robot chuyển động theo ý muốn (tiến, lùi, rẽ trái, rẽ phải...)

Qua các thí nghiệm trên ta thấy: ý nghĩ của con người có thể được truyền ra khỏi cơ thể, và con người hoàn toàn có khả năng điều khiển được các bức xạ ý thức này.

2. Sự cảm nhận tín hiệu của bộ não con người

Làm cách nào con người có thể cảm nhận được môi trường xung quanh? Đó là nhờ các giác quan. Tất cả những thông tin mà các giác quan thu nhận được sẽ chuyển thành các tín hiệu thần kinh và truyền về não. Não nhận tín hiệu này, phân tích, xử lý, lưu trữ... Như vậy, có rất nhiều loại thông tin khác nhau như ánh sáng, âm thanh, mùi, vị... được chuyển hoá thành dạng tín hiệu thần kinh phù hợp với bộ não, để não có thể thu nhận được.

Nói một cách đơn giản, con người giống như một chiếc máy tính, thông tin có thể đưa vào máy tính dưới nhiều dạng khác nhau: Hình ảnh (scanner), âm thanh (micro), bàn phím, chuột... nhưng khi đã đưa tới bộ phận xử lý thì tất cả các thông tin đó đều phải chuyển về dạng nhị phân hết!

Từ đó, người ta đặt ra câu hỏi: có phải ngũ quan (5 giác quan) là con đường duy nhất để con người tiếp nhận thông tin từ bên ngoài? Nếu trong không gian có tồn tại những tín hiệu mang thông tin phù hợp với não thì bộ não có khả năng cảm nhận nó trực tiếp mà không cần 5 giác quan kia không? Rõ ràng về mặt logic, điều đó là hoàn toàn hợp lý. Tiếc rằng với trình độ của khoa học hiện nay chưa thể chế tạo được các thiết bị có khả năng bức xạ ra các sóng như vậy. Nhưng, như đã trình bày ở phần trên, chính bộ não của con người - bộ máy tuyệt vời của tự nhiên - lại làm được điều đó.

Bộ não làm việc hầu như không ngừng nghỉ (kể cả khi ngủ), đồng thới nó liên tục bức xạ các sóng thần kinh ra môi trường xung quanh. Nếu vậy, tại sao hầu như tất cả mọi người không cảm nhận được tín hiệu này? Có nhiều nguyên nhân khác nhau:

+ Đối với đa số người, tín hiệu thần kinh bức xạ ra là yếu, và nó còn bị suy hao do ảnh hưởng của môi trường, do đó nó chỉ có thể đi được một khoảng cách ngắn chứ không thể truyền xa. Chỉ những người được luyện tập bài bản, nội khí mạnh mẽ, sóng thần kinh của họ mới phát xa được. Đôi khi những hoàn cảch đặc biệt như sợ hãi, hoảng hốt, hay vui sướng cực độ cũng có thể kích thích bộ não người bình thường phát ra những bức xạ mạnh.

+ Mỗi bộ não lại có đặc điểm riêng và phát ra những bức xạ riêng. Do đó, mỗi bộ não chỉ có thể cảm nhận được những tín hiệu thần kinh phù hợp với nó chứ không phải mọi tín hiệu có trong môi trường. (Giống như một chiếc đài chỉ có thể thu được những sóng trong dải tần của nó, ngoài dải đó ra thì không thể thu được). Hiện tượng thần giao cách cảm tự nhiên (mà ta đề cập tới ở đầu bài viết) xảy ra chủ yếu đối với những người thân trong một gia đình, có lẽ là nhờ có những điểm tương đồng trong bộ não của họ.

Một số người do luyện tập có thể đạt được khả năng cảm nhận được nhiều loại sóng khác nhau. Tâm trí họ phẳng lặng, giống như một mặt nước, mà bất cứ một rung động nhỏ nào trong không gian cũng có thể tạo ra một gợn sóng trên đó.

Còn vấn đề về rào cản ngôn ngữ thì sao? Rõ ràng dù là người Anh, Pháp, hay Trung Quốc thì khi suy nghĩ cũng vẫn chỉ phát ra “các sóng thần kinh của con người” mà thôi, mà các sóng này đâu có phân biệt ngôn ngữ hay quốc tịch!

Một trường hợp nữa mà ta muốn đề cập tới ở đây, đó là: liệu một bộ não có thể cảm nhận được bức xạ thần kinh của chính bộ não đó hay không? Tất nhiên bức xạ thần kinh của bộ não đó thì phải phù hợp với khả năng cảm nhận của chính nó. Tuy nhiên, khi bức xạ đã phát ra ngoài thì nó thường bị suy hao hết do môi trường. Một số trường hợp do bức xạ đó quá mạnh (hoặc chứa các vi hạt không suy hao), truyền trong môi trường, đập vào các vật cản của môi trường (mà không bị suy hao hết), phản xạ trở về bộ não chủ, mang theo thông tin phản ánh về môi trường cho bộ não. (giống như nguyên lý hoạt động của rađa, hay cách tìm đường của con dơi). Nhờ đó tạo ra những khả năng đặc biệt của con người như nhìn xuyên (thấu thị), xuất vía... (vấn đề này còn có nhiều tranh cãi, rất mong các bạn góp ý, đặc biệt là những người có kinh nghiệm trực tiếp).

3. Luyện tập “Thần giao cách cảm”

Trong cuốn “Huyền thuật và đạo sĩ Tây Tạng”, bà A. D. Nill đã mô tả về một lớp học thần giao cách cảm như sau:

Đầu tiên, các học viên phải học tập trung tư tưởng, tập thở, tập thiền... Khi đã đạt một trình độ nhất định, họ sẽ được ngồi chung phòng với người thầy (thường là một vị lạt ma nhiều kinh nghiệm). Người thầy sẽ phát ra những luồng suy nghĩ lặp đi lặp lại, còn người học sẽ tập trung để cảm nhận suy nghĩ của người thầy. Khoảng cách giữa thầy và trò ban đầu là ngắn, sau tăng dần tuỳ thuộc vào sự trưởng thành của người học. Thường thì đa số học viên có thể nhận được thông tin từ thầy, nhưng không phải ai cũng có thể phát lại thông tin trả lời (khi ở khoảng cách xa).

Trong Thế chiến thứ 2, quân đội Mỹ rất quan tâm tới khả năng đặc biệt này của con người. Nhiều lớp huấn luyện đặc biệt cho các nhân viên tình báo đã được tổ chức. Họ được đào tạo về khả năng thần giao cách cảm, phục vụ cho việc trao đổi thông tin tình báo. Nhiều cuộc thí nghiệm cho thấy họ có thể truyền tin cho nhau ở khoảng cách xa hàng trăm Km. Có 1 thí nghiệm như sau:
Một nhân viên tình báo ở trên 1 con tàu bằng thép ở xa ngoài khơi, một người khác thì ở trên bờ. Kết quả là họ vẫn có thể trao đổi thông tin, dù tín hiệu điện não phải đi xuyên qua lớp thành tàu bằng thép dày hàng chục centimet! (thông tin này tôi đọc trên tạp chí Tri thức trẻ).

Ở Việt nam cũng có những lớp học về khả năng này. Tại một trường ĐH ở Hà nội có một giảng viên rất giỏi về khí công. Ông thường lựa chọn trong số SV của mình những người có tố chất để huấn luyện. Kết quả của các lớp học khá khả quan (tất nhiên là chưa thể đạt được trình độ cao như ở trên). Vào các buổi kiểm tra, ông thầy thường tập trung suy nghĩ vào 1 chữ cái hoặc chữ số, sau đó yêu cầu các SV trả lời (tỷ lệ thành công đạt tới trên 60%).

(Theo tinmoi.vn)
Read more…

Những câu chuyện về "giác quan thứ 6"

19:20 |
Thật kỳ lạ, trong đời sống mỗi người đều có ít nhất một lần được linh tính mách bảo. Linh cảm hay linh tính ấy thường được gọi là "giác quan thứ 6" và hiện nay vấn đề này còn được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.

Người ta thường nói đến giác quan thứ 6 của con người nhưng không hiểu giác quan này nằm ở đâu và có tác dụng gì?

Con người có tổng cộng 5 giác quan cơ bản, tuy vậy rất nhiều lần chúng ta nghe thấy cụm từ giác quan thứ 6 hay linh cảm, linh tính. Vậy giác quan thứ 6 thực sự là gì?


Năm 1920, lần đầu tiên khái niệm “giác quan thứ 6” đã được nhà khoa học Rudolf Tischner, người Đức xây dựng và phát triển. Ông định nghĩa khái niệm này bằng cụm từ Extra Sensory Perception (ESP), ám chỉ năng lực tiếp nhận thông tin thông qua một loại giác quan nằm ngoài 5 giác quan cơ bản.

Năng lực ESP được ông tổng kết trong 5 khả năng phổ biến là khả năng thần giao cách cảm, xuyên thấu, dự đoán tương lai, tác động sự vật bằng ý chí và nhìn lại quá khứ.

Tiến sĩ Gary Klein, tác giả cuốn sách “Trực giác hoạt động” cho rằng, cái mà người ta thường gọi là khả năng nhìn thấy cái vô hình chính là những năng lực tiềm tàng của trực giác con người. Đặc biệt, đối với những người mà nghề nghiệp buộc họ phải đưa ra những quyết định sinh tử và tức thì như lính cứu hỏa, y tá cấp cứu hay lính trận là những người thường thấy xuất hiện giác quan thứ 6.
Họ thường thực hiện các hành động theo một linh tính nào đó trong những tình huống khẩn cấp khi họ không thể chọn lựa hay đưa ra một quyết định có ý thức...

Lịch sử đã có nhiều minh chứng cho điều ấy. Nhà bác học Nga Mendeleev (1834-1907), người đã phát minh ra định luật tuần hoàn các nguyên tố hóa học, đã nằm mơ thấy hiện rõ ra trước mắt toàn bộ bảng tuần hoàn. Điều này có thể giải thích được vì có lẽ ông đã nghiên cứu hàng chục năm vấn đề này và đến khi chín mùi thì kết quả đã hiện ra trong giấc mơ, ông chỉ việc ngồi bật dậy và chép lại.

Nhà thơ Nag Lermontov (1814-1841) đã kể lại câu chuyện khi ông còn là sĩ quan biên phòng ở Kabkaz. Có một hôm ông đang ngồi đánh bài với lính của mình và nhìn thấy một người có vẻ mặt khác lạ so với ngày thường, ông bèn nói với người ấy: "Anh phải đề phòng, có lẽ anh sắp bị chết bất đắc kỳ tử. Đêm nay, anh nên ngủ lại ở đồn biên phòng và sáng mai hãy về". Người lính ấy không tin, ra về và dọc đường đã bị một người say rượu đâm chết.

Ingo Swann được biết đến với tư cách là người đặt nền móng cho việc khai thác năng lực nhìn từ xa (Remote Viewing). Swann có thể biết được một người đang ở đâu, miêu tả khá chính xác vị trí đó, hoặc nhìn xuyên qua một chiếc hộp đen từ bên ngoài một căn phòng đã niêm phong. Tuy nhiên, bản thân Swann không coi mình là một người ngoại cảm, mà chỉ đơn thuần là một nhà khoa học nghiên cứu thế giới tinh thần của con người thông qua một lý thuyết mang tên là CRV (Coordinate Remote Viewing).

Jeffry R. Palmer ở Australia là chuyên gia trong việc xác định dấu vết của những người mất tích và đã giúp cảnh sát rất nhiều trong việc đi tìm lời giải cho các vụ án bí hiểm. Ông còn được mệnh danh là “thám tử ngoại cảm” (Psychic Detective). Ông được báo chí thế giới đánh giá cao trong việc dự đoán chính xác hai thảm họa thiên nhiên là cơn bão Katrina ở Mỹ năm 2005, vụ sóng thần kinh hoàng năm 2004 ở Indonesia và một số quốc gia trong khu vực. Ông còn là cây bút nổi tiếng của các tạp chí hàng đầu như The New Age Journal, Current Living… về đề tài sử dụng sức mạnh tinh thần để chữa bệnh.

Về những khoa học còn mang đầy tính chất tiên đoán như kiến tạo học cũng đã có nhiều nhà bác học phát minh ra mỏ nhờ linh cảm. Viện sĩ Xobolev của Nga tìm ra kim cương ở vùng Iakutsk, viện sĩ Muratov (1908-1983) tìm ra dầu mỏ ở vùng Tây Xibêri đều do linh tính mách bảo. Điều này cũng có thể được giải thích bằng kinh nghiệm và sự so sánh kiến tạo với các miền khác trên thế giới của họ, nhưng mặt khác, linh tính cũng đóng vai trò rất quan trọng.

Nhiều lúc linh tính hoàn toàn trái ngược với logic, tư duy nhưng lại thích hợp. Napoleon (1769-1821) khi đánh vào nước Nga năm 1812 đã linh cảm là sẽ thất bại nhưng ông vẫn cứ tiến hành, vì theo ông, cái vĩ đại chỉ cách cái lố bịch có một bước.

Rõ ràng là từ lâu, nhiều học giả đã phải đau đầu vì cái thế giới cảm tính bao giờ cũng lẩn quất quanh ta, ngay trong ý nghĩ của ta nhưng lại cực kỳ bí ẩn.

Vừa rồi, tờ Zarubejom (tháng 11/1995) đã đăng lại bài của tờ Time (tháng 8/1995): "Linh cảm là một cảm giác hay một quy luật?". Sau đây xin trích một đoạn của bài báo ấy: "Vấn đề linh cảm rõ ràng là một bí mật lớn. Có một tư duy rất biện chứng của các nhà khoa học mà nhiều khi chúng ta quên đi: Trước một vấn đề mà ta không hiểu thì ta đừng giải thích bừa, vì làm như thế là ta tự dẫn ta vào ngõ cụt. Trong những trường hợp ấy, tốt nhất là ta tự thừa nhận cái chưa biết của mình và cũng đừng cho đó là một sự thật hiển nhiên. Bởi vì, vũ trụ là vô tận, đầy bí mật và mỗi ngày chúng ta chỉ biết thêm một chút trong cái ta chưa biết vô cùng lớn ấy. Nhưng như con kiến tha lâu đầy tổ, chúng ta cứ chịu khó tìm tòi và biết đâu sẽ tìm ra một quy luật chi phối toàn vũ trụ".

Điều khó hiểu hơn cả là tín hiệu mà ta cảm nhận được, cái mà ta gọi là "giác quan thứ 6" là lời mách bảo của một sức mạnh siêu nhiên nào đó hay là thuộc tính tự nhiên của loài người? Vì rõ ràng, linh tính không phải là kết quả quá trình tư duy, nó nằm ngoài phạm trù logic và biện chứng. Nhưng thật ngược đời, sự logic mà linh tính mách bảo, trong nhiều trường hợp dường như lại hợp lý và lại là điều cần phải làm.

Xưa nay, quan niệm thông thường cho rằng phụ nữ có linh cảm cao hơn nam giới. Người đàn bà giải quyết nhiều vấn đề xuất phát từ cảm tính. Ngược lại, người đàn ông bao giờ cũng đi từ logic của vấn đề. Nhưng cũng có nhiều phát minh nổi tiếng của các nhà bác học nam giới lại bắt đầu từ cảm tính. Nhà soạn nhạc vĩ đại người Áo là Mozart (1756-1791) khẳng định rằng, mỗi tác phẩm âm nhạc của ông là sự kết tinh của nguồn cảm hứng, tư duy sáng tạo và do linh tính mách bảo. Nhà vật lý, toán học và thiên văn học người Anh là Newton (1642-1727) đã phải công nhận linh tính đã đưa ông đến những phát minh vĩ đại.

Trong lịch sử, không những các nhà khoa học, các nhà quân sự mà cả những nhà chính trị cũng có khả năng linh cảm trước một số vấn đề. Một số người nổi tiếng cũng nhờ "giác quan thứ 6" mà thoát chết. Nhà chính trị người Anh Churchchill (1874-1965), được giải thưởng Nobel văn học năm 1953, hai lần làm Thủ tướng nước Anh (1940-1945) và (1951-1955), một lần thoát chết trong trận oanh tạc của không quân phát xít Đức là do linh tính mách bảo. Năm 1944, ông Churchchill vừa chuẩn bị rời trận địa tên lửa thì máy bay oanh tạc của Đức ập đến. Người tài xế vội vàng nổ máy cho xe đi. Không hiểu sao, Churchchill không chịu vào xe mà vòng chạy ra phía sau. Đúng lúc ấy, một quả bom nổ ngay cạnh cửa xe, làm thành một hố bom lớn, ngay chỗ Churchchill vừa đứng. Trong tập hồi ký của ông, Churchchill viết: "Dường như có một sức mạnh nội tâm đã mách bảo tôi phải rời ngay chỗ đứng".

Đến đây một câu hỏi đặt ra: "Những người bình thường có khả năng linh cảm không?". Như trên đã nói, ai cũng có ít nhiều khả năng này.

Tờ báo Scandal ở Mỹ năm 1994 có đăng một câu chuyện về giấc mơ kỳ lạ của một người mẹ: Chuyện kể rằng, 1865, một chú bé bên là Maks Hoffman 5 tuổi bang Wisconsin bị mắc chứng bệnh tả. Bác sĩ nói rằng không còn tia hy vọng nào cứu sống được chú. Ba ngày sau đó, chú bé trút hơi thở cuối cùng và mọi người đem chôn chú trong nghĩa địa của làng. Đêm hôm đó, trong giấc mơ, bà mẹ nghe thấy tiếng con trai trở mình trong quan tài. Bà kêu lên rồi chạy đến bên chồng, xin ông hãy ra mộ để cứu con. Ông chồng tất nhiên đã từ chối. Ông giải thích cho vợ mình rằng bà đã quá thương con nên đã thấy như vậy.

Nhưng đêm hôm sau, bà mẹ lại mơ thấy y như thế. Lần này, bà đã quyết tâm cùng người nhà ra cứu con. Lúc ấy đã gần nửa đêm. Mọi người treo đèn lên trên cành cây bên cạnh mộ và cặm cụi đào. Khi nắp quan tài vừa mở, ai cũng sửng sốt, vì thấy cậu bé nằm đúng tư thế mà người mẹ nhìn thấy trong mơ: "Cậu nằm nghiêng về phía bên phải, 2 tay xếp dưới má phải". Cậu bé không có biểu hiện gì của sự sống. Nhưng người cha vẫn bế con lên rồi bằng mọi cách hô hấp nhân tạo. Sau một giờ, điều kỳ diệu đã xảy ra: Cậu bé dần dần tỉnh lại. Rồi mọi người đã tìm các biện pháp giúp cậu phục hồi sức khỏe và chữa khỏi bệnh tả cho cậu. Về sau, Maks Hoffman đã sống tới 80 tuổi (1860-1940) tại thành phố Lincoln (bang Iowa, Mỹ). Vật kỷ niệm quý giá nhất đời ông là cái núm sắt nhỏ ở nắp quan tài mà từ trong đó, ông đã được cứu sống nhờ giấc mơ của người mẹ.

(Internet)
Read more…

Linh cảm – giác quan thứ 6 kỳ bí của con người

19:01 |
Linh cảm là khả năng biết trước một điều gì đó không thông qua các tác động của các giác quan. Vậy thì dựa vào đâu để biết?

Rõ ràng là từ lâu, nhiều học giả đã đau đầu vì thế giới cảm tính chưa được vén màn bí ẩn, ngay trong ý nghĩ của ta nhưng lại cực kỳ bí ẩn. Điều khó hiểu hơn cả là tín hiệu mà ta cảm nhận được, cái mà ta gọi là "giác quan thứ 6" là lời mách bảo của một sức mạnh siêu nhiên nào đó hay là thuộc tính tự nhiên của loài người? Vì rõ ràng, linh tính không phải là kết quả quá trình tư duy, nó nằm ngoài phạm trù logic và biện chứng. Nhưng thật ngược đời, sự logic mà linh tính mách bảo trong nhiều trường hợp dường như lại hợp lý và lại là điều cần phải làm...

Linh cảm không từ trên trời rơi xuống

Nhà toán học nổi tiếng người Pháp A.Poanhcarê nhớ lại, một lần ông không tài nào giải được một bài toán. Bực bội ông bỏ đi chơi nhưng thật hoàn toàn bất ngờ, trong lúc chơi ấy ông xuất hiện ý nghĩ về cách giải bài toán làm ông phải lao tâm khổ trí.

"Linh cảm" không phải rơi từ trời xuống với con người. Trực giác gắn bó rất chặt chẽ với những tri thức và kỹ năng được tiếp nhận từ trước, với kinh nghiệm đã được tích lũy và với logic của tư duy, tức là với những quá trình tâm lý hoàn toàn có ý thức. Chỉ có trên cơ sở như vậy, những "ý tưởng chói lọi" mới có thể nảy sinh ra trong trí óc, đôi khi hoàn toàn bất ngờ trong lúc nghỉ ngơi. Kiến thức, kinh nghiệm của con người càng nhiều bao nhiêu thì những giải pháp đúng đắn theo trực giác càng có thể xuất hiện thường xuyên bấy nhiêu.

Lịch sử đã có nhiều minh chứng cho điều ấy. Nhà bác học Nga Mendeleev (1834 - 1907), người đã phát minh ra định luật tuần hoàn các nguyên tố hóa học đã nằm mơ thấy hiện rõ ra trước mắt toàn bộ bảng tuần hoàn. Điều này có thể giải thích được bởi lẽ ông đã nghiên cứu hàng chục năm vấn đề này và đến khi chín muồi thì kết quả đã hiện ra trong giấc mơ, ông chỉ việc ngồi bật dậy và chép lại.

Viện sĩ Xobolev của Nga tìm ra kim cương ở vùng Iakutsk, viện sĩ Muratov (1908 - 1983) tìm ra dầu mỏ ở vùng Tây Xibêri đều do linh tính mách bảo. Điều này cũng có thể được giải thích bằng kinh nghiệm và sự so sánh kiến tạo với các miền khác trên thế giới của họ, nhưng mặt khác, linh tính cũng đóng vai trò rất quan trọng.

George Sors, nhà tỷ phú Mỹ xếp hạng 38 trong số những người giàu nhất thế giới là một ví dụ về khả năng tận dụng giác quan thứ 6. Phần lớn các cuộc đầu tư bạc tỷ của Sors đều dựa vào linh cảm. Ông cũng nói rằng mỗi khi lưng mình bắt đầu nhói đau là tín hiệu báo trước một điều gì đó không thuận lợi trong quyết định đầu tư chuẩn bị được đưa ra. Những trường hợp đó, ông đã nghiên cứu kỹ các điều kiện hoặc rút lui đúng lúc và nhờ vậy đã nhiều lần tránh được thất bại.

Nhiều lúc linh tính hoàn toàn trái ngược với logic, tư duy nhưng lại thích hợp. Tiêu biểu như câu chuyện của vị hoàng đế nổi tiếng Napoleon. Khi quyết định đem quân đi đánh nước Nga vào năm 1812, Napoleon đã linh tính trước rằng cuộc xâm chiếm này sẽ bị thất bại. Tuy nhiên, ông là một người căm ghét các nhà tiên tri và những lời bói toán, cộng với sự kiên quyết đến mức bảo thủ của mình, Napoleon đã làm trái với sự mách bảo của linh cảm và quyết tâm đánh chiếm nước Nga. Kết cục là sự việc không may lại diễn ra đúng như linh tính của ông.

Có thể luyện khả năng "linh cảm"?

Một nghiên cứu khác cho thấy, linh cảm giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của 80% trong số 253 họa sĩ, nhạc sĩ và văn sĩ. Các nghệ sĩ thiên tài thường xuyên đắm chìm trong thế giới nghệ thuật nên linh cảm đến thăm họ cũng "mắn" hơn. Những tác phẩm bất hủ của Picasso, Mozart... đều là kết quả đột phá của một quá trình chiêm nghiệm lâu dài, có khi "nổ ra" lúc họ đang ngủ. Phải chăng khả năng nắm bắt được linh cảm là năng khiếu bẩm sinh của các thiên tài và nghệ sĩ.

Weston Agor, một giáo sư Khoa quản lý đã nghiên cứu vai trò của linh cảm trong kinh doanh. Ông yêu cầu 2.000 nhà kinh doanh trả lời một test để xác định các nét tính cách. Ông khám phá ra rằng, ở các nhà lãnh đạo có tư duy trực giác tốt hơn nhiều so với các nhân viên bình thường. Agor nói: "Bạn gọi là linh cảm, trực giác hay giác quan thứ 6 cũng được. Họ nhìn thấy những điều người khác không nhìn thấy và đó chính là nguyên nhân đưa họ lên địa vị cao hơn".

Điều khó hiểu hơn cả là tín hiệu mà ta cảm nhận được, cái mà ta gọi là "giác quan thứ 6" là lời mách bảo của một sức mạnh siêu nhiên nào đó hay là thuộc tính tự nhiên của loài người?

Theo những giả thuyết gần đây về trí tuệ con người thì tư tưởng phát sinh từ hai hệ thống khác nhau. Hệ thống cảm nhận hoạt động do sự phân tích từ một quan sát đến ý thức. Nhưng còn có kiến thức loại suy kỳ lạ do cấu trúc sâu xa của tế bào não tạo ra. Não là bộ máy phức tạp với hàng tỷ tế bào thần kinh giao nhau nhờ vô số các hệ thống kết nối chằng chịt, có rất nhiều thông tin phụ tràn ngập tiềm thức hình thành nên những tri thức tiềm ẩn. Cái mà ta gọi là linh cảm và trực giác có thể là việc vận dụng tri thức tiềm ẩn đó, một loại tri thức mà con người không hệ thống hóa được.

Như vậy, chúng ta luôn luôn biết nhiều hơn mình tưởng. Tâm lý con người chỉ ý thức được một số ít những ấn tượng cảm nhận bằng giác quan. Những ấn tượng còn sót lại được bộ não cất giữ trong tiềm thức, luôn sẵn sàng đưa ra sử dụng. Có bác sĩ chỉ cần nghe các triệu chứng và biểu hiện của bệnh nhân là có thể nói chính xác căn bệnh trong khi bác sĩ khác phải đọc hàng tập giấy xét nghiệm mới kết luận được. Có thể nói bác sĩ này có trực giác hay linh cảm cao.

Tiềm thức không bao giờ ngưng hoạt động, luôn luôn tích lũy nhờ những thông tin, kinh nghiệm và trí nhớ. Tiềm thức là cái kho vô tận để nảy sinh các linh cảm. Cho nên linh cảm không phải là chuyện may mắn, linh cảm chỉ xuất hiện trên một bộ não đã được chuẩn bị. Khi gặp một vấn đề nan giải, bạn hãy cố hết sức mình. Nếu vẫn chưa vượt qua được hãy gác nó sang một bên, đi thư giãn hoặc làm việc khác. Nếu bạn đã tự trang bị cho mình những dữ kiện cần thiết, câu trả lời sẽ bật ra trong lúc bạn đang nghỉ ngơi giống như vô tình được thần linh mách bảo.

TS. Gary Klein, tác giả cuốn sách Trực giác hoạt động thì cho rằng, cái mà người ta thường gọi là khả năng nhìn thấy cái vô hình chính là những năng lực tiềm tàng của trực giác con người. Đặc biệt, đối với những người mà nghề nghiệp buộc họ phải đưa ra những quyết định sinh tử và tức thì như lính cứu hỏa, y tá cấp cứu hay lính trận là những người thường thấy xuất hiện giác quan thứ 6. Họ thường thực hiện các hành động theo một linh tính nào đó trong những tình huống khẩn cấp khi họ không thể chọn lựa hay đưa ra một quyết định có ý thức.

Linh tính không loại trừ tư duy, giống như kiến thức linh cảm không mâu thuẫn với tư duy phân tích. Linh tính có thể mách nước những ý tưởng thiên tài và trợ giúp có hiệu quả việc lựa chọn những quyết định hợp lý. Sẽ là sai lầm một khi chỉ dựa vào những lời mách nước của "nội tâm", nhưng sẽ tốt hơn khi vừa sử dụng linh tính, vừa sử dụng tư duy phân tích. Giác quan thứ 6 dựa trên chính "hai chân" như vậy.

(Theo sk và đs)
Read more…

Lời giải mới cho bí ẩn về "giác quan thứ 6"

18:01 |
Nghiên cứu mới chỉ ra, "giác quan thứ 6" khiến nhiều người nhìn thấy tương lai, cảm nhận điều kỳ bí sắp diễn ra là một thủ thuật của não.

Chúng ta vẫn nghe thấy nhiều người nói về "giác quan thứ 6" - khái niệm chỉ khả năng tiếp nhận thông tin của con người qua một kênh siêu nhiên, vượt trội hơn hẳn 5 giác quan bình thường kia. Qua đó, người này có thể linh cảm, dự đoán một điều tốt đẹp hoặc không hay sắp xảy đến trong tương lai. Tuy vậy, khả năng siêu phàm này vẫn là một bí ẩn lớn với nhân loại.



Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Australia đã chỉ ra, việc nhìn thấy tương lai hay cảm nhận những điều kỳ bí sắp diễn ra là một thủ thuật của não. Theo đó, tâm lý con người chỉ ý thức được một số ít những ấn tượng cảm nhận bằng 5 giác quan cơ bản: thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác, xúc giác. Những ấn tượng còn sót lại được bộ não cất giữ trong tiềm thức, luôn sẵn sàng đưa ra sử dụng.

Tuy nhiên, trước một vài vấn đề, bộ não con người ngay lập tức đã không đưa được ra cách xử lý thông tin, nên đã tạo ra một cảm giác mơ hồ, không hoàn toàn giải thích được.



Trong một nghiên cứu, các chuyên gia đã mời các tình nguyện viên cùng theo dõi hai bức tranh miêu tả một phụ nữ cùng cặp hình ảnh màu sắc khác nhau. Trong một số lần hình ảnh xuất hiện, kiểu tóc, trang sức, cách trang điểm... của phụ nữ trong bức ảnh sẽ thay đổi. Mỗi bức ảnh sẽ xuất hiện trong 1,5 giây.

Sau khi quan sát hai bức tranh, người tham gia sẽ được hỏi về sự thay đổi xuất hiện trong các bức tranh và được yêu cầu chọn từ một danh sách gồm 9 sự gợi ý, từ hoa tai, vòng cổ, kính, mũ, son môi, quần áo, kiểu tóc...

Kết quả cho thấy, những người tham gia có thể cảm nhận thấy sự thay đổi ngay cả khi họ không thể xác định chính xác những gì đã đổi thay. Hay nói cách khác, mọi người hoàn toàn có thể "cảm thấy", "linh tính" được sự thay đổi đã xảy ra mà không thể mô tả chính xác nó.



Tiến sĩ Howe thuộc trường ĐH Melbourne đã cho biết: "Một sự thật là nhiều người có thể cảm nhận, linh cảm, tưởng tượng được một điều gì đó mà không cần phải dựa vào giác quan truyền thống như nhìn, nghe, nếm, ngửi và chạm để xác định. Khả năng này được cho là giác quan thứ 6 - ESP".

Tiến sĩ Howe cho rằng, tiềm thức không bao giờ ngưng hoạt động, luôn luôn tích lũy nhờ những thông tin, kinh nghiệm và trí nhớ. Nó là cái kho vô tận để nảy sinh các linh cảm. Cho nên linh cảm không phải là chuyện may mắn, linh cảm chỉ xuất hiện trên một bộ não đã được chuẩn bị sẵn sàng, cùng với sự tư duy phân tích logic để cung cấp những "đầu mối" mà thôi.

Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí PLoS ONE.

(Nguồn tham khảo: Dailymail)
Read more…

Có thể Đức Phật ra đời sớm hơn chúng ta từng biết

18:15 |
Lumbini (Lâm Tỳ Ny) - phía Nam Nepal, gần biên giới với Ấn Độ - khu vực vốn bị rừng che phủ trước khi được tái phát hiện năm 1896 - ngày nay là một di sản của UNESCO và đón hàng trăm triệu tín đồ mỗi năm. Trên toàn thế giới, đạo Phật có khoảng 500 triệu tín đồ.

Bản đồ vị trí khai quật cổ sử - Lumbini (Nepal) - National Geographic photo

Lâm Tỳ Ni được xem là một trong những thánh tích thiêng liêng nhất của Phật giáo. Cho đến nay, bằng chứng sớm nhất về các công trình Phật giáo ở Lâm Tỳ Ni có niên đại không sớm hơn thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, tức thời kỳ trị vì của Hoàng đế Ashoka mà các Phật tử Việt Nam gọi là Vua A Dục.

Để tìm hiểu về điều này, các nhà khảo cổ đã bắt đầu khai quật ở trung tâm Đền Maya Devi.

Khu đền thiêng Maya Devi tại Lumbini

Nhà khảo cổ học Robin Coningham của trường Đại học Durham Vương quốc Anh đã đồng chủ trì một nhóm các nhà khảo cổ học quốc tế nghiên cứu tại Lumbini và hoạt động này được tài trợ một phần bởi Hội địa lý quốc gia Mỹ, có trụ sở tại Washington. Nhóm khảo cổ quốc tế báo cáo đã đào cấu trúc bằng gạch dưới ngôi chùa hiện tại, được đến thăm hàng năm bởi hàng trăm ngàn người hành hương.

Nhà khảo cổ học Robin Coningham 

Theo hãng tin AFP, ngày 25/11/2013, các nhà khảo cổ học đã công bố việc phát hiện những dấu vết về một công trình dường như là một đền thờ bằng gỗ cổ chưa từng được biết đến nằm bên dưới nền một ngôi đền bằng gạch thờ Hoàng hậu Maya Devi ở Lâm Tỳ có niên đại vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên (các kỹ thuật cac-bon phóng xạ và phát quang kích thích đã được sử dụng để xác định niên đại của các mảnh than củi và các hạt cát được tìm thấy tại hiện trường) cho thấy Đức Phật có thể đã sống ở thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, sớm 2 thế kỷ so với những ghi nhận trước đây.


Về cấu trúc thiết kế, công trình bằng gỗ này rỗng ở chính giữa và không có mái (nó có một khu vực không gian mở không được bảo vệ trước các tác động môi trường), điều này có sự tương đồng với ngôi đền Asokan được dựng phía trên nó, và có vẻ như một cái cây từng mọc lên từ đây bởi vì người ta cũng phát hiện dấu vết của rễ cây từ xa xưa nằm ở vị trí khoảng trống trung tâm trong ngôi nhà gỗ (nghiên cứu địa khảo cổ đã xác nhận sự tồn tại của các rễ cây) - có khả năng là cây nơi đức Phật tổ ra đời.


Chi tiết này gợi nhớ đến câu chuyện đản sinh của Đức Phật. Các điển tích Phật giáo ghi lại rằng Hoàng hậu Maya Devi đã hạ sinh Đức Phật khi với tay lên một nhánh cây Vô ưu trong Vườn Lâm Tỳ Ni.

Phát hiện này sẽ góp phần thúc đẩy công tác bảo tồn ở Lâm Tỳ Ni vốn lâu nay không được lưu tâm mặc dù đã được Unesco công nhận là Di sản Thế giới.

“Những phát hiện này rất quan trọng để giúp hiểu thêm về nơi đản sinh của Đức Phật,” Bộ trưởng Văn hóa, Du lịch và Hàng không dân dụng Nepal Ram Kumar Shrestha nói.

(suckhoe-doisong24h)
Read more…

Những khám phá thú vị về con người

02:51 |
Cơ thể con người chứa những điều kỳ diệu mà trí tưởng tượng phong phú cũng khó hình dung nổi. Chúng ta hãy cùng khám phá nhé.


Con người được sinh ra với hơn 300 chiếc xương trong cơ thể. Tuy nhiên, khi bước vào giai đoạn trưởng thành, cơ thể mỗi chúng ta chỉ còn lại 206 chiếc xương. Điều này xảy ra vì rất nhiều trong số những chiếc xương ban đầu đã hòa nhập với nhau để thành một xương đơn lẻ.

25% số xương của một người nằm tập trung trên hai bàn chân.

Cơ thể người có hơn 600 cơ, chiếm 40% trọng lượng toàn cơ thể.

Đầu của con người vẫn còn nhận thức khoảng 15 - 20 giây sau khi bị đứt lìa khỏi xác.

Lá phổi bên phải của con người lớn hơn lá phổi bên trái. Điều này là do, lá phổi bên trái phải nhường chỗ cho trái tim.

Lòng bàn tay và lòng bàn chân của bạn không thể bị rám nắng và cũng không thể mọc lông.

Cứ 24 giờ, cơ thể con người lại tiết ra khoảng 0,5 - 1,4 lít nước bọt. Trong suốt cuộc đời của mình, một người trung bình đã sản sinh ra khoảng 37.854 lít nước bọt.

Cơ thể của một người trưởng thành cần gần 40kg khí oxy mỗi ngày.



Tóc và móng tay người cấu tạo từ cùng một chất: keratin. Trung bình mỗi ngày, chúng ta bị rụng khoảng 40 - 100 sợi tóc.

Tính trung bình, một người tóc đỏ có 90.000 sợi tóc, trong khi những người có mái tóc đen sở hữu tới 110.000 sợi tóc. Ngoài ra, những người thông minh có lượng kẽm và đồng nhiều hơn trong tóc của họ.

Lý do cho việc tóc chuyển màu muối tiêu khi chúng ta già đi là vì, các tế bào sắc tố trong nang lông, vốn chịu trách nhiệm sản xuất ra "melanin" tạo màu cho tóc, bắt đầu chết đi.

Cứ mỗi xem-ti-mét vuông trên cơ thể người chứa trùng bình 5 triệu vi khuẩn trên đó.

Cứ khoảng 27 ngày, con người lại thải bỏ và tái phát triển các tế bào da ở lớp ngoài cùng, và như vậy sẽ có gần 1.000 lớp da mới trong suốt cuộc đời.

Cơ thể người có đủ lượng chất béo để sản xuất 7 bánh xà phòng.

Nếu bị mù một mắt, một người sẽ chỉ mất đi 1/5 thị lực nhưng mất tất cả khả năng cảm nhận về độ sâu.

Trái tim của con người có thể tạo đủ áp lực để phun máu ở khoảng cách xa tới hơn 9 mét.

Một người trung bình có khoảng 1,86 mét vuông da với khối lượng 2,7kg.

Mỗi con người chúng ta mất khoảng nửa giờ đồng hồ ở tình trạng một tế bào đơn lẻ.

Một tế bào máu đơn lẻ mất khoảng 60 giây để thực hiện một chu kỳ di chuyển hoàn chỉnh của cơ thể.

Tế bào lớn nhất trong cơ thể người là tế bào sinh sản của nữ hay còn gọi là tế bào trứng, có đường kính gần 0,2mm. Trong khi đó, tế bào nhỏ nhất trong cơ thể người là tinh trùng của nam giới. Phải cần tới khoảng 175.000 tinh trùng mới có tổng trọng lượng bằng một tế bào trứng.

Các thống kê cho thấy, trung bình, một người sẽ quan hệ tình dục tổng cộng hơn 3.000 lần và dành 2 tuần cho các nụ hôn trong suốt cuộc đời của mình.

Kỷ lục về số lần đạt cực khoái trong một giờ đồng hồ được ghi nhận đối với một phụ nữ là 134, nhưng đối với nam chỉ là 16.

Trong suốt cuộc đời, một người đàn ông trung bình sẽ dành 3.350 giờ đồng hồ để loại bỏ tổng cộng 8,4 mét râu.

47% số người trong chúng ta gặp ác mộng ít nhất mỗi tháng một lần.

Hầu hết chúng ta đều có các ký sinh trùng siêu nhỏ, được đặt tên là Demodex sống trong lông mi, móng tay chân và miệng của mình.

Khi ho, con người giải phóng ra một luồng khí có tốc độ hơn 96km/h.


Nam giới đổ mồ hôi nhiều hơn phụ nữ.

Móng tay và móng chân mất khoảng 6 tháng để mọc từ gốc tới đầu ngón tay hoặc ngón chân. Móng tay mọc nhanh nhất ở ngón giữa. Tuy nhiên, ngón tay nhạy cảm nhất trên một bàn tay người lại là ngón trỏ.

Một người sẽ chết vì thiếu ngủ nhanh hơn chết vì đói. Cái chết sẽ tới trong khoảng 10 ngày thiếu ngủ, trong khi con người sẽ chống chịu với cái đói được vài tuần cho tới khi tử thần gõ cửa.

Một người trung bình ngủ thiếp đi trong 7 phút.

Trong cả cuộc đời, một người trung bình đi bộ tổng quãng đường tương đương với 5 vòng xích đạo.

Phụ nữ trưởng thành nhanh hơn nhiều so với nam giới và cũng có chỉ số IQ trung bình cao hơn một chút so với nam giới. Ngoài ra, phụ nữ thường có thính giác tốt hơn so với nam giới.

Đàn ông đổ mồ hôi nhiều hơn 40% so với phụ nữ.

Trẻ nhỏ khóc nhưng chúng không tiết ra nước mắt cho tới 1 - 3 tháng sau sinh.

Cho mãi đến khi được 6 - 7 tháng tuổi, một đứa trẻ vẫn có thể thở và nuốt cùng một lúc. Điều này là nhiệm vụ bất khả thi đối với một người lớn.

Cứ 500 người thì có một người sở hữu một mắt màu xanh và một mắt màu nâu. Những người có đôi mắt màu xanh có khả năng nhìn tốt hơn trong bóng tối.

Trung bình, một người dành khoảng 5 năm để ăn trong suốt cuộc đời của mình.

Ban ngày, số trẻ nam sinh ra nhiều hơn số trẻ nữ nhưng ban đêm thì ngược lại.

Cười làm hạ lượng hoóc môn gây stress và tăng cường hệ thống miễn dịch. Trẻ em cười trung bình 400 lần/ngày trong khi con số này ở người lớn chỉ từ 15 - 100 lần/ngày. Đàn ông cười to hơn, dài hơn và thậm chí thường xuyên hơn so với phụ nữ.

Hai trẻ song sinh không bao giờ có vân tay giống hệt nhau.

Trong suốt cuộc đời của mình, bạn sẽ tiêu thụ khoảng 27,2 tấn thức ăn, tương đương trọng lượng của 6 con voi.

Vào mùa xuân, trẻ em phát triển nhanh hơn so với bất kỳ mùa nào khác trong năm.

11% số người trên hành tinh của chúng ta thuận tay trái.

Vào độ tuổi 70, 73% đàn ông vẫn còn khả năng quan hệ tình dục.

Các nhà khoa học phát hiện, những người đang nói dối thường có xu hướng nhìn lên trên và sang phía bên trái của họ.

Hầu hết đàn ông đều trải qua hiện tượng cương dương cứ 1 tiếng hoặc 1 tiếng rưỡi đồng hồ trong lúc ngủ.

Trung bình, phụ nữ nói 7.000 từ mỗi ngày trong khi con số này ở đàn ông chỉ là 2.000.

Bằng cách đi bộ thêm 20 phút mỗi ngày, một người trung bình sẽ đốt cháy được hơn 3kg chất béo trong một năm.

Các nhà xã hội học phát hiện, thực trạng kinh tế càng tồi tệ thì váy của phụ nữ càng dài, và ngược lại, khi nền kinh tế tốt đẹp hơn, váy của các quý bà, quý cô do đó lại ngắn đi.

35% số người sử dụng các quảng cáo cá nhân cho việc hẹn hò đã kết hôn.

Theo Vietnamnet
Read more…

Bí ẩn cơ thể người: “Công năng thấu thị” dựa trên nghiên cứu cận tâm lý

02:50 |
Trong hơn 70 năm nghiên cứu thực nghiệm, người ta đã chứng thực được sự tồn tại của những công năng này. Các nhà khoa học đã nhận thức thêm và hiểu rõ hơn rằng những công năng này đều bắt nguồn từ một dạng năng lượng tâm lý bí ẩn, điều mà sinh lý học hiện đại đã công nhận.

“Cận tâm lý học” (parapsychology) đã bắt đầu xuất hiện từ cuối thế kỷ 19 như một bộ môn tâm lý học thực nghiệm mới. Mục đích của nó là chứng thực thông qua khoa học thực nghiệm về sự tồn tại của các tiềm năng trên cơ thể người và các nhân tố ảnh hưởng đến những tiềm năng này. Tiềm năng cơ thể người còn được gọi là “công năng đặc dị”, và ở phương Tây nó được biết đến với cái tên “hiện tượng Psi”, có nghĩa là “chưa biết”. “Hiện tượng Psi” đã được nghiên cứu theo hai loại chính: tri giác siêu cảm (extrasensory perception) và trạng thái xuất thần (psychokinesis). “Tri giác siêu cảm” là chỉ khả năng có được năng lực tri giác mà không qua các giác quan, bao gồm tha tâm thông hay cảm ứng từ cự ly xa (telepathy), công năng thấu thị hay thiên mục (clairvoyance), công năng dao thị hay nhìn xa (remote viewing), công năng túc mệnh thông hay biết trước tương lai (precognition) và nhớ lại quá khứ (retrocognition). “Trạng thái xuất thần” là chỉ khả năng ảnh hưởng hay thao túng thế giới vật chất bên ngoài mà không cần động tay hay động chân, bao gồm công năng ban vận hay dùng ý niệm di chuyển vật thể (teleportation), dùng ý niệm điều khiển thiết bị điện tử, hoặc thúc đẩy hạt giống nảy mầm, v.v.


Trong hơn 70 năm nghiên cứu thực nghiệm, người ta đã chứng thực được sự tồn tại của những công năng này. Các nhà khoa học đã nhận thức thêm và hiểu rõ hơn rằng những công năng này đều bắt nguồn từ một dạng năng lượng tâm lý bí ẩn, điều mà sinh lý học hiện đại đã công nhận. Để vén bức màn bí ẩn bao phủ các tiềm năng của cơ thể người, người ta phải đột phá những rào cản cố hữu mà khoa học hiện đại dựng nên và thiết lập một cách tiếp cận mới để nhận thức cơ thể người và vũ trụ.

Vào cuối năm 2001, “Nghiên cứu cơ sở về cận tâm lý” (The Fundamental Study of Parapsychology) đã được biên soạn và xuất bản bởi nhà cận tâm lý nổi tiếng, K.R. Rao. Cuốn sách điện tử này đã tổng kết các thí nghiệm trong lĩnh vực cận tâm lý và sau đó phân tích kết quả. Qua tham khảo cuốn sách này, chúng ta có thể thấy được sự tiến bộ trong nghiên cứu lĩnh vực cận tâm lý và cùng nhau thảo luận về các bí ẩn của cơ thể người.

1. Công năng thấu thị: Chuỗi thí nghiệm Pearce-Pratt

Công năng thấu thị (clairvoyance) chỉ khả năng nhìn một đồ vật bị che khuất hoặc được ngăn cách bằng một bức tường (“cách tường khán vật”). Thí nghiệm kinh điển trong lĩnh vực này chính là chuỗi thí nghiệm Pearce-Pratt.

Năm 1934, Tiến sĩ J.B. Rhine thuộc Đại học Duke ở Hoa Kỳ đã thiết kế 5 bộ thẻ được gọi là Thẻ Trắc nghiệm Siêu cảm (Extrasensory Testing Cards). Trên mỗi bộ thẻ là một hình vẽ đơn giản: hình tròn, hình vuông, hình chữ thập, hình sóng nước và hình ngôi sao.

Bằng việc sử dụng 5 bộ thẻ này, ông và cộng sự, Tiến sĩ J.G. Pratt, đã tiến hành một chuỗi thí nghiệm trên một học sinh, H. E. Pearce, Jr., người tuyên bố là có công năng thấu thị.

Các thí nghiệm được tiến hành 34 lần trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 1933 đến tháng 3 năm 1934. Năm loại thẻ (tổng cộng 25 thẻ) đã được sử dụng vào mỗi lần thí nghiệm. Người được thí nghiệm, Pearce, Jr., ngồi trong một căn phòng nhỏ tại thư viện Đại học Duke, trong khi cộng sự Pratt ngồi trước một chiếc bàn ở tòa nhà cách nơi mà ông có thể thấy Pearce từ 100-200 thước. Trước khi thí nghiệm bắt đầu, Pratt trộn một cách ngẫu nhiên những tấm thẻ và đặt chúng ở phía bên phải chiếc bàn, với mặt thẻ có hình úp xuống. Một cuốn sách cũng được đặt ở giữa chiếc bàn.

Ngay khi thí nghiệm bắt đầu, Pratt chọn một tấm thẻ bằng tay phải và đặt nó lên cuốn sách với mặt có hình úp xuống. Cùng lúc đó, Pearce cố gắng đoán xem hình trên chiếc thẻ là gì. Một phút sau, Pratt dùng tay trái để chuyển chiếc thẻ từ cuốn sách sang phía bên trái của chiếc bàn với mặt thẻ úp xuống, và rồi chọn tấm thẻ tiếp theo bằng tay phải. Với mỗi chiếc thẻ được chọn trong vòng một phút, quá trình này tiếp tục cho tới khi 25 chiếc thẻ được lấy hết. Những chiếc thẻ luôn được đảm bảo là úp xuống trong toàn bộ quá trình, và cả Pearce và Pratt đều không thể nhìn thấy các hình vẽ.

Sau khi hoàn thành lượt đầu tiên của thí nghiệm, Pearce sẽ ghi lại đáp án vào một tờ giấy, gói kín trong một phong bì và đưa cho Tiến sĩ Rhine. Pratt cũng ghi lại đáp án mà ông cố gắng đoán rồi đưa riêng nó cho Tiến sĩ Rhine. Tiến sĩ Rhine mở cả hai phong bì và sau đó tiến hành phân tích kết quả thống kê. Pratt và Pearce cũng so sánh kết quả thống kê của Tiến sĩ Rhine với đáp án mà họ tự lưu để xem có sai sót nào không. Toàn bộ quá trình thí nghiệm rất tỉ mỉ, kỹ càng, và kết quả thống kê thu được là rất chính xác.



Phân tích thống kê cho thấy trong 74 lượt thí nghiệm với 1.850 chiếc thẻ được chọn, độ chính xác trong đáp án của Pearce là hơn 30%. Điều này vượt qua xác suất thống kê khi đoán ngẫu nhiên (chỉ là 20%), và mức độ có ý nghĩa lên tới 10-22. Nói thẳng là, đoán ngẫu nhiên mà không có công năng thấu thị thì không bao giờ đạt chính xác đến 30% (Rhine, 1934, 1937). Thí nghiệm này đã được công nhận rộng rãi trong lĩnh vực tâm lý học và Tiến sĩ Rhine cũng được ca ngợi như là cha đẻ của bộ môn cận tâm lý đương đại.

Nhiều nhà khoa học sau đó đã làm lại thí nghiệm này và cũng thu được kết quả tương tự. Điều này đã chứng thực sự tồn tại khách quan của công năng thấu thị. (Russell, 1943).

Tại sao Pearce có thể thấy được vật thể được che khuất từ một cự ly xa như vậy? Vấn đề này, điều mà các nhà khoa học nghĩ rằng thần bí và khó giải thích, có thể được hiểu một cách đơn giản bởi giới tu luyện. Họ cho rằng ở bộ phận phía trước thể tùng quả (pineal body) của cơ thể người đã được trang bị kết cấu hoàn chỉnh của một con mắt người, và y học hiện đại gọi nó là một con mắt thoái hóa. Trên trán người, ở giữa hai lông mày hơi chếch lên trên một chút, có một đường thông kết nối với con mắt này, con mắt ở phía trước thể tùng quả. Nếu một người có thể nhìn trực tiếp bằng con mắt này thông qua đường thông thay vì nhìn bằng con mắt thịt, thì người ấy có thể có sẵn lực xuyên thấu, thậm chí nhìn được những sự vật mà mắt thường nhìn không thấy. Đây là điều mà giới tu luyện gọi là “thiên mục”, hay con mắt thứ ba. Rất có thể Pearce đã dùng thiên mục để nhìn những chiếc thẻ kia. Trong trường hợp này, sẽ không có gì là thần bí khi anh có thể có lực xuyên thấu như vậy.

Tham khảo:

1. Rhine, J. G. Extrasensory Perception. Boston: Boston Society for Psychic Research, 1934.

2. Rhine, J. G. Some basic experiments in Extrasensory Perception-a background, Journal of Parapsychology, 1937,1,70-80.

3. Russell, W. Examination of ESP records for displacement effects. Journal of Parapsychology, 1943,7,104-17.

Tác giả: Ngô Uyên
http://phatphapchanthat.blogspot.com/search/label/z%20B%C3%AD%20m%E1%BA%ADt%20Ph%C3%A1p?updated-max=2011-07-11T07:37:00-07:00&max-results=20&start=81&by-date=false
Read more…

Trực giác: Thứ giác quan không tuân theo khoa học duy vật

02:49 |
Thứ duy nhất có giá trị thực sự là trực giác” – Albert Einstein

“Vui sướng; giận dữ; vui sướng … nhất định là vui sướng”. Khi một chiếc máy theo dõi bộ não của ông, “Bệnh nhân X” 52 tuổi không có vẻ như đang đoán các nét mặt một cách ngẫu nhiên mặc dù ông đã bị hai lần xuất huyết não mà đã gây tổn thương nghiêm trọng trung tâm xử lý hình ảnh của bộ não.

Mặc dù bị mù, Bệnh nhân X được cho xem các bức ảnh chụp những khuôn mặt biểu hiện sự sợ hãi, vui sướng, và các cảm xúc khác, và nhận thức được chúng một cách chính xác với một tỷ lệ phần trăm cao hơn nhiều so với việc đoán mò một cách ngẫu nhiên. Liệu đây có phải là một phương tiện để “nhìn” nằm bên ngoài cách nhìn bằng mắt hay không? Hay nó đơn giản là một chế độ nhận biết chưa được phát hiện ra?

Tiến sỹ Alan Pegna từ trường Đại học New South Wales, Australia và nhóm nghiên cứu của ông tại Geneva, Thụy Sĩ, đã kinh ngạc trước những kết quả thấy được trong nghiên cứu này. Trong quá trình chụp cắt lớp, não của Bệnh nhân X cho thấy hoạt động rõ rệt trong vùng hạch hạnh nhân (amygdala) bên phải. Kết quả này giống hệt với những gì được thực hiện bởi một đối tượng nghiên cứu có bộ não không bị tổn thương tham gia vào cùng một hoạt động đó.

Đối với nhiều bác sĩ thần kinh học, những trải nghiệm gần đây với Bệnh nhân X gợi ý về một khả năng thú vị – thêm một giác quan nữa vào năm giác quan đã được biết đến. Với những người khác, nó không hơn một bước khởi đầu của khoa học trong việc nghiên cứu khả năng trực giác nổi tiếng và đã được biết đến từ lâu.

Mặc dù trực giác ít được khoa học công nhận trong thế kỷ 20, sự thừa nhận về khả năng này đã tăng lên trong lĩnh vực sinh lý học thần kinh (neurophysiology) trong những năm gần đây. Thứ được cho là một khả năng để biết về những điều chưa xảy ra, những sự việc trong tương lai xa, hoặc những thay đổi sắp đến trong môi trường xung quanh, đã được hiểu rõ về cơ bản là bởi tất cả các dân tộc trên khắp thế giới hàng nghìn năm qua – bất chấp sự bác bỏ lâu nay của giới khoa học còn hoài nghi.

Khả năng siêu nhạy cảm hay giác quan thứ sáu?

“Biển đưa lên hàng trăm xác người, nhưng không có một con voi bị chết nào. Cũng không tìm thấy thậm chí một con mèo hay một con thỏ nào … rất kỳ lạ là không có cái chết nào của động vật được ghi nhận”. Những quan sát được thực hiện sau trận sóng thần năm 2004 ở Châu Á bởi một viên chức chính phủ Sri Lanka này đặt ra một số câu hỏi thú vị.

Đáng chú ý là, liệu động vật có khả năng cảm nhận nguy hiểm sắp xảy ra? Chúng đã chạy thoát khỏi trận sóng thần như thế nào? Chỉ vài phút trước khi biển dâng lên, đập tan hơn hai dặm đất liền, các động vật sống đã chạy thục mạng tới những vùng cao của hòn đảo.

Cùng lúc đó, những bộ lạc thổ dân trong vùng, có 60.000 năm tiếp xúc với môi trường tự nhiên, đã bắt chước theo hành vi của các loài động vật và cũng chạy trốn đến khu đất cao hơn. Kết quả là hầu như tất cả những cư dân địa phương đều sống sót thoát khỏi dòng nước hung dữ.

Nhưng chính xác là làm thế nào mà những thổ dân địa phương và các loài động vật nhận biết được mối đe dọa sắp xảy ra? Liệu có hợp lý không nếu cho rằng trực giác chính là câu trả lời? Và nếu quả đúng như vậy, thì cơ chế sinh học bí ẩn này hoạt động như thế nào?

Câu trả lời, đương nhiên, không hề dễ dàng để nói rõ như câu hỏi. Theo một số nhà nghiên cứu, trải qua nhiều năm, những người dân bản địa trên đảo đã phát triển được các bài học quan trọng từ việc sống rất gần gũi với thế giới tự nhiên.

Ví dụ, họ cảm thấy được tiếng bước chân của các con voi hoang dã dội đến khi chúng chạy nhanh về phía sâu trong đảo, và cũng chú ý đến hành vi kỳ lạ của cá heo, kỳ nhông, và việc các loài chim trên đảo bay lên hốt hoảng. Bằng cách này, họ đã nhận biết được một cách hiệu quả những gì mà các hệ thống ra-đa hiện đại không làm được, những thứ đã không thực hiện được chức năng của nó vào cái ngày xảy ra trận sóng thần.

Theo một bài báo trên ấn phẩm nổi tiếng Science (Khoa học), các nhà nghiên cứu từ Đại học Washington, St. Louis, nói rằng bí quyết để lường trước những sự việc này của những người bản xứ nằm ở một vùng não được biết đến như vùng đai phía trước. Khu vực địa lý não này trở nên hoạt động tích cực trong các tình huống thay đổi môi trường mà không thể nhận thấy bằng ý thức, nhưng tuy nhiên lại cần thiết cho sự sinh tồn của cá nhân.

Nhưng để hiểu được động vật đầu tiên đã trực cảm về trận sóng thần đang đến như thế nào có thể là một nhiệm vụ còn khó khăn hơn. Một số nhà nghiên cứu động vật đề xuất rằng các manh mối chẳng hạn như những thay đổi áp suất không khí, các rung động nhẹ cảm nhận được phát ra từ mặt đất, hoặc các âm thanh rất nhỏ của các con sóng đang đến gần – những dấu hiệu mặt khác là không thể nhận thấy được bởi các giác quan của con người – có thể giúp một số sinh vật cảm nhận được về nguy hiểm đang đến.

Tuy vậy, nhiều nhà khoa học tin rằng, trong trường hợp này cũng như với Bệnh nhân X, hẳn là có tồn tại một cách thức khác mà thông qua nó các dạng sống có thể nhận biết được môi trường của chúng – khác với thông qua âm thanh, rung động, hình ảnh, hoặc mùi vị. Có tài liệu ghi chép lại rằng các loài chim và các loài động vật khác đã rời khỏi một khu vực ngay trước khi núi lửa phun trào.

Cũng bằng cách như vậy, các nhà sinh vật học Trung Quốc đã thực hiện các nghiên cứu xác định rằng, vài phút trước một trận động đất, các con mèo, chó, và các loài vật nuôi trong nhà khác trong một khu vực trở nên khá kích động và trong một số trường hợp thậm chí tru lên, sủa hoặc kêu lên một cách khó bảo. Các nhà nghiên cứu miêu tả rằng trong những lúc đó, các con rắn rời khỏi hang, các con chim bay loạn trong lồng và các con chuột thì chạy toán loạn.

Một khả năng tiềm tàng

Thí nghiệm ban đầu khá đơn giản, bao gồm 40 tình nguyện viên và hai thợ chụp ảnh trong mỗi lần thí nghiệm. Người chỉ đạo thí nghiệm, Ronald Rensik, Phó Giáo sư về Khoa học Máy tính và Tâm lý học tại Đại học British Columbia, mô tả các vụ tai nạn ô tô đã bị gây ra như thế nào trong các trường hợp mà ở đó các lái xe có trách nhiệm trong vụ va chạm đã không nhìn thấy những chiếc ô-tô mà họ đâm vào. Nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Khoa học Tâm lý (Psychological Science).

Ban đầu các tình nguyện viên được cho xem một bức ảnh chụp hình một con đường, được đổi mới bằng một hình ảnh giống hệt một cách định kỳ. Tại một thời điểm ngẫu nhiên trong quá trình đổi mới hình ảnh, một sự thay đổi với hình ảnh đó đã được thực hiện – các vật thể, ví dụ như được gỡ bỏ, thay đổi, hoặc thêm vào – và những thay đổi này, thậm chí là khi khá đáng kể, thường được phát hiện là khó để nhận thấy.

Cuộc thử nghiệm yêu cầu các đối tượng nhấn một chiếc chuông khi họ nhận thấy một thay đổi trong chuỗi hình ảnh. Một ngạc nhiên lớn đã đến trong cuộc thí nghiệm khi một vài tình nguyện viên đã hỏi Rensik rằng liệu có phải là họ phải bấm chiếc chuông chỉ khi họ thực sự nhìn thấy sự thay đổi, hay họ có thể nhấn nó vào lúc họ linh cảm rằng một sự thay đổi sắp xảy ra.

Điều này đã thay đổi mạnh mẽ cuộc nghiên cứu. Rensik nhận thấy rằng không chỉ phần lớn các tình nguyện viên nhận ra được vào thời điểm chính xác mà thay đổi được tạo ra, mà thêm vào đó 1/3 các đối tượng nhấn nút ngay lập tức trước khi bức hình đã được thay đổi hiện ra.

Nghiên cứu này có vẻ như đã cho thấy rằng trực giác rất có thể là một cách thức ngoại cảm để phát hiện các thay đổi rất nhỏ trong môi trường. Nó gợi ý rằng chúng ta có thể có một khả năng nhận biết các kích thích mà thậm chí không thể phát hiện bằng các thiết bị công nghệ tiên tiến.

Vậy thì liệu chúng ta có thể tiến hành các bước để tăng cường các khả năng trực giác của mình không? Những cải thiện như thế yêu cầu những gì? Và tại sao động vật có vẻ như có trực giác tốt hơn chúng ta?

Con người cổ đại gắn bó mật thiết với các chu trình của thiên nhiên, họ rất tự hào về cái nhìn trực giác của mình. Một số người cho rằng khi con người hiện đại ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào công nghệ để hiểu biết về thế giới, kết quả làm cho trực giác thui chột đi. Trong văn hóa hiện đại của chúng ta, các khái niệm trực giác thường bị gièm pha để đề cao những thứ mà có thể được kiểm chứng một cách dễ dàng hơn.

Khi khoa học đang cố gắng để thừa nhận khả năng đáng kinh ngạc này của con người, thì liệu việc phát triển môi trường công nghệ của chúng ta có phải cũng làm thui chột các khả năng trực giác bẩm sinh của chúng ta hay không?

(Theo The Epoch Times)
http://phatphapchanthat.blogspot.com/search/label/z%20B%C3%AD%20m%E1%BA%ADt%20Ph%C3%A1p?updated-max=2011-07-11T07:37:00-07:00&max-results=20&start=81&by-date=false
Read more…

Khoa Học Gia Khám Phá Lại "Con Mắt Thứ Ba"

02:10 |
Do sư Tỷ đồng tu Lyn McGee.Ohio, Hoa Kỳ
(nguyên văn tiếng Anh)

Sự quan trọng của con mắt thứ ba, còn gọi là mắt huệ, đã được những người tìm Chân lý và tu hành biết đến qua hằng bao thế kỷ, nhưng chỉ mới gần đây khoa học cận đại mới công nhận sự hiện hữu của mắt huệ.
Thí dụ như, trong một khảo cứu gần đây của Nga Sô (http://english.pravda.ru/main/18/90/364/15560_thirdeye.html), phim chụp để trong một bao thư phản ánh sáng bắt đầu rửa ra có hình ảnh sau khi được đặt trên trán của những nhân vật thí nghiệm. Theo ông Vitaly Pravdivstev, nghiên cứu gia chính của cuộc khảo cứu: "Thử nghiệm này cho thấy một số người có khả năng phóng ra ‘hình ảnh từ não bộ’ từ một chỗ nào đó bên trong trán".
Ông Pravdivstev cho biết về sự liên hệ giữa khả năng này và trung tâm não bộ được gọi là con mắt thứ ba: "Những tập tục cổ truyền Á Ðông có thể chứng minh lý thuyết của chúng ta: họ nói rằng sự phóng xạ tỏa ra từ trung tâm năng lực của con người, khoa học bí truyền gọi trung tâm này là con mắt thứ ba".
Trong khoa động vật học, sự hiện hữu của con mắt thứ ba trong một số thú vật đã được công nhận. Khảo sát vê các loài bò sát và chim đã cho thấy chúng có con mắt thứ ba liên quan đến tuyến tùng (pineal gland). Con mắt này trông không giống như mắt thường mà có thể cảm nhận được ánh sáng và nhiệt độ (http://www.anapsid.org/parietal.html). Thêm vào đó, các khoa học gia đã khám phá rằng tuyến tùng của con người có những cơ quan cảm nhận được ánh sáng và sản xuất chất melatonin, được tiết ra tùy theo ánh sáng mà thân thể tiếp nhận được (xin đọc Bản Tin 133, "Tuyến tùng và Melatonin" http://godsdirectcontact.us/sm21/enews/www/133/ss.htm).
Nhưng các khoa học gia vẫn chưa xem trọng chức năng của tuyến tùng trong cơ thể con người. Dù nó cũng tương tự như con mắt thứ ba trong một số thú vật, con người không sử dụng tuyến tùng để trực tiếp cảm nhận ánh sáng. Một khám phá gần đây cho thấy mắt thường cũng có thể sản xuất được chất melatonin, làm cho vai trò của tuyến tùng trong con người càng ít quan trọng hơn nữa. Cuối cùng, khác với loài vật, con mắt thứ ba của loài người nằm sâu trong não bộ, và vị trí khác biệt này khiến cho tuyến tùng của con người dường như càng ít trọng yếu hơn. Vì theo trong luật tiến hóa, tuyến tùng có vẻ như sẽ từ từ biến mất, thay vì đóng vai trò quan trọng trong chức năng sinh tồn.
Nhưng khám phá từ những cuộc khảo cứu tương tự như của ông Vitaly Pravdivstev có thể sẽ thúc đẩy khoa học cận đại có cái nhìn mới về đề tài này. Khả năng phóng hình ảnh lên phim dường như đã biểu lộ rằng chức năng của tuyến tùng không những nhiều hơn chức năng mà các khoa học gia đã nhận biết, mà còn cho thấy cơ quan này có thể tự "nhìn thấy" và có tầm hoạt động vượt khỏi trình độ sinh tồn vật chất. Vì vậy, dù là đối với nhiều người con mắt thứ ba có vẻ như không còn hữu dụng, lý do đàng sau có thể hoàn toàn khác hẳn với những điều mà khoa học tin tưởng từ lâu. Tuyến tùng có thể chỉ cần được đánh thức, theo cách mà Sư Phụ đề cập là "nối tiếp trở lại với Thượng Ðế", để có thể hoạt động theo đúng vai trò của nó.
Một tác giả khác, nhà thần học G. de Puruker, trong thập niên 1920 đã viết về tuyến tùng và sự tiến hóa của nhân loại (http://www.theosociety.org/pasadena/man-evol/mie-16.htm) từ khía cạnh tâm linh nhiều hơn là sinh vật học:
Ngay cả hiện tại, tuyến tùng là nguồn gốc của trực giác. Khi chúng ta có một linh cảm, tuyến này nhẹ nhàng rung động; khi chúng ta có một hứng khởi hay một sự nhận biết trực giác, nó rung động mạnh hơn. Tuy nhiên sự khởi động của tuyến này khó khăn, vì cặp mắt thịt hoạt động mạnh hơn. Càng về sau, cặp mắt sẽ dần dần càng hoàn hảo hơn về chức năng, tuy nhiên chúng sẽ bớt đi tầm quan trọng, và "con mắt đầu tiên" sẽ tự nó trở lại.
Có lẽ là sự đề cập của nhà thần học de Puruker về "con mắt đầu tiên", một lần nữa công nhận sự quan trọng của nó, trùng hợp với bước tiến vào Thời đại Hoàng Kim của nhân loại. Nếu vậy, cuộc khảo cứu của Pravdivstev có thể được xem là khoa học đang xác nhận sự quan trọng thật sự của mắt huệ. Và từ đó, như Sư Phụ đã nói, mắt huệ là nơi chúng ta "đi" để tiếp xúc với Thượng Ðế bên trong, và trong những thập niên kế tiếp, tất cả chúng ta sẽ càng trân quý hơn nữa hơn sự quan trọng về việc tiếp xúc với Thượng Ðế của mình.♥
Tham khảo:
http://english.pravda.ru/main/18/90/364/15560_thirdeye.html
http://www.anapsid.org/parietal.html
http://godsdirectcontact.us/sm21/enews/www/133/ss.htm
http://www.theosociety.org/pasadena/man-evol/mie-16.htm
Nguồn: http://www.godsdirectcontact.org/unicode/news/161/ss1.htm


Tuyến Tùng Quả và Con Mắt Thứ Ba





Nguồn http://totha.vn/religion_detail.php?id=60


MELATONINE, NHỮNG ÐIỀU CHƯA BIẾT
Tác giả : BS. NGUYỄN VĂN THÔNG
Trước đây, tuyến tùng đã từng được gọi là "tuyến bí mật" vì người ta chưa hiểu rõ công năng của nó. Nhưng hiện nay các nhà khoa học đã chứng minh tuyến tùng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì sự điều hòa nội tiết. Ðặc biệt Melatonin (N-acetyl-5-methoxytryptamine) là một kích thích tố tự nhiên được tổng hợp và tiết ra từ tuyến tùng (pineal gland), và được điều hòa qua các thụ điểm bêta- adrenergic có khả năng phòng và chữa trị được nhiều căn bệnh.



Tuyến tùng (pineal gland) nằm ở não thất thứ ba, trong hố yên ngựa. Tuyến nối với vùng dưới đồi (hypothalamus) bằng một cái cuống và sẽ nhận những thông tin từ não qua cuống này. Sở dĩ gọi là tuyến tùng (pineal) vì nó có hình dạng giống như quả thông, dài khoảng 0,64cm, nặng khoảng 0,1g. Tuyến tùng đã từng được gọi là "tuyến bí mật" vì cơ năng của nó không được hiểu rõ. Hiện nay người ta đã biết tuyến tùng đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì sự điều hòa nội tiết, có cơ năng miễn nhiễm và chu kỳ 24 giờ (circadian rhythm). Tuyến tùng được ví như một đồng hồ sinh học vì nó tiết ra melatonin vào buổi tối. Nồng độ melatonin cao nhất vào khoảng 2 giờ sáng đối với người trẻ tuổi và 3 giờ sáng ở người lớn tuổi. Mức độ tối đa melatonin được tiết ra ở người cao tuổi chỉ bằng một nửa đối với người trẻ. Mức độ thấp vào ban ngày. Khi mặt trời lặn, sự thiếu ánh sáng sẽ gây ra những tín hiệu thần kinh để kích thích tuyến tùng bắt đầu tiết ra melatonin. Sự chậm trễ và cường độ giảm của tình trạng tiết ra melatonin là một biểu hiện của tuổi tác.
Melatonin uống vào buổi tối (trong múi giờ mới) sẽ giúp điều chỉnh đồng hồ sinh học và tránh được những triệu chứng "jet-lag" (sự mệt mỏi, rối loạn sau một chuyến bay dài). Trong một nghiên cứu gần đây trên 17 người bay từ San Francisco tới London (cách xa 8 múi giờ). 8 người uống 5mg melatonin, trong khi 9 người uống placebo. Kết quả những người uống melatonin không có triệu chứng jet-lag; trong khi 6 trong 9 người uống placebo có triệu chứng trên.
Trong mọi trường hợp, melatonin nên uống vào buổi tối (tốt nhất là trước nửa đêm) trước khi đi ngủ. Ðó là lúc tuyến tùng tiết ra melatonin một cách tự nhiên.
Ngoài công dụng chữa trị chứng "Jet-lag", melatonin còn đang được nghiên cứu để chữa trị một số bệnh như bệnh sầu muộn theo mùa (seasonal affective disorder hay SAD), suy nhược tâm thần và ung thư. Trích tinh tuyến tùng (pineal polypeptide extract) đã được chứng minh là có tác dụng ngăn chặn xơ cứng động mạch, giảm nồng độ triglycerides, làm tăng khả năng miễn dịch tế bào và giúp tăng tuổi thọ.
MELATONIN LÀM TĂNG HAY GIẢM KHẢ NĂNG TINH THẦN?
Một số nghiên cứu cho rằng melatonin có ảnh hưởng không tốt đến khả năng tinh thần; Chẳng hạn những người dùng melatonin ít tỉnh táo, hay buồn ngủ và phản ứng chậm chạp. Ngược lại một số nghiên cứu khác chứng minh melatonin có ảnh hưởng tốt đến trí nhớ và khả năng tinh thần. Tuy nhiên trong những nghiên cứu trên, melatonin lại được dùng vào ban ngày thay vì vào buổi tối; Mà với những thuốc nhằm làm tăng chu kỳ thời gian 24 giờ như melatonin, thời điểm dùng là rất quan trọng. Khi dùng ngược với chu kỳ tự nhiên, chúng sẽ gây suy giảm cơ năng nhận thức cũng như "jet-lag". Nhưng khi uống đồng bộ với chu kỳ thời gian 24 giờ, sẽ giúp gia tăng khả năng tinh thần. Melatonin còn có tác dụng chữa trị bệnh sầu muộn theo mùa và bệnh trầm cảm. Hai điểm cần chú trọng về chứng sầu muộn theo mùa và trầm cảm là sự tiết melatonin bị suy giảm. Trên cơ sở đó các nhà nghiên cứu đã dùng melatonin để chữa trị chứng suy nhược thần kinh với kết quả rất khả quan.
MELATONIN GIÚP TĂNG TUỔI THỌ
Melatonin đã được chứng minh là giúp làm tăng tính miễn dịch và tuổi thọ ở chuột thử nghiệm. BS Maestroni đã cho chuột uống melatonin mỗi buổi chiều. Chúng trở nên mạnh khỏe và mạnh dạn hơn, tăng hoạt, lông dày, bóng bẩy và sống lâu hơn 20% so với những con chuột đối chứng. Tình trạng tiết melatonin sẽ giảm dần theo tuổi tác, do đó có thể giải thích vì sao người cao tuổi lại hay khó ngủ và thường cảm thấy mệt mỏi lúc ban ngày. Sự phục hồi "chu kỳ thức - ngủ" cho người cao tuổi bằng melatonin (dùng trước khi đi ngủ) đã giúp họ hưng phấn hơn trong cuộc sống.
MELATONIN VÀ KHẢ NĂNG CHỐNG STRESS
Các cuộc nghiên cứu mới đây đã cho thấy melatonin có khả năng chống stress. Hiệu ứng chống stress của melatonin đạt được thông qua sự biến đổi tiến trình điều chỉnh của hệ thần kinh trung ương, sự đồng bộ hóa nhịp thời gian trong ngày, tối ưu hóa tuyến nội tiết và tình trạng miễn dịch của cơ thể. Nếu tác dụng chống stress này được kiểm tra và khẳng định, hứa hẹn sẽ cho ra đời loại thuốc hiệu quả để điều trị chứng sa sút tâm thần.
MELATONIN VÀ KHẢ NĂNG CHỮA TRỊ UNG THƯ
Một số công trình nghiên cứu cho thấy melatonin có thể ức chế sự tăng trưởng của khối u. Với liều cao (40-50mg), uống đồng thời với "Recombinant Interleukin- 2" để điều trị nhiều loại ung thư khác nhau, đã cho thấy Melatonin có khả năng kiềm hãm sự tiến triển của bệnh.
MELATONIN VÀ BỆNH ALZHEIMER
Nhiều nghiên cứu mới đây đã tìm thấy nồng độ melatonin thấp trong dịch não tủy của những bệnh nhân Alzheimer (so với những người bình thường). Do nhịp thời gian 24 giờ bị xáo trộn ở bệnh Alzheimer, nên người ta cho rằng nếu điều chỉnh melatonin đến mức bình thường có thể sẽ làm giảm triệu chứng bệnh.
MELATONIN VÀ ÐIỆN TỪ TRƯỜNG
Ánh nắng mặt trời là yếu tố môi trường ảnh hưởng nhiều nhất đến đồng hồ cơ thể (internal clock) và sự sản xuất melatonin về đêm. Có những bằng chứng cho thấy điện từ trường của trái đất cũng có ảnh hưởng tới nhịp thời gian 24 giờ của con người. Khi bị tách khỏi điện từ trường của trái đất, nhịp thời gian 24 giờ có thể bị xáo trộn (như trường hợp các phi hành gia vũ trụ). Ngoài ra sự tiếp xúc với điện từ trường phát ra từ các máy móc dùng trong nhà hay nguồn điện cũng có thể ảnh hưởng xấu đến cơ thể. Bổ sung melatonin có thể giúp ta tránh khỏi những hậu quả không tốt đó.
LIỀU LƯỢNG MELATONIN
Liều dùng thay đổi tùy theo tình trạng của mỗi người. Theo BS. Pierpaoli, một chuyên gia về Melatonin, liều dùng có thể từ 0,1-200mg tùy theo từng trường hợp. Sự khác biệt từ liều thấp tới liều cao là rất lớn. Nên bắt đầu melatonin với liều 3mg lúc 11 giờ đêm và thay đổi liều từ từ. Nếu bệnh nhân ngủ ngon nhưng cảm thấy ngầy ngật vào sáng hôm sau thì giảm liều xuống một nửa. Nếu bệnh nhân chưa ngủ ngon với liều đó, có thể tăng dần 3mg mỗi tối cho đến khi đạt được kết quả mong muốn. Ða số có kết quả tốt với liều từ 3-10mg.
THẬN TRỌNG KHI SỬ DỤNG THUỐC
Thời điểm dùng thuốc là yếu tố rất quan trọng. Sự khác biệt cá nhân về tình trạng hấp thu và biến dưỡng của melatonin có thể giải thích được vấn đề khác biệt về liều dùng.
(Theo US Pharmacist, 2/2003)
Nguồn: http://ybacsi.com/y-hoc-pho-thong/show.php?get=1&id=noikhoa/13_0088





Tuyến Tùng và Melatonin


Tuyến tùng là một bộ phận dẹp, hình nón, nhỏ bằng hột đậu nằm ở trung điểm của não bộ. Nó trưởng thành tới mức độ tối đa trong thời kỳ thơ ấu, nhưng sau đó nó trở thành cứng lại và teo dần theo tuổi tác.


Tuyến Tùng và Melatonin

Số lượng melatonin sản xuất bởi tuyến tùng tùy thuộc vào số lượng ánh sáng mà nó nhận được, vì tuyến này đóng vai trò "đồng hồ" của thân thể do sự nhạy cảm của nó đối với ánh sáng và sự điều hành chu kỳ ngủ-tỉnh. Trong giấc ngủ về đêm, mức độ melatonin trong thân thể tăng lên, giữa 11 giờ đêm và 2 giờ sáng là nhiều nhất, sau đó lại giảm xuống rất nhanh khi một ngày mới bắt đầu.

Số lượng sản xuất melatonin tùy thuộc vào tuổi tác, tăng lên sau khi sinh ra đời ba tháng, tới mức tối đa lúc lên sáu tuổi, và khởi sự giảm xuống sau tuổi dậy thì.

Ảnh Hưởng của Melatonin Trong Cơ Thể Con Người

Melatonin có một kết cấu hóa học đơn giản nhưng lại đóng một vai trò quyết định đối với thân thể, kiểm soát công việc của các bộ phận, các tuyến, và điều hòa sự sản xuất kích thích tố. Nó cũng kiềm chế sự kích thích thái quá do dây thần kinh giao cảm gây ra để hạ áp suất của máu và giảm bớt nhịp tim, do đó tim đỡ phần nào ảnh hưởng. Nó cũng làm dịu bớt những phiền muộn về tinh thần, giúp ngủ ngon, điều chỉnh giờ giấc thân thể, giảm chứng ngủ-tỉnh không đúng lúc sau khi đi máy bay, tăng cường sức miễn nhiễm, gia tăng sức đề kháng của cơ thể đối với vi trùng và vi khuẩn, và ngăn ngừa bịnh ung thư và bịnh mất trí về già.

Số lượng melatonin được sản xuất đi ngược với số lượng serotonin, một chất hóa học làm mạch máu co lại và có nhiệm vụ dẫn luồng thần kinh (neurotransmitter). Ban ngày, đầu óc hoạt động nhiều nhất, đó là lúc nó chạy lung tung và hay bị phân tâm, khiến số lượng serotonin cần cho dây thần kinh bị tăng lên. Ban đêm hay lúc thiền, đầu óc bớt hoạt động, số lượng serotonin giảm xuống và melatonin tăng lên, và tình trạng này thay đổi. Tuy nhiên, khi mắt nhận ánh sáng, mức sản xuất melatonin giảm xuống. Vì lý do này mà những người làm việc ban đêm và những người ngủ với ánh sáng có sức kháng bệnh thấp hơn và có khuynh hướng bị ung thư nhiều hơn người khác.

Hai cuộc nghiên cứu ở Hoa Kỳ cho biết ánh sáng chói về đêm làm giảm số lượng melatonin và gia tăng chất kích thích tố estrogen trong phụ nữ, do đó cũng gia tăng chứng ung thư trong phụ nữ làm việc ban đêm. Cuộc nghiên cứu về những trẻ sơ sinh chết bất ngờ cho thấy các em bé này có tuyến tùng chậm phát triển, làm giảm mức melatonin và làm yếu khả năng đối phó với các phân tử tự do trong óc (những phân tử không có đủ bộ nguyên tử), khiến cho não bộ dễ bị hại bởi những phân tử này. Một cuộc khảo cứu khác về bịnh buồn khổ tâm trí trong trẻ em và người lớn cho thấy mực độ melatonin trong những bệnh nhân tâm thần này thấp hơn những người bình thường khỏe mạnh.

Nguồn Gốc Của Melatonin

Melatonin có một ít trong những loại cây như: cốm (oats), bắp ngô, gạo, gừng, cà chua, chuối và lúa mạch. Dùng những loại thức ăn khác như rong biển, đậu nành, hột bí, hột dưa, quả hạnh nhân (almond), đậu phọng, men (yeast), mạch nha, và sữa, giúp gia tăng số lượng melatonin trong thân thể.

Giảm tiêu thụ thức ăn sẽ giữ melatolin ở mức độ bình thường. Những cuộc nghiên cứu cho biết chuột già ăn ít có tuyến tùng khỏe mạnh như chuột non và có thể điều hòa sự sản xuất melatonin. Mức melatonin trong những con chuột này bằng 80% số lượng melatonin trong chuột non, trong khi những con chuột già không bị hạn chế ăn chỉ có 40%.

Kết Luận

Mặc dù melatonin có một ảnh hưởng quan trọng trong cơ thể con người, nhưng điều này vẫn chưa đưa đến một kết luận cụ thể nào cho biết dùng thêm chất melatonin là có lợi cho sức khỏe. Nghiên cứu cho biết cơ thể đàn bà ngồi thiền có nhiều melatonin hơn. Tập thể dục ngón chân cái cũng kích thích sự sản xuất melatonin. Tập thể dục ban ngày làm gia tăng số lượng melatonin, trong khi tập thể dục ban đêm sẽ có kết quả ngược lại. Do đó, chúng ta nên ăn ít đi, ngồi thiền, tập thể dục thường xuyên ban ngày và có một đời sống kỷ luật.

Nguồn: http://www.datviet.com/archive/index.php/t-101726.html


Tuyến Yên (hìnhcuả hocmai.vn)


Con mắt thứ 3


(CXH.VN) Mỗi khi tâm hồn tiến tới tâm thức khách quan, tuyến tùng và tuyến yên cũng đều phát triển theo. Khi nào nhân cách của một người phát triển đến mức hoàn thiện thì nó tạo ra trong tuyến yên một phản ứng từ tính mạnh dần lên cho đến lúc sự phóng xạ chạm vào tuyến tùng.
Bấy giờ phát sinh “con mắt thứ ba” là kết quả của sự phản ứng rung động siêu thức qua lại do tuyến tùng tác động lên sức mạnh nhân cách. Vào chính thời điểm đó xuất hiện “một tia sáng trong đầu” khi “con mắt thứ ba” được phát sinh, con nguời thực sự thấy được những điều thiêng liêng. Đối với đại bộ phận của nhân loại, không có”con mắt thứ ba”. Những ai muốn đạt được trình độ hiểu biết về tinh thần tiềm ẩn, thì cần phải cố gắng luyện tập rung động đạt đến trình độ siêu thức để có được “con mắt thứ ba”.
Nguồn: http://www.camxahoc.vn/?p=854



MỐI QUAN HỆ GIỮA LUÂN XA 6, LUÂN XA 7 VỚI TUYẾN TÙNG TUYẾN YÊN VÀ SỨC KHỎE CON NGƯỜI


Bs Nguyễn Thị Kim Loan tham gia Hội thảo khoa học Chẩn trị bệnh bằng các phương pháp Y học bổ sung do Trung tâm UNESCO Hỗ trợ sức khỏe cộng đồng tổ chức tại Hà Nội ngày 4/ 4/ 2008
Sức khỏe luôn là mối quan tâm hàng đầu của con người. Chúng ta ai cũng mong muốn được khoẻ mạnh, không bệnh tật gì. Nếu bị bệnh mong được khỏi bệnh . Đối với Tây y, nguyên nhân gây bệnh do vi khuẩn, siêu vi khuẩn thì dùng thuốc tiêu diệt vi khuẩn. Nguyên nhân do khiếm khuyết về gen thì sửa chữa gen thậm chí hỏng tạng nào thì thay tạng đó. Đối với Y học phương đông, bênh do mất cân bằng âm dương gây nên, điều trị tận gốc là lập lại cân bằng này. Với môn Năng lượng Vũ trụ mà ở nước ta gọi là Nhân điện thì gốc của sức khỏe là năng lượng, thiếu năng lượng ứ trệ năng lượng thì sinh bệnh, bù đủ năng lượng và tăng cường lưu thông năng lượng thì đỡ bệnh, khỏi bệnh.
Bài học đầu tiên của môn Nhân điện là Hệ thống Luân xa ( LX, Chakra).



Yếu tố quyết định của môn Nhân điện là khai mở Hệ thống Luân xa 100%.
Từ xa xưa, con người đã biết đến Hệ thống Luân xa. LX được coi là trung tâm năng lượng của cơ thể, Hệ thống LX như cửa ngõ lưu thông năng lượng giữa con người và năng lượng vũ trụ. Cơ thể con người ta có 7 LX chính còn gọi là 7 đại huyệt. Trong bài này tôi xin được đi sâu vào 2 LX chính đó là LX6 và LX7. Những ai đã học và thực hành môn Nhân điện thì đều biết LX6, LX7 đóng vai trò chủ đạo trong nhận và truyền Năng lượng vũ trụ. Việc kết nối và sử dụng LX6, LX7 đồng hành với học viên Nhân điện từ lớp thấp nhất đến lớp cao nhất, nó giúp cơ thể nhận và truyền Năng lượng Vũ trụ làm tăng sức đề kháng của cơ thể.Vì sao vậy?
Tôi xin phép chỉ nêu ra đây một số minh chứng lý luận, dùng kiến thức Tây y qua một số tài liệu của các nhà nghiên cứu, các giáo sư đang nghiên cứu giảng dạy tại các trường Đại học trên thé giới như:

Quyển ''Chakra'' của Hais Johari
Tài liệu ''Pineal gland'' của Aon Lerner -Đại học Yale Hoa kỳ
Wikipedia - Yahoo
Quyển ''Sinh lý học'' của Trường đại học Y Hà Nội
Theo tài liệu của Hais Johari, ông khẳng định LX6 liên quan đến tuyến Tùng (Pineal gland ), LX 7 liên quan đến tuyến Yên ( Pituitary gland )
Tuyến Tùng (TT)
Tuyến Tùng hình quả thông, màu đỏ xám,kích thước nhỏ,chiều dài 0,5-0,7cm. Nằm giữa bán cầu đại não
Chức năng:
1. TT là tuyến nội tiết sản xuất ra Hormon Melatholin, giáo sư Aon Lerner và cộng sự đã chứng minh được Melatholin được tiết ra đậm đặc ỏ TT. Hormon này đóng vai trò trong một số hoạt động của con người và động vật:
Điều hòa chu trình thức ngủ của con người, ngủ đông của động vật.
Chống lại sự lão hóa của các Neuron thần kinh.
Đóng vai trò trong việc phát triẻn giới tính ở người và sinh sản theo mùa của động vật. Ở trẻ nhỏ TT phát triển đến khi dậy thì TT nhỏ dần, ở người lớn thì vôi hóa.
2. TT tiết ra các chất gây hưng phấn giống với cần sa , Cocain gây cảm giác koái cảm , giảm đau.
3. TT kích thích tuyến Ức trong việc hoạt hóa Lymphocyt miễn dịch.
4. TT là nơi giao lưu giữa trí khôn với cơ thể. Nó hoạt động mạnh trong quá khứ của loài người như con mắt thứ 3. Ngày nay chức năng này không còn thiết yếu nữa. TT đang trở thành bộ phận bị thoái hóa.
5. TT liên quan đến LX6 và một phần LX7, người ta tin rằng nếu được khai mở LX 100% và luyện tập đều đặn sẽ đánh thức được TT, không những trẻ khỏe mà còn có khả năng giao cảm.
Tuyến yên (Pituitary gland, TY)
TY là tuyến nội tiết, kích thước nhỏ đường kính khoảng 0,7-1cm, trọng lượng koảng 1 g. TY nằm giữa đáy nền sọ, trong hố Yên thuộc xương bướm. Tuy nhỏ nhưng TY đóng vai trò nhạc trưởng chỉ huy một số tuyến nội tiết khác và trực tiếp tham gia quá trình chuyển hóa phát triển cơ thể thông qua các Hormon của nó:
hGH (human Growth Hormon) là Hormon tăng trưởng cơ thể, kích thích sụn, xương phát triển, tăng tổng hợp protein, tăng chuyển hóa lipit, gluxit.
TSH (Thyroid stimulating Hormon) là Hormon kích thích tuyến giáp phát triển, tăng khả năng tạo Hormon tuyến giáp.
ACTH (Adreno Cỏticotropin Hormon) là Hormon kích thích tuyến thượng thận phát triển lớp vỏ để sản sinh ra Cortisol và Androgen. ACTH tác dụng lên não làm tưng trí nhớ, tăng cảm xúc. ACTH tác dụng lên tế bào sắc tố sản xuất ra Melanin rồi phân tán trên da
FSH (Follcle Stimulating Hormon) Kích thích tuyến sinh dục, ở nam phát triển ống sinh tinh sản xuất tinh trùng, ở nữ kích thích nang noãn phát triển.
LH (Luiteinizing Hormon) Kích thích tuyến sinh dục, ở nam kích thích sản xuất Testosteron là nội tiết nam tính, ở nữ kích thích noãn chín, phát triển hoàng thể tiết ra Estrogen và Progesteron.
PRL ( Prolactin) kích thích tuyến sữa ở nữ, tăng dần ở tuần thứ 5 cho đến hết thời kỳ cho con bú.
ADH ( Vasopresin) tác dụng tái hấp thu ở ống thận và co các tiểu động mạch dẫn đến tăng huyết áp và điều hòa áp suất thẩm thấu tăng khối lượng tuần hoàn.
Oxytoxin Hormon sinh dục nữ, tác dụng tăng cơn co tử cung, tác dụng bài xuất sữa khi con bú.
Với nhiều chức năng quan trọng như vậy nên khi Tuyến Yên suy yếu thì cơ thể không phát triển được cả thể chất chiều cao cả về hệ miễn dịch, sinh dục. Ngược lại khi bị u Tuyến Yên sẽ gây bênh khổng lồ và nhiều rói loạn khác.





Trong tác phẩm Chakra của Haris Johari nói rõ Tuyến Yên liên quan đến LX7, Tuyến Tùng liên quan đến LX6 nên việc tập luyện thiền định và kết nối LX6 với LX7 trong môn Nhân điện chính là đã kích thích và kết nối Tuyến Yên và Tuýen Tùng, kích thích cả hệ thống tuyến nội tiết, hệ thống chuyển hóa, hệ thống miễn dịch của cơ thể.

Chính cơ chế này giúp cơ thể tăng sức đề kháng tự chống lại bệnh tật. Những đóng góp của môn Nhân điện trong việc nâng cao sức khỏe, trị bệnh đã đưa môn Nhân điện vào một trong những môn chính thức của Y học bổ sung được Liên hợp Quốc công nhận. Vào ngày 28 tháng 11 năm 2002 tại Trường đại học quốc tế mở Y tế bổ sung ở Colombo thủ đô Srilanka, Khoa Nhân điện đã được chính thức thành lập. Thày Lương Minh Đáng, người sáng lập môn Nhân điện đã được bổ nhiệm làm Trưởng khoa Nhân điện, Hiệu phó của Nhà trường.
Ở Việt nam, tôi xin đề xuất Trung tâm UNESCO Hỗ trợ sức khỏe cộng đồng nên đề nghị coi môn Nhân điện như là một môn dưỡng sinh tăng cường sức khỏe và được phổ biến rộng rãi cho mọi người dân tập luyện như các môn dưỡng sinh khác.




Hà nội ngày 4 tháng 4 năm 2008
BS Nguyễn Thị Kim Loan
Zero Không Vô sưu tầm
nguồn: unescosphuc.vn

http://phatphapchanthat.blogspot.com/2011/07/khoa-hoc-gia-kham-pha-lai-con-mat-thu.html#more
Read more…

Những khám phá mới về cơ thể con người

01:54 |
Trên thế giới của chúng ta có vô vàn điều kỳ lạ mà con người chưa khám phá hết, trong đó có những điều thuộc về con người. Nhân kết thúc năm thập kỷ đầu thế kỷ 21, Mạng tin khoa học tự nhiên (MNN) của Mỹ đã giới thiệu những khám phá mới nhất cũng như những thành tựu khoa học tiêu biểu mà con người đạt được trong quá trình “nâng cấp” cơ thể con người, đặc biệt là những thành tựu trong lĩnh vực y sinh chữa bệnh và làm đẹp.

Vô vàn điều kỳ lạ về cơ thể con người
Một tế bào não người có thể lưu giữ lượng thông tin gấp 5 lần dung lượng của Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học còn phát hiện ra nhiều điều thú vị về não. Đầu thập niên 80, nhà thần kinh học Marian Diamond thuộc Đại học California (Mỹ) đã tiến hành phân tích một số lát cắt lấy từ thùy trên đỉnh sọ và vùng vỏ não trước trán của Einstein và phát hiện thấy, tỷ lệ tế bào đệm trên tế bào thần kinh của Einstein lớn hơn những người bình thường. Một trường hợp đặc biệt khác, sau khi nghiên cứu não cụ bà Hendrikje van Andel-Schipper (Hà Lan) - người qua đời ở tuổi 115 hồi tháng 8/2008, các chuyên gia ở Đại học Y khoa Groningen đã phát hiện thấy số lượng tế bào não tương đương tế bào trong não của những người trong độ tuổi 60 - 80.

Các xung thần kinh của não di chuyển tốc độ 170 dặm/giờ (khoảng trên 270 km/giờ), cao hơn tốc độ của những chiếc xe hơi đời mới và nhờ có tốc độ nhanh như vậy mà cơ thể nhận biết được nhanh các tín hiệu đau khi bị chấn thương. Não người tạo ra năng lượng giống như bóng đèn 10W, hoạt động mạnh cả vào ban đêm và khi ngủ, sử dụng 20% ôxy đi vào cơ thể qua đường máu. Tuy chỉ chiếm 2% trọng lượng cơ thể nhưng não lại là bộ phận tiêu thụ rất nhiều ôxy và là bộ phận dễ bị tổn thương nhất nếu bị cạn kiệt ôxy, vì vậy thở sâu có tác dụng tăng cường sức khỏe cho não. Về logic, khi người ta ngủ, não cũng nghỉ thế nhưng thực tế não lại làm việc nhiều hơn, chính vì vậy mà con người mới có những giấc mơ, thậm chí có rất nhiều giấc mơ phức tạp mà đến nay khoa học vẫn chưa tường hết. Mặc dù não là trung tâm điều hành, cảm nhận các tác động bên ngoài nhưng bản thân não lại không có các thụ thể cảm nhận đau nên nó không thấy đau. Não là bộ phận mềm có nhiều màu nhưng chủ yếu vẫn là màu xám, 80% là dịch lỏng vì vậy việc cung cấp đủ nước cho cơ thể đóng vai trò quan trọng, giúp não khỏe mạnh và làm việc tốt.
- Trong vòng 30 phút, cơ thể chúng ta có thể phát nhiệt đủ đun sôi một nửa galông nước (2,27 lít).
- Người tóc vàng có số lượng tóc nhiều hơn những người tóc đen. Theo các phát hiện mới thì màu tóc quyết định số lượng tóc. Trung bình một người tóc đen có khoảng 100.000 chân tóc, người tóc vàng có tới 140.000 chân tóc. Lông mặt mọc nhanh hơn các loại lông khác trên cơ thể. Đàn ông nếu không cạo râu thì râu cằm sẽ mọc dài tới 30 feet (trên 9 mét) trong cả cuộc đời, trung bình mỗi ngày trên đầu rụng mất 60 - 100 sợi tóc.Tóc phụ nữ nhỏ hơn một nửa so với tóc nam giới và một sợi tóc nam giới sẽ kéo được một vật nặng 3,5 aoxơ (100g), tuổi thọ của một sợi tóc từ 3 - 7 năm.
- Hầu hết, trẻ nhỏ sinh ra đều có mắt xanh.
- Hắt hơi có lượng gió phát ra với tốc độ 100 dặm/giờ (160km/giờ).
- Axít dạ dày khoẻ đến mức có thể "hóa lỏng" một chiếc lưỡi dao bào.
- Bộ phận lớn nhất của nội tạng con người là ruột non.
- Những người thuận tay phải có tuổi thọ dài hơn những người thuận tay trái tới 9 năm. Tuy nhiên, những người thuận tay trái thông minh hơn. Đó là kết luận của một nghiên cứu mới nhất do các chuyên gia Viện nghiên cứu khoa học tiến hoá Montpellier của Pháp thực hiện. Theo nghiên cứu này thì nhóm người thuận tay trái tồn tại là do có ưu thế tiến hoá. Đồng thời, tay phải của những người thuận tay trái cũng rất linh hoạt, thậm chí hai tay đều linh hoạt ngang nhau. Nếu trong gia đình có cả bố lẫn mẹ đều thuận tay trái, tỷ lệ con cái sinh ra cũng sẽ thuận tay trái tới 50%, ở những gia đình cả bố mẹ đều thuận tay phải thì tỷ lệ con cái thuận tay trái chỉ có 2%.
- Móng tay mọc nhanh nhất là ngón tay giữa.
- Trứng của cơ thể người phụ nữ là tế bào lớn nhất còn ở đàn ông tinh trùng là lại tế bào nhỏ nhất của cơ thể.
- Trẻ sơ sinh ra đời có tới 300 xương khác nhau trong khi đó người lớn chỉ có 206 xương.
- Khi di chuyển, cơ thể chúng ta sử dụng tới 200 cơ quan khác nhau cho một bước đi.
- Bàn chân của con người có thể sản xuất 1 pint (0,47 lít) mồ hôi mỗi ngày.
- Cứ 27 ngày, da con người lại thay mới một lần, trên 90% bệnh tật mà con người mắc phải là do stress. Rất đa dạng, như stress áp lực công việc, vì hôn nhân, tình yêu, vì gánh nặng gia đình con cái, vì thua kém bạn bè, vì ganh đua nơi làm việc...

Các tế bào thần kinh có chức năng lưu trữ ký ức về thời gian trong não.
Những tiến bộ trong lĩnh vực phẫu thuật, cấy ghép
- Năm 1954, lần đầu tiên cấy ghép thận thành công cho Richard Herrick, 23 tuổi, hiến thận cho người em trai song sinh của mình là Ronald. Họ là anh em song sinh giống hệt nhau về mặt di truyền học, vì vậy đã không có bất cứ vấn đề đào thải nào xảy ra.
- Năm 1966: Cấy ghép ca tụy thành công đầu tiên
- Năm 1967: Thực hiện thành công hai ca phẫu thuật tim và gan.
- Năm 1983: Thực hiện thành công ca phẫu thuật phổi.
- Năm 1998: Phẫu thuật thành công nối bàn tay.
- Năm 2005: Phẫu thuật cấy ghép một phần mặt cho người bệnh thành công.
- Năm 2008: Thực hành thành công ca phẫu thuật đầu tiên cấy ghép cả cánh tay cho con người. Đó là ca phẫu thuật do các chuyên gia ở Đại học Munich, Đức thực hiện, ghép thành công hai cánh tay cho ông Karl Merk, 54 tuổi, người bị mất cả hai tay trong một tai nạn khi mới 6 tuổi. Chỉ hai tháng sau cuộc phẫu thuật, Karl Merk đã có thể tự mở cửa và bật tắt đèn bằng chính đôi tay mới của mình. Cũng trong năm 2008, ca phẫu thuật cấy ghép thành công khí quản bằng cách dùng chính tế bào gốc của người bệnh, đưa một "giàn giáo" khí quản vốn là một bộ phận hiến tặng kết hợp với các tế bào gốc của một cậu bé bị mắc căn bệnh liên quan đến hô hấp. Ca phẫu thuật thực hiện tại Bệnh viện Great Ormond Street ở London (Anh) vào ngày 15/3/2010. Sau phẫu thuật, bệnh nhân có thể thở và nói chuyện một cách bình thường. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử con người thực hiện thành công ca cấy ghép nội tạng bằng cách dùng chính tế bào gốc của cơ thể người bệnh.
Phát hiện thú vị về cơ thể con người
Bạn nhìn mọi người và nhìn bạn trong gương sẽ thấy cơ thể chúng ta có vẻ như rất đối xứng: trên mặt, hai bên có hai tai, hai mắt, mũi ở giữa… Vậy thực ra cơ thể chúng ta có đối xứng hay không? Bạn bảo có, tôi bảo không. Đọc bài dưới đây xem ai đúng nhé.
Hình thức có vẻ đối xứng, nhưng chất lượng thì không
Chúng ta cùng xem xét từ trên xuống dưới để xem cơ thể chúng ta đối xứng và không đối xứng thế nào.
Tai phải xử lý thông tin tốt hơn tai trái: nghiên cứu của TS. Luca Tommasi và Daniele Marzoli thuộc Đại học Chieti (Italia) tiến hành quan sát thái độ của hàng trăm người về cách họ lắng nghe và cách họ phản ứng, cho thấy, con người thích nghe ở phía tai phải hơn bởi khi đó họ dễ xử lý thông tin hơn và dễ thực hiện yêu cầu được đề ra. Các nhà khoa học tin rằng “lợi thế tai phải”, là thông tin nhận qua tai phải được xử lý bằng bán cầu não trái có xu hướng giải mã thông tin bằng lời nói logic hơn và tốt hơn bán cầu não phải. Vì vậy, bí quyết để muốn ai đó thực hiện theo yêu cầu đặt ra là hãy nói vào tai phải của họ.
Mắt phải tinh hơn mắt trái: nghiên cứu của Đại học Vinhius (Liên Xô cũ) cho mỗi người thử nhìn ba vật thể khác nhau lần lượt bằng mắt phải, rồi mắt trái, cuối cùng là bằng cả hai mắt nhìn độc lập với nhau (dùng một tấm ngăn giữa hai mắt). Kết quả là ở tất cả mọi người, mắt phải đều xác định vật thể tốt hơn mắt trái. Từ đó kết luận rằng: Bán cầu não phải nhận thông tin thị giác nhanh nhạy hơn bán cầu não trái. Một thực tế là khi tập bắn súng, chúng ta dễ thấy hai mắt không đồng đều và có sức nhìn rất khác nhau. Nheo mắt phải thấy gượng, khó khăn và không kín bằng mắt trái. Nhưng mở mắt phải mà ngắm thì dễ bắt mục tiêu và bắn trúng hơn là nheo mắt phải, ngắm bằng mắt trái. Rõ ràng là mắt phải tinh hơn nhiều.

Năng lực của lỗ mũi bên trái và lỗ mũi bên phải có một số khác biệt tinh tế, nhất là cảm thụ mùi của lỗ mũi trái và phải không hoàn toàn giống nhau. Nhiều nghiên cứu cho thấy, khi dùng lỗ mũi phải để ngửi ta thường có sự đánh giá “xông xênh” hơn. Nếu dùng lỗ mũi trái để phân biệt mùi thì kết quả sẽ chính xác hơn. Điều này được lý giải vì bán cầu não phải điều khiển cảm tính nên lỗ mũi phải chịu pha trộn sắc thái cảm tính. Lỗ mũi bên trái bị chi phối bởi bán cầu não trái nên sẽ nghiêng theo lý tính và thực tế.
Qua hình thức bề ngoài đối xứng, cơ thể giấu kín sự không đối xứng bên trong. Hai bán cầu não có hình dạng tương tự, song nửa não phải có những trung tâm chỉ huy các chức năng khác với chức năng do nửa não trái đảm nhiệm. Trái tim chỉ có một và không tròn trĩnh, lại còn đặt lệch sang ngực trái. Phổi phải to hơn phổi trái và có nhiều thùy hơn. Có một buồng gan thì lại xếp lệch sang bên bụng phải. Một lá lách, xếp lệch bên trái, một tụy tạng để lệch ở bên phải. Ruột non, ruột già sắp xếp ở hai bên phải trái chả cân đối tí nào. Hai quả thận thì quả to quả bé, thận trái cao hơn thận phải một đốt sống. Hai tinh hoàn ở nam cũng “kẻ 8 lạng người nửa cân”. Ở trình độ phân tử, đơn cử chất hữu cơ anilin tổng hợp thì có cả hai dạng phân tử quay phải và quay trái, nhưng trong cơ thể sống chỉ tồn tại một dạng phân tử anilin quay trái mà thôi.
Đại thể thì đối xứng nhưng chi tiết lại so lệch
Hai tay về đại thể rất cân xứng, nhưng về chi tiết, đường nét thì không: Nếu bạn thuận tay phải thì tay phải bao giờ cũng to hơn tay trái và ngược lại, bạn thuận tay trái thì tay trái rõ ràng to hơn tay phải. Bàn tay và các ngón tay, đường chỉ tay, đường vân tay khác nhau rất nhiều giữa hai bên phải trái. Bình thường, huyết áp ở hai cánh tay có thể chênh lệch nhau 10mmHg. Còn khi mắc bệnh, huyết áp hai tay hơn kém nhau tới 50mmHg, nhất là ở phụ nữ bị nhiễm độc thai nghén. Hai chân cũng y chang như thế. Nhìn chung, nửa người bên phải mạnh hơn nửa trái: hàm bên phải nhai nhiều và khỏe hơn, chân tay phải cũng cứng cáp hơn chân tay trái. Quả thận trái hay bị ứ nước và viêm bể thận hơn quả thận phải do các mạch máu vào thận trái được bố trí khác thận phải. Ở phụ nữ, tử cung thường vặn từ trái sang phải, làm cho dây chằng rộng bên trái căng hơn, cản trở tuần hoàn máu, do đó khi mang thai, chân trái hay bị phù hơn chân phải.
Có chuyện kể rằng, một em bé đi theo cha vào rừng kiếm củi, mải mê với tiếng chim kêu vượn hót không may bị lạc. Người cha trở lại chỗ con đứng lúc trước, rồi cứ xiên tay trái mà đi, quả nhiên tìm thấy con. Một người nhắm mắt hay bịt mắt mà đi thì thế nào cũng hướng về bên trái, vì chân phải khoẻ hơn chân trái, đẩy xuống đất mạnh hơn nên đã lái người sang trái. Còn có một giả thuyết cho rằng, ưu thế của nửa người phải là do một lực sinh ra khi trái đất quay. Minh chứng cho điều này, người ta thấy số người thuận tay trái ở Bắc bán cầu chỉ có khoảng 3%, nhưng ở Nam bán cầu lại rất nhiều, chẳng hạn ở Nam Phi tới 26%.
Như vậy là ý kiến của bạn và tôi đều đúng nhưng chưa đủ. Chúng ta lấy ý kiến của bạn và tôi bổ sung cho nhau là nhận thức đúng về cơ thể vừa đối xứng vừa không đối xứng của mình.

http://phatphapchanthat.blogspot.com/2011/08/nhung-kham-pha-moi-ve-co-con-nguoi.html
Read more…

Video

Back to top Go bottom