Monsanto - Ngôi làng nằm dưới những tảng đá nặng 200 tấn

19:07 |
Với kiến trúc độc đáo và tầm nhìn ngoạn mục, Monsanto là điểm đến hút khách bậc nhất Bồ Đào Nha. Nơi đây cũng được nhiều người bình chọn là một trong những ngôi làng nằm trên vách đá đẹp nhất thế giới.


Ngôi làng Monsanto nằm trên đỉnh của ngọn núi cùng tên với nó, tại miền đông Bồ Đào Nha. Nơi đây nổi tiếng vì phần lớn các ngôi nhà đều nằm yên bình và hài hòa dưới những tảng đá to nặng tới 200 tấn.


Khi định cư trên đỉnh núi và nhận thấy nơi đây có nhiều hòn đá khổng lồ nằm vướng khắp lối đi, người dân thay vì tìm cách đập bỏ đã xây nhà ngay dưới những tảng đá.


Vì vậy, khi tới thăm ngôi làng có niên đại từ thời trung cổ này, bạn có thể dễ dàng nhìn thấy nhiều ngôi nhà nằm dưới, ngay bên cạnh hoặc bao xung quanh bởi những tảng đá tròn trịa khổng lồ. Các lối đi trong làng được lát đá, xung quanh là cây cỏ tốt tươi.


Năm 1938, nơi đây được mệnh danh là "ngôi làng đậm chất Bồ Đào Nha nhất đất nước". Vật liệu xây dựng các ngôi nhà ở đây chủ yếu là đá.


Do tọa lạc ở độ cao gần 800 m so với mực nước biển nên ngôi làng là một trong những điểm đến có tầm nhìn tốt. Đứng tại đây, bạn có thể phóng tầm mắt nhìn ra xa và chiêm ngưỡng cảnh đẹp của xứ sở của các nhà thơ (một tên gọi khác ít sử dụng của đất nước Bồ Đào Nha).


Cũng nhờ tọa lạc trên đỉnh núi xa xôi, nên dường như mọi thứ tại ngôi làng đều vẫn mang vẻ đẹp của những thời xa cũ. Sự hiện đại với những chiếc xe hơi, xe máy sang trọng hầu như không xuất hiện tại ngôi làng này.


Kể từ khi nhận được danh hiệu "Ngôi làng đậm chất Bồ Đào Nha nhất đất nước", chính quyền địa phương đã hạn chế xây dựng thêm các công trình mới, nhằm bảo tồn nguyên vẹn những giá trị văn hóa, truyền thống xưa cũ của ngôi làng.


Ngày nay, Monsanto là một trong những điểm đến nối tiếng, thu hút nhiều du khách nhất của Bồ Đào Nha.

Anh Minh (theo Silvercoastfinest)
Read more…

Các thánh tích Phật giáo tại Ấn độ

20:36 |
Phật giáo tại Ấn Độ có 10 thánh tích quan trọng, trong đó 4 thánh tích xếp ở trên trong danh sách sau được Phật tử quan tâm nhất, do ý nghĩa quan trọng của chúng gắn liền với cuộc đời Đức Phật, 6 thánh tích xếp ở dưới cũng rất quan trọng nhưng mức độ chú ý của tín đồ có phần ít hơn, bởi vì đa số không nghiên cứu sâu về lịch sử của Đức Phật chứ không phải các di chỉ đó ít quan trọng.

Tóm lược các thánh tích

1/Vườn Lâm Tỳ Ni (藍毗尼Lumbini) là nơi Phật đản sinh佛誕生 , ngày rằm tháng 4 âm lịch gọi là ngày Phật Đản 佛誕 cũng tức là sinh nhật của Phật. Lumbini nay là quận Rupandehi thuộc nước Nepal nằm cách biên giới với Ấn Độ khoảng 36 km.

2/Bồ Đề Đạo Tràng (菩提道場Bodh Gaya) là nơi Phật thành đạo bên bờ sông Ni Liên Thiền (尼連禪Niranjana). Nay là một thành phố thuộc quận Gaya, bang Bihar, Ấn Độ. Nơi đây được coi là thánh tích quan trọng nhất, nằm cách thủ phủ Patna của bang Bihar 96km, có tháp Đại Giác cao 52m. Nơi đây có Việt Nam Phật Quốc Tự là ngôi chùa của người Việt Nam xây dựng, khánh thành năm 1987 do thầy Thích Huyền Diệu trụ trì, nằm cách di chỉ Bồ Đề Đạo Tràng 2km.

3/Lộc Uyển (鹿苑Sarnath) còn gọi là Lộc Dã (鹿野Mrigadava, vườn nai) là nơi Phật thuyết pháp lần đầu tiên cho 5 anh em Kiều Trần Như (憍陈如Koṇḍañña), kinh gọi là chuyển pháp luân. Vườn Lộc Uyển nằm cách thành phố cổ Varanasi (Ba La Nại菠羅奈) khoảng 10 km. Varanasi trước đây là thủ phủ của bang Uttar Pradesh, nay thủ phủ dời về Lucknow. Tại đây có tháp Dharmarajika là một trong số những ngôi tháp dựng lên bởi vua Ashoka còn lại, mặc dù chỉ còn nền móng, vật liệu của tháp đã được di chuyển tới Varanasi để sử dụng làm vật liệu xây dựng trong thế kỷ thứ 18.

4/Câu Thi Na (拘尸那, Kushinagar) là nơi Phật nhập Niết bàn giữa hai cây sa la (sa la song thọ 沙羅雙樹). Câu Thi Na là kinh đô của tiểu quốc Malla, một thị tứ nhỏ và nghèo nàn so với các nước hưng thịnh thời bấy giờ, nhưng Đức Phật lại chọn nơi này làm nơi diệt độ với lý do liên quan đến tiền thân Ngài. Thời xa xưa, Câu Thi Na là kinh đô của Chuyển Luân Thánh Vương轉輪聖王tên là Thiện Kiến善見, một trong những tiền thân của Phật, xưa cũng là một kinh đô hưng thịnh phú cường. Và cũng chính nơi đây, Ngài đã xả báo thân đến bảy lần. Ngày nay Kushinagar là một thị trấn nhỏ khoảng 18.000 dân, thuộc quận Kushinagar, bang Uttar Pradesh.

5/Thành Ca Tỳ La Vệ (迦毘羅衛Kapilavatthu) nằm sát biên giới Nepal – Ấn Độ, tiểu quốc này rộng khoảng 320 km2 là nơi sinh sống của Thái tử Tất Đạt Đa trong suốt 19 năm đầu đời của Phật trong triều đình của vua cha Tịnh Phạn (淨飯Suddhodana). Sách Đại Đường Tây Vực Ký của Huyền Trang ghi “Nước này có một chu vi khoảng hơn 4000 dặm. Trong đó có trên 10 thành phố đều hoang phế và điêu tàn tột độ. Thủ đô cũng bị đất vùi lấp và đổ nát”. Sở dĩ có tình trạng đó vì ngay trong thời Đức Phật, Ca Tỳ La Vệ đã bị tàn phá, dòng họ Thích Ca bị tàn sát bởi thái tử Tỳ Lưu Ly (毘琉璃Virudhaka) con thứ của vua Ba Tư Nặc, em của thái tử Kỳ Đà (祇陀Jeta).

6/Thành Vương Xá (王舍城Rajagaha), kinh đô của nước Ma Kiệt Đà, là nơi Tất Đạt Đa tầm sư học đạo lúc mới xuất gia, cũng là nơi Phật đến thuyết pháp đầu tiên theo lời hứa với vua Tần Bà Sa La (頻婆娑羅, sa. bimbisāra) sau khi thuyết pháp cho nhóm Kiều Trần Như, trong buổi ban đầu sau thành đạo. Nơi đây có Trúc Lâm Tịnh Xá (Veluvana) do vua Tần Bà Sa La tặng. Đức Phật trải qua mùa an cư kiết hạ đầu tiên tại đây. Nơi đây đã diễn ra cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất tại hang động Sattapanni. Gần thành này có núi Linh Thứu (靈鷲Gijjhakuta), vườn xoài Jivaka. Đây cũng là nơi Phật hàng phục con voi hung hãn của vua A Xà Thế (阿闍世, sa. ajātaśatru) mà Đề Bà Đạt Đa (提婆達多Devadatta) sử dụng định sát hại Phật.

7/Thành Tỳ Xá Ly ((毗舍離Vaisali), kinh đô của bộ tộc Licchavi, đây cũng là quê hương của cư sĩ Duy Ma Cật (維摩詰sa. vimalakīrti), là bối cảnh của Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, nơi đây Phật từng có lần làm phép tẩy trừ dịch bệnh cho dân chúng, cũng là nơi thành lập đoàn thể Tỳ Kheo Ni, đây là nơi kết tập kinh điển lần thứ hai, là nơi Phật cư trú và hoạt động vào những năm cuối đời.

8/Thành Xá Vệ (舍衛, sa. śrāvastī pa. Savatthi) là kinh đô của nước Kiều Tát La (憍薩羅, Kosala), do vua Ba Tư Nặc (波斯匿Pasenadi) cai trị. Nơi đây có Tịnh Xá Kỳ Viên mà trưởng lão Cấp Cô Độc đã mua của thái tử Kỳ Đà (Jeta) để làm nơi cư trú chính cho Đức Phật và các đệ tử. Về sau thái tử Kỳ Đà bị em là Tỳ Lưu Ly sát hại vì không ủng hộ cuộc tàn sát dòng họ Thích Ca. Phật đã trải qua 25 mùa an cư kiết hạ tại đây. Cách tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana) khoảng 5 km có một vườn xoài, đó là khu Đông viên Lộc Mẫu giảng đường (東園鹿母講堂Pubbārāma Migāramātupāsāda), do nữ thí chủ Tỳ Xá Khư (毗舍佉Visakha) cúng dường. Bà sống trên 120 tuổi, qua đời sau khi đức Phật nhập Niết Bàn khoảng 60 năm. Trước cổng tịnh xá Kỳ Viên có một cây Bồ Đề cổ thụ đến nay vẫn còn, do tôn giả A Nan Đà (阿難陀Ānanda) trồng, chiết cành từ cội Bồ Đề nơi Đức Phật thành đạo. Savatthi ngày nay cũng nằm sát biên giới Nepal- Ấn Độ, thuộc quận Shravasti, bang Uttar Pradesh, cách Lucknow (thủ phủ của bang) 170km về phía bắc.

Cây Bồ Đề do tôn giả A Nan Đà trồng trước cổng tịnh xá Kỳ Viên

9/Tăng Già Thi (僧伽施Sankasya) là nơi Đức Phật lên cõi trời Đao Lợi 忉利 thuyết pháp cho mẫu hậu Ma Da và trở về sau ba tháng. Tại đây có một ngôi tháp được xây để kỷ niệm nơi trời Ðế Thích và Phạm thiên đã theo hầu đức Phật khi Ngài từ cõi trời thứ 33 trở về thế gian. Ngày nay, Sankasya là một làng nhỏ bé nghèo nàn dân số chưa tới 1000 người thuộc quận Mainpuri, bang Uttar Pradesh.

10/Đại học Nalanda. Nalanda có nghĩa là “người trao trí tuệ”. Đó là một khu đại học rất quy mô của Phật giáo suốt từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ XII. Sinh thời Phật nhiều lần đến chỗ này, lúc đó thì chưa có đại học. Khi đi từ Vương Xá đến Hoa Thị Thành (Pataliputta nay là thành phố Patna), Phật thường đi ngang Nalanda, dừng chân tại vườn xoài của Pavarika và thuyết kinh tại đây. Tôn giả Xá Lợi Phất (舍利弗, sa. śāriputra) tịch diệt tại đây. Ngài Long Thọ (Nagarjuna) cũng từng học tại Nalanda. Nalanda cách thủ phủ Patna 90km về hướng Đông nam, cách Vương Xá khoảng 12km. Địa danh này ngày nay được xác định nằm tại ngôi làng Bada Ganon. Lúc thịnh thời , khu đại học này từng được ghi nhận là có mười ngàn sinh viên và hai ngàn giáo sư. Nalanda bị hủy diệt, thiêu rụi hoàn toàn vào năm 1193, khi những người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ dưới sự chỉ huy của Bakhtiyar Khilji đánh phá nơi này. Họ đã đốt phá trường học, tự viện và giết các Tăng sĩ ở đây. Sự kiện này cũng được xem là điểm mốc đánh dấu sự suy tàn của Phật giáo tại Ấn Độ, mặc dù Phật giáo đã thực sự suy yếu trước đó một vài thế kỷ. Từ năm 1915 (trong suốt thời gian từ 1915-1937, và sau đó từ 1974-1982), Nalanda chính thức được khai quật tổng thể dưới sự chỉ đạo của Hội Khảo cổ học Ấn Độ (Archaeological Survey of India), với sự tài trợ của Hội Royal Asiatic Society của Anh. Nhiều nền chùa tháp được tìm thấy, nhiều di tích liên quan được phát hiện. Toàn khu vực Nalanda ngày nay rộng vào khoảng 14 hecta. Tuy đã được khai quật nhiều, nhưng dựa theo ký sự của ngài Huyền Trang thì những gì được biết đến chỉ là một phần nhỏ so với tổng thể của Nalanda xưa.


Theo đường thẳng, Kushinagar, ở vị trí trung tâm các thánh tích, cách Lumbini khoảng 100km, cách Vaishali 150km, cách Sarnath 200km, cách Bodhigaya 300km, cách Sankasya khoảng 400km.

Phần lớn các thánh tích nằm trong bang Uttar Pradesh


Có 4 thánh tích Phật giáo quan trọng tại bang Bihar.

Các thánh tích Phật giáo quan trọng tại bang Bihar : Vaishali (Tỳ Xá Ly), Nalanda, Ragir (Vương Xá), Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng)

Địa bàn hoạt động của Đức Phật là hai bang Uttar Pradesh, Bihar và một phần Nepal.


Địa bàn hoạt động của Đức Phật chỉ trong phạm vi hai bang Uttar Pradesh, Bihar và một phần của nước Nepal ngày nay. Như vậy vùng hoạt động của Đức Phật có diện tích tổng cộng khoảng 340.000 km2 , chỉ nhỉnh hơn một phần mười diện tích của nước Ấn Độ ngày nay.


Sơ lược lịch sử Đức Phật

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (释迦牟尼Sakya Muni) sinh năm 623 trước Công nguyên. Như vậy đến năm 2013 CN thì ngài được 2636 tuổi. Nhưng Phật Lịch chỉ bắt đầu từ lúc ngài nhập niết bàn, năm 543 trước CN kể là năm 1, đến đầu CN là PL 544 và đến nay là PL 2557. Thời đại của ngài là thời của những bậc thánh trí xuất chúng; Lão Tử (sinh năm 570 trước CN, sáng lập Đạo giáo), Khổng Tử ( sinh năm 551 trước CN, sáng lập Nho giáo) những tông giáo này ảnh hưởng lớn lao, sâu xa đến suy nghĩ, niềm tin và đời sống của rất nhiều người trên trái đất, hướng dẫn cách sống và hành động sáng suốt, đem lại hòa bình, thịnh trị, thuần phác cho xã hội.

Nguyên quán của Siddhārtha Gautama (Tất Đạt Đa悉达多 Cù Đàm瞿曇 hay Kiều Đạt Ma喬達摩Gautama) là thành Ca Tỳ La Vệ [迦毘羅衛 sa. (sankrit): Kapilavastu], ngày nay có tên là Padaria. Vào thời đức Phật, đó là thủ đô của vương quốc cùng tên thuộc dòng họ Thích Ca 释迦 (Sakyas), dưới quyền trị vì của vua Tịnh Phạn (淨飯, sa. śuddhodana).

Ca Tỳ La Vệ, vào thời ấy, là một thuộc quốc của nước Kiều Tát La (憍薩羅, sa. kośala). Bấy giờ người cai trị Kosala là vua Ba Tư Nặc [波斯匿P(Pali): Pasenadi; sa.: Prasenajit], có kinh đô đóng tại thành Xá Vệ (舍衛Skt.: Sravasti), nay thuộc bang Uttar Pradesh, miền bắc Ấn Độ.

Lúc gần ngày sinh, hoàng hậu Ma Da摩耶 (Mayadevi) đi về quê mẹ để chuẩn bị sinh con theo truyền thống, dọc đường đến Lâm Tỳ Ni (藍毗尼Lumbini) thì hạ sinh thái tử Tất Đạt Đa.

Vườn Lâm Tỳ Ni

Lúc mới sinh ngài đã có đầy đủ 32 tướng tốt, nhà tiên tri A Tư Đà (阿私陀Asita) nói rằng Tất Đạt Đa sẽ trở thành hoặc một đại đế hay một bậc giác ngộ. Bảy ngày sau khi sinh thì mẹ mất, Tất Đạt Đa được người dì, em của hoàng hậu Ma Da là Ma Ha Ba Xà Ba Đề Kiều Đàm Di( 摩呵波闍波提 喬曇彌, sa. Mahāprajāpatī Gotami) chăm sóc. Năm lên 16 tuổi, Tất Đạt Đa kết hôn với công chúa Da Du Đà La ( 耶輸陀羅, sa. yaśodharā).

Năm 19 tuổi, sau khi công chúa Da Du Đà La hạ sinh một bé trai được đặt tên là La Hầu La (羅睺羅, sa. rāhula), thái tử Tất Đạt Đa quyết định lìa cung điện, cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau. Tất Đạt Đa quyết tâm tìm cách diệt khổ và cầu đạo ở nhiều đạo sư với các giáo pháp khác nhau. Có 5 anh em Kiều Trần Như (憍陈如Koṇḍañña ) cùng tu với Tất Đạt Đa. Sau nhiều năm tu khổ hạnh gần kề cái chết, Tất Đạt Đa nhận ra đó không phải là phép tu dẫn đến giác ngộ, ngài bắt đầu ăn uống bình thường trở lại, năm người đồng tu kia thất vọng bỏ đi. Ngài ngồi dưới gốc một cây pipala (về sau gọi là cây Bồ Đề) bên dòng sông Ni Liên Thiền (尼連禪 Niranjana) tại nơi mà về sau gọi là Bồ Đề Đạo Tràng và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Sau 49 ngày thiền định, mặc dù bị Ma vương quấy nhiễu, Tất Đạt Đa đạt giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 30 sau 5 năm tầm sư học đạo và 6 năm tu khổ hạnh. Từ thời điểm đó, Tất Đạt Đa trở thành Phật, là người Giác ngộ, Hán dịch là giác giả 覺者và biết rằng mình sẽ không còn tái sinh, không còn khổ nữa.

Tháp Đại Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng

Phật giờ đây mang danh hiệu Thích-ca Mâu-ni释迦牟尼 “Trí giả của dòng dõi Thích-ca”. Sau đó Phật gặp lại năm vị tỳ kheo 比丘 (phiên âm chính thức là tỉ khâu, nhưng Phật giáo Việt Nam thường phiên âm là tỳ kheo) các vị đó nhận ra rằng Phật đã hoàn toàn thay đổi. Qua hào quang toả ra từ thân Phật, các vị đó biết rằng người này đã đạt đạo, đã tìm ra con đường thoát khổ, con đường mà các vị đó không thể tìm ra bằng phép tu khổ hạnh. Các vị đó xin được giảng pháp và vì lòng từ bi đối với chúng sinh, Phật chấm dứt sự im lặng. Tại vườn Lộc Uyển Phật bắt đầu thuyết pháp, kinh điển gọi là chuyển pháp luân (quay bánh xe pháp), đầu tiên là cho 5 anh em Kiều Trần Như, ngài nói về Tứ Đế (Khổ Đế 苦諦, sa. duḥkhāryasatya, Tập Đế集諦, sa. samudayāryasatya, Diệt Đế 滅諦, sa. duḥkhanirodhāryasatya, Đạo Đế 道諦, sa. duḥkhanirodhagāminī pratipad) Duyên Khởi (緣起, sa. pratītyasamutpāda) và luật Nhân Quả 因果. Năm vị tỳ kheo đó trở thành năm đệ tử đầu tiên của Đức Phật và là hạt nhân đầu tiên của Tăng già (僧伽 pa.Sangha).

Vết tích trụ đá của vua A Dục dựng tại Lộc Uyển

Sau đó Phật đi khắp nơi thuyết pháp từ năm này qua năm khác. Đức Phật hay lưu trú tại Vương Xá (王舍城, sa. rājagṛha) và Tỳ Xá Ly (毗舍離sa. vaiśālī), sống bằng khất thực, đi từ nơi này qua nơi khác. Đệ tử của Phật càng lúc càng đông, trong đó có vua Tần Bà Sa La (頻婆娑羅, sa. bimbisāra) của xứ Ma-kiệt-đà (摩揭陀Magadha). Vị vua này đã tặng cho Tăng đoàn một tu viện gần kinh đô Vương Xá. Các đệ tử quan trọng của Phật là A Nan Đà (sa. ānanda阿難陀),Xá Lợi Phất (舍利弗, sa. śāriputra), Mục Kiền Liên (目犍連 pa. Moggallāna) v.v… Cũng trong thời gian này, đoàn Tỳ Kheo Ni (比丘 尼sa. bhikṣuṇī) được thành lập do Bà Kiều Đàm Di đứng đầu sau rất nhiều cố gắng vì ban đầu Phật không chấp nhận cho phụ nữ xuất gia, vì việc đó sẽ làm ngắn đi thọ mệnh của chánh pháp .

Trong bản đồ thánh tích Phật giáo, chúng ta thấy có địa danh Sankasya (Tăng Già Thi僧伽施 gần New Delhi ngày nay), địa danh này tương đối ít được biết. Đó là nơi Đức Phật dùng thần thông lên trời Đạo Lợi忉利天thuyết pháp cho mẹ là hoàng hậu Ma Da nghe, Phật lên cõi trời chỉ một buổi thôi, nhưng người trần gian thấy là ba tháng, sau ba tháng Phật mới trở về trần thế, có Đế Thích và Phạm Thiên theo hầu. Điều đó cũng tương tự như pháp sư Khoan Tịnh đến viếng cõi Tây phương Cực lạc chỉ trong 20 giờ thôi, nhưng người đời thấy là 5 năm 6 tháng.

Bia đá tạc sự tích Đế Thích và Phạm Thiên hầu Phật trở về thế gian tại Sankasya (Tăng Già Thi)

Cõi trời Đao Lợi (忉利天) ở đâu ? Chúng ta không thể tìm thấy trong vũ trụ này, nhưng không phải là không có. Theo Stephen Hawking (nhà vật lý người Anh, hiện mang chức danh Giáo sư Lucasian tức giáo sư Toán học của Đại học Cambridge, chỉ những nhà khoa học xuất sắc như Isaac Newton hay Paul Dirac mới có chức danh này) và Neil Turok (sinh năm 1958 tại Johannesburg, South Africa, Giáo sư Vật Lý của Đại học Princeton, Giám đốc Viện Perimeter về Vật Lý lý thuyết), hai người nói trong một định đề (postulate) : “The quantum world is one of virtual particles continually fluctuating in and out of existence, even in a vacuum, of superstrings vibrating and twisting in ten or eleven dimensions, most of which are ‘rolled up’ and invisible, of a reality in which gravitation, spacetime and matter are or were merged in one ‘instanton” (Thế giới lượng tử là thế giới của các hạt ảo không ngừng dao động qua lại giữa hiện hữu và cả hư không, của siêu dây rung động và biến dạng trong 10 hoặc 11 chiều kích_ mà phần lớn những chiều kích ấy bị cuốn lên và vô hình_của một thực tại trong đó lực hấp dẫn, thời không, và vật chất, được hoặc đã được kết hợp lại trong ‘sát na hiện tiền’). Vậy cõi trời Đao Lợi nằm trong một vũ trụ song song với vũ trụ của chúng ta, thuộc các chiều kích không gian bị cuốn lại nên người trần không thể thấy, nhưng người có thần thông như Đức Phật thì có thể thấy và đến được. Đến bằng cách nào ? Bằng cách dùng tâm niệm, chỉ một niệm là đến. Đây là phương thức di chuyển chủ yếu trong Tam giới.

Trong chín thánh tích quan trọng liên quan trực tiếp tới Đức Phật, còn có địa danh Thất La Phiệt Tất Để室羅伐悉底 còn gọi là thành Xá Vệ舍衛城 là nơi Phật có lần thi triển đại thần thông. Năm Đức Phật 72 tuổi (551 trước CN, năm này tại Trung Quốc, Khổng Tử ra đời) thì có một sự việc xảy ra. Có một trưởng giả rất giàu có, nói rằng ông nghe nói những vị tu sĩ của vị giáo chủ này có thể hiện thần thông nhưng thật ra xưa nay không thấy ai có thần thông hết, ông ta nghĩ rằng người ta chỉ xưng tụng suông mà thôi, và ông đã xuất tiền ra mua một bình bát bằng cây trầm đỏ rất lớn đồng thời ông kiếm những cây tre rất cao và chắp thành một cây sào tre rồi ông treo cái bình bát lên sào tre và nói rằng:

“Cây sào này leo lên thì rất khó, chỉ có những người có thần thông mới leo lên lấy cái bình bát được mà thôi, nếu thật sự trên thế gian này có người có thần thông thì thật sự có thể lên lấy cái bình bát này.”

Ông treo trong bảy ngày không ai lên lấy cái bát đó, sau đó ông tuyên bố với mọi người rằng những vị sa môn chỉ khoác lác chứ không có thần thông, bỗng có một vị tỳ kheo, đệ tử của Phật, chỉ là một phàm tăng thôi, nhưng tu hành đắc thần thông, vị này đi khất thực nghe thấy như vậy thì nghĩ rằng “nếu vị trưởng giả kia có sự thách đố như thế mà không ai lấy được bình bát xuống thì quần chúng càng lúc càng tin vào tà kiến, không phục Phật pháp”, do vậy vị này thị hiện thần thông lên lấy cái bình bát xuống, quần chúng xung quanh reo hò và tin đó lan truyền vào thành Xá Vệ, đến tai Đức Phật. Phật nói các vị tu sĩ không được hiển lộ thần thông và từ đó về sau Phật cấm chư vị tỳ kheo thi triển thần thông. Những người ngoại đạo nói rằng: “Phật không có thần thông chứ nếu Ngài có thì Ngài không cấm như vậy.” Phật bèn nói với vua Ba Tư Nặc rằng Ngài sẽ biểu hiện thần thông để cho những người ngoại đạo thần phục, vua Ba Tư Nặc hỏi Phật là tại sao Ngài cấm chư tỳ kheo thị hiện thần thông mà Ngài lại thị hiện thần thông, Phật trả lời rằng có những hoàn cảnh cần thiết thì cần phải thị hiện.

Trưa hôm đó, Đức Phật dạy mang đến cho Ngài một trái xoài, trái xoài được cúng dường Thế Tôn ăn tráng miệng, ăn xong, Ngài để hột xoài xuống đất, cái hột xoài liền mọc thành cây xoài lớn dần, lớn dần, Ngài nhìn vào cây xoài lớn lên rất là nhanh chóng. Sau đó Đức Thế Tôn hiện thần thông bằng phép yamaka-pāṭihāriya, (thần biến thị hiện song đối ) tức là từ trong lỗ chân lông của Ngài cùng lúc phun ra nước và lửa. Theo nguyên tắc thi triển thần thông, một người muốn biến hiện thần thông nước thì phải nhập vào đề mục nước, nếu muốn biến hiện thần thông lửa thì phải nhập vào đề mục lửa, nhưng Ngài có thể cùng lúc song song thị hiện cặp mâu thuẫn, do đó từ lỗ chân lông của Ngài có thể phun ra vừa nước vừa lửa, phép thần thông đó gọi là yamaka chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới có thể làm được mà thôi, việc đó xảy ra trong mùa an cư kiết hạ thứ mười bảy.

Đức Phật đề cập đến ba loại thần thông: thân như ý thông, thí dụ như phi hành trên không trung, đi trên mặt nước, hoặc biến ra thế này thế kia, thần thông thứ hai gọi là tha tâm thông tức là biết tâm niệm của người khác nghĩ gì, thần thông thứ ba là giáo hoá thần thông tức là làm thay đổi con người bằng con đường giáo dục, thí dụ như giáo hóa một đứa trẻ hư để nó trở thành người tốt. Ngài đã dùng sức mạnh tâm linh để giáo hóa con voi hung hãn của Đề Bà Đạt Đa (提婆達多Devadatta) để nó trở nên thuần phục, ngoan ngoãn. Trong ba thứ thần thông này, Đức Phật tán thán công năng giáo hóa thần thông, nếu trong sinh thời, Đức Phật chỉ chú trọng thị hiện thần thông thì ngày nay không có Phật pháp truyền lại cho chúng ta. Do vậy Đức Phật nói rất rõ là con đường Phật pháp là con đường giáo dục, bản thân của Đức Phật có thần thông, nhưng Ngài coi trọng giáo dục mà không coi trọng thần thông.

Thành Xá Vệ cũng là nơi Phật đã trải qua 25 mùa an cư kiết hạ 安居结夏 (Vassà = kiết hạ 结夏 Rain’s retreat- ở yên một nơi trong mùa mưa). Nơi đây có Tịnh xá gọi là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên , 祇樹給孤獨園,đó là ngôi vườn do trưởng lão Cấp Cô Độc (給孤獨Anathapindika) mua của thái tử Kỳ Đà (祇陀Jeta) bằng cách trải vàng khắp khu vườn. Thái tử thì cúng dường cây trái có sẵn trong vườn, do đó ngôi vườn có tên chung như vậy.

Tịnh Xá Kỳ Viên (Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên)trong thành Xá Vệ

Sống đến năm 80 tuổi, Đức Phật Thích Ca tịch diệt. Qua 49 năm giảng dạy, nghĩ rằng các đệ tử có thể chấp lời mình nói là chân lý, chứ không phải chỉ là phương tiện giác ngộ, Đức Phật tuyên bố chưa từng nói lời nào. Lời dạy cuối cùng của Đức Phật là: “Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, chịu biến hoại, hãy tinh tiến tu học (để đạt giải thoát)!”. Theo kinh Đại Bát Niết Bàn (大般涅槃经pi. mahāparinibbāna-sutta), Đức Phật nhập diệt tại Câu Thi Na (zh. 拘尸那, sa. kuṣinagara), về niên đại, các học giả ước định vào năm 543 trước công nguyên. Ngài tịch trong tư thế nằm nghiêng giữa hai cây sala (sa la song thọ沙羅雙樹).

Cây Sala

Sau khi Phật nhập diệt, đệ tử của ngài đã tổ chức 4 lần kết tập kinh điển.

Lần kết tập thứ nhất tại thành Vương Xá (Rajagaha), ba tháng sau khi Phật tịch, gồm 500 vị A La Hán, được sự bảo trợ của vua A Xà Thế (阿闍世Ajatasatru) của xứ Ma Kiệt Đà (摩揭陀Magadha), người chủ trì là Ma ha Ca Diếp摩訶迦葉. Ưu Bà Ly (优波离Upali) trùng tuyên Luật tạng. A Nan trùng tuyên Kinh tạng. Chưa xuất hiện Luận tạng, nó còn nằm lẫn trong Kinh tạng.

Lần kết tập thứ hai tổ chức tại thành Tỳ Xá Ly (Vasali, Vaishali), 100 năm sau khi Phật nhập diệt, có 700 vị tỳ kheo của hai thành phố Tỳ Xá Ly và Bạt Kỳ (跋耆Vajji) tham dự, có sự bảo trợ của vua Kalasoka, hội nghị kéo dài tám tháng, trong kỳ này có sự chia rẽ trong các tỳ kheo, một số tách riêng thành lập Đại chúng bộ (Mahasanghika), chủ trương chỉnh sửa giới luật cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế đã có nhiều biến đổi, số còn lại chủ trương giữ nguyên giới luật, họ thành lập Thượng tọa bộ (Theravada).

Lần kết tập thứ ba vào năm 248 trước công nguyên, do vua A Dục bảo trợ, tức khoảng gần 300 năm sau khi Phật nhập diệt, diễn ra tại thành Pataliputta (Ba Tháp Li Tử thành巴嗒厘子城- Phật tử Việt Nam còn gọi là Hoa Thị Thành, nằm ở phía nam sông Hằng, xưa vốn là thành Vương Xá thiên di về đây, nay là thành phố Patna, thuộc bang Bihar) của đế chế Ma Kiệt Đà, được sự bảo trợ của Đại đế A Dục (阿育Asoka) sinh năm 299 trước CN, người trị vì Đế quốc Khổng Tước (孔雀, sa. maurya, nghĩa là “con công”) từ năm 273 đến 232 trước CN. Ông là vị quân vương đầu tiên của nước Ấn Độ cổ (sa. bhāratavarṣa) đã thống nhất được một lãnh thổ vĩ đại, lớn hơn ngay cả Ấn Độ ngày nay. Ông là một nhà hộ pháp vĩ đại của Phật giáo. Phần đầu của triều đại ông là những cuộc chinh chiến liên miên, mở rộng đế chế Maurya. Sau cuộc chinh phạt Kalinga xảy ra vào năm 257 trước CN, chín năm sau khi lên ngôi (265 tr CN), xứ đó nằm trên bờ biển phía đông Ấn Độ trong vùng ngày nay là bang Orissa, vô cùng đẫm máu với hàng trăm ngàn người chết, nhà vua tỉnh ngộ và quay đầu lại ủng hộ Phật pháp. Nhà vua cho xây dựng rất nhiều trụ đá để làm dấu ấn cho những lần ông đến chiêm bái các thánh tích Phật giáo và xây dựng rất nhiều bảo tháp trên khắp vương quốc. Đến nay chỉ còn lại 19 trụ đá có khắc chữ trong đó 6 trụ đá có đầu hình thú (animal capitals)

Trụ đá tại thành Tỳ Xá Ly (Vaishali)

Trụ đá hình 4 sư tử tại Lộc Uyển (Sarnath) bang Uttar Pradesh

Hội nghị do Moggaliputta Tissa (Mục Kiền Liên Tử Đế Tu目犍連子帝須)chủ trì, có 1000 tỳ kheo tham dự. Hội nghị kéo dài 9 tháng, lần đầu tiên Luận tạng được tách riêng khỏi Kinh tạng, hình thành Tam tạng kinh. (gồm Kinh tạng 經藏, sa. sūtra-piṭaka, Luật tạng 律藏; sa., pi. vinaya-piṭaka, Luận tạng 論藏, sa. abhidharma-piṭaka). Đặc biệt sau lần kết tập thứ ba này, vua A Dục muốn cho chánh pháp của Ðức Phật truyền bá sâu rộng vào các quốc gia lân cận và để duy trì tinh hoa của Phật pháp từ đó về sau, nhà vua thỉnh ý các vị A La Hán đương thời và bàn kế hoạch hoằng dương chánh pháp, thiết lập các đoàn truyền giáo gửi đi khắp nơi. Phương án của vua được chư vị A La Hán hoan hỷ tán đồng, đặc biệt là Trưởng lão Moggaliputta Tissa. Chẳng bao lâu, chín phái đoàn được thành lập, bắt đầu lên đường truyền bá chánh pháp của Ðức Phật.

Phái đoàn thứ nhất, theo truyền thuyết, các vị Trưởng lão Mahinda, Ittiya Uttiya, Sambala, Bhaddasàla và Sa-di Sumana nhận trọng trách đi truyền giáo ở đảo Tích Lan (Lankà, Lankàdìpa, Lankàtala), lên đường vào năm 247 tr CN. Theo quyển Mahàvamsa thì các ngài vận dụng thần thông đi đến xứ sở này vào thời vua Devanampiyatissa cai trị. Sư Mahinda chính là con trai của vua A Dục, về sau ni sư Sanghamitta, con gái của hoàng đế A Dục cũng đến Tích Lan mang theo một cành cây chiết từ gốc Bồ đề nơi Đức Phật thành đạo để mang đi Tích lan trồng. Cây Bồ đề đó vẫn còn sống đến nay.

Phái đoàn thứ hai do trưởng lão Majjhantika nhận trách nhiệm đi truyền giáo ở xứ Gandhàra và Kasmìra. Ngài Majjhantika là một vị A La Hán. Trong kỳ Kết tập Kinh điển lần thứ ba, Ngài cũng là thành viên ưu tú tham dự. Lúc Ðại Ðức Majjhantika đến hoằng pháp ở xứ này thì dân chúng của nước Gandhàra đang bị nạn thiên tai như bão lụt, hạn hán, thất mùa, trưởng lão đã dùng thần thông để hóa giải thiên tai và thuyết kinh Xà Dụ (蛇諭Alagaddupama suttanta- The Snake Simile).

Phái đoàn thứ ba do trưởng lão Mahàdeva nhận trách nhiệm đi truyền giáo ở xứ Mahisamandala. Trưởng lão cũng là một thành viên xuất sắc trong kỳ Kết tập Kinh điển lần thứ ba. Mahisamandala có thể là vùng hạ lưu sông Godhàvarì, ngày nay gọi là Mysore.

Phái đoàn thứ tư do ngài trưởng lão Rakkhita nhận trách nhiệm truyền giáo ở xứ Vanavàsa. Ðịa danh Vanavàsa là một quận, có lẽ là miền bắc của Kanara, nam Ấn Ðộ. Theo “Đại vương thống sử” [Mahavamsa – Tỳ kheo Minh Huệ dịch] thì ngài trưởng lão đến xứ này bằng thần thông. Khi đến, ngài đứng giữa không trung thuyết pháp cho người dân xứ này nghe về bài kinh Anamatagga Samyutta (bài thứ 15 Tương Ưng Vô Thủy trong Tương Ưng Bộ Kinh (相應部經Samyutta Nikaya)

Phái đoàn thứ năm do ngài trưởng lão Yonaka Dhammarakkhita nhận trách nhiệm truyền bá chánh pháp của Ðức Phật ở xứ Aparantaka (nay là thành phố Bombay của Ấn Ðộ). Ngài sinh ra và lớn lên ở Hy Lạp, có duyên lành với chánh pháp và được xuất gia, sau đó tu tập tinh chuyên và cuối cùng chứng quả A La Hán.

Phái đoàn thứ sáu do trưởng lão Mahàrakkhita nhận trách nhiệm đi hoằng dương chánh pháp tại Trung Á, miền bắc Iran. Ngôn ngữ Pàli gọi xứ này là Yonaka.

Phái đoàn thứ bảy do các trưởng lão Majjhima, Kassapagotta, Mùlakadeva, Durabhissara và Deva Sahadeva nhận trách nhiệm truyền bá chánh pháp ở khu vực Himàlaya tức vùng chân núi Hi Mã Lạp Sơn. Sách Mahàvamsa (Đại sử大史, quyển XII.41, ghi năm vị trưởng lão thuộc phái đoàn do vua Asoka phái đi đến nước Himavà hoằng pháp. Thời pháp đầu tiên được thuyết ở xứ sở này là bài Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavatthanva suttanta).

Phái đoàn thứ tám do hai trưởng lão Sona và Uttara nhận trách nhiệm đi hoằng pháp ở xứ Suvannabhùmi (Hoàng Địa). Sử của Thái Lan, Miến Điện, Campuchia và truyền thuyết Việt Nam đều có ghi nhận công cuộc hoằng pháp của phái đoàn này. Suvannabhùmi rất rộng lớn, còn bao gồm cả Phù Nam (thời kỳ tiền đế chế Phù Nam), một vùng đất rộng lớn gồm Nam Bộ Việt Nam, Campuchia và Malaysia ngày nay, giao thương với Trung Quốc và cả La Mã qua cảng Óc Eo (núi Ba Thê An Giang). Trong phái đoàn này có một vị tên là Mahoda đã đến nước Văn Lang của triều đại Hùng Vương thứ 18 vào năm 240 trước CN, có truyền đạo cho Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa, họ là những Phật tử đầu tiên của Việt Nam, trước khi Phật giáo đến Trung Quốc 300 năm. Nước Văn Lang chính xác diệt vong vào năm 208 trước CN khi bị An Dương Vương Thục Phán đánh chiếm.

Phái đoàn thứ chín do trưởng lão Mahàdhammarakkhita lãnh trách nhiệm truyền giáo ở Mahàratthi. Về địa danh này, các học giả nhận định đó là xứ Maràthì, mà có lẽ ngày nay là phía đông bắc của thành phố Bombay, Ấn Ðộ. Thời pháp đầu tiên vị Trưởng lão thuyết ở đây là kinh Bổn Sanh (Jàtaka). Kinh Bổn Sanh là tập hợp những câu chuyện tiền thân của Ðức Phật.

Lần kết tập thứ tư tại Tích Lan và Kasmira vào khoảng không quá lâu sau cuộc kết tập lần thứ ba, do vua xứ Tích Lan là Vattagàmani hỗ trợ. Ngôi chùa tháp Thùpàrama ở thủ đô Anuradhapura được Chư Tăng chọn làm điểm kết tập. Vị chủ tọa kỳ kết tập kinh điển này chính là Ngài Mahinda. Kì kết tập này đã đọc, hiệu đính và sắp xếp lại thứ tự của Tam Tạng kinh, cũng như dịch bộ kinh này sang tiếng Pali. Thuyết này được nhiều học giả công nhận, chính là kết tập lần thứ IV của Thượng Tọa Bộ (Theravada).

Gần đồng thời, bên Ðại Chúng Bộ, chư tăng cũng tổ chức kỳ kết tập kinh điển lần thứ IV tại Kasmira thuộc thuộc vương quốc Gandhàra (Kiền Đà La 犍陀羅, là chư hầu của đế quốc Kushan (Quý Sương 貴霜) miền tây bắc Ấn Ðộ.


Vương quốc Gandhara thuộc vùng tây bắc Ấn Độ, kinh đô là Taxila (số 15 ngày nay thuộc Pakistan,) nơi kết tập là Kashmir (số 17). Kashmir xưa gọi là Kusha (Quy Tư龜玆) là một trung tâm Phật giáo nằm trên con đường tơ lụa, chính là nơi sinh của nhà phiên dịch kinh điển nổi tiếng Cưu Ma La Thập (鳩摩羅什Kumārajīva). Kashmir hiện nay là nơi tranh chấp giữa Ấn Độ và Pakistan.

Người khởi xướng và bảo trợ cuộc kết tập là đức vua Kanishka của đế quốc Kushan (Quý Sương 貴霜) được biết như là vị hộ pháp tương đương với A Dục Vương. Lý do kết tập là do Chư Tăng các bộ phái bất đồng về kinh điển nên mới mở đại hội. Mục đích của kỳ kết tập này là để soạn ra bằng văn bản các bộ : Kinh, Luật, và Luận, gồm có 30 vạn bài tụng, 9.600.000 lời. Nhà vua định đưa 500 vị tỳ kheo đến thạch động ở Vương Xá Thành, nơi mà Ngài Maha Ca Diếp (Maha Kassapa) kết tập kinh điển lần đầu tiên, nhưng các vị tăng từ chối và tâu rằng: “Ðại vương, không nên, vì ở đó có nhiều ngoại đạo, nhiều luận sư khác phái rất phức tạp ắt sẽ gây nhiều trở ngại cho cuộc kết tập”. Chính vì lý do này nên đại hội mới tổ chức tại Kasmira thuộc đế quốc Kushan. Nhưng truyền thống của Theravàda thì không công nhận đại hội này [theo "2500 Years of Buddhism", p.42]. Ðại hội này do Vasumitra (Thế Hữu世友 dịch âm là Ba Tu Mật婆须蜜) chủ tọa với sự trợ giúp của Parsva (Hiếp tôn giả 脅尊者, còn phiên âm là 波栗濕縛 Ba Lật Thấp Phược. Sở dĩ có danh xưng Hiếp tôn giả vì ngài Parsva không bao giờ nằm kể cả lúc ngủ, vì vậy sườn -hiếp 脅- không bao giờ chạm vào chiếu). Cuộc kết tập này đánh dấu sự hưng thịnh của Phật giáo Ðại thừa (Mahayana) từ đó về sau. Sau khi kết tập, vua Kanishka đã ra lệnh khắc lại toàn bộ Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng lên trên những lá đồng, bảo quản tại một nơi cố định, không cho mang ra ngoài. Tuy nhiên, những di vật này nay đã bị thất lạc, chỉ còn bộ A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (Abhidharma Mahavibhasa sastra) mà Đại sư Huyền Trang đã dịch sang Hán ngữ, gồm hai trăm quyển.

Đến thế kỷ đầu công nguyên, Phật giáo có bước phát triển mới rất quan trọng, đó là công cuộc truyền bá giáo pháp về phương đông, đến Trung Quốc, phần lớn là Đại Thừa, mở một chương mới xán lạn cho Phật giáo.
(Truyền Bình)
Read more…

Ý nghĩa Hành hương và Hành hương Phật giáo

17:04 |
Thời gian gần đây du lịch hành hương và các chương trình tour hành hương đặc sắc đang thu hút rất nhiều phật tử và du khách trong nước cũng như các nước khác.

Vậy du lịch hành hương là gì?

Hành hương theo truyền thống Phật giáo là nghi thức thắp hương đi nhiễu quanh tháp đường và điện Phật và cũng như lễ bái trước tượng Phật, Bồ tát... Đây là ý nghĩa nguyên thủy của từ “hành hương”, còn về sau này, nội hàm của “hành hương” mở rộng hơn nhiều, thậm chí đến nay hành hương đôi khi được đánh đồng với du lịch văn hóa, nhất là các tuyến du lịch tham quan các di tích lịch sử tôn giáo - tín ngưỡng. Giữa tour hành hương và du lịch hành hương có tính chất nhập nhằng, một mặt nhằm gia tăng nội dung cho chuyến đi; nhưng mặt khác, làm giảm - thậm chí làm mất, tính thuần khiết của hành hương.


Ý NGHĨA TOUR HÀNH HƯƠNG

Thuật ngữ “hành hương” được đề cập trong tiếng Anh là từ Pilgrimage/Anglo – tiếng Pháp là từ French: pilgrimage (Middle English {1100-1500}): Pilgrimage vừa có nghĩa: 1- “Cuộc hành trình, đặc biệt là chuyến đi dài ngày, đến một địa điểm thiêng liêng nào đó, nhằm mục đích lễ bái; 2- Và cũng có nghĩa “bất kỳ cuộc hành trình dài ngày nào” (Pilgrimage (n): a) a journey, esp. a long one, made to some sacred place as an act of devotion; b) any long journey). Có phần xác định rõ hơn tính chất thế tục của hành hương trong thời hiện đại, từ điển Oxford Reference English Dictionary (1996) định nghĩa hành hương là “chuyến đi nhằm mục đích hoài niệm quá khứ hay tình cảm” (Any journey taken for nostalgic or sensimental reasons).

Các chuyến đi nhằm mục đích hoài niệm hay tình cảm như vậy, thực ra chỉ được coi là chuyến đi có chút gì giống với hành hương. Bởi cuộc hành trình đến các địa điểm đáng nhớ, không mờ phai trong ký ức của mình, như vậy không giống, không lẫn lộn với một chuyến đi nào khác. Những điểm đến đầy ắp kỷ niệm đó là thiêng liêng, khác biệt với ký ức của cộng đồng, ở đó, người hành hương không chỉ thành tựu được sự gia tăng về niềm tin và chất lượng cho cuộc sống tâm linh của mình mà còn tăng cường sợi dây gắn bó, mối quan hệ giữa mình và cộng đồng.

Cuộc du lịch hành hương đích thực như vậy đòi hỏi phải có ba yếu tố cấu thành cơ bản nhất định:

1- Một hay quần thể địa điểm thiêng liêng.
2- Một chuyến đi bộ thiêng liêng.
3- Một mục đích thiêng liêng.

Đây là những yếu tố cần và đủ của chuyến hành hương tâm linh. Chuyến hành trình là cuộc đi trong không gian, trong thời gian và trong bản thân mình, là sự hóa thân làm cuộc sống trần tục có ý nghĩa trong sự nối kết với cái thiêng liêng, cao cả với giá trị mà lịch sử - văn hóa đã kết tụ lại. Con đường ấy cũng tạo ra mối quan hệ: nó nối kết những hành giả với nhau trong một khoảnh khắc đặc biệt của cuộc đời mình, làm cho các ý tưởng và các mô hình giao lưu với nhau, liên kết những cá nhân cùng chia sẻ một niềm tin, một hệ giá trị đạo lý và văn hóa. Như vậy là hành hương góp phần hoàn thiện con người. Tâm người hành giả được tái tạo mới nhờ cuộc du hành đầy tác dụng giáo dục và được thăng hoa nhờ sự bồi bổ tri thức của kết quả “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Sau cuộc du lịch hành hương là thời gian để hồi tưởng và suy gẫm: những ý tưởng mới được xác lập để định hướng cho những hành động và lối sống của chính mình. Cho nên cuộc hành hương đó chính là hành trình tâm linh.

DU LỊCH HÀNH HƯƠNG TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO

Chùa Shwedagon nổi tiếng của Myanma
Hành trình mà tâm thức trong mỗi người luôn bị đánh động để hình thành một niềm tin chân thật về địa điểm hay di tích linh thiêng chứa đầy những biểu tượng và dấu vết lịch sử. Chúng ta không có chứng cứ để khẳng định rằng hành hương là tập tục có từ thời tiền sử, song nhờ vào dữ liệu văn tự, chúng ta có được dấu vết những cuộc hành trình đến các địa điểm thiêng liêng. Người Tây Tạng xác tín rằng nếu ai hành hương đến Lhasa để lễ bái ở những tự viện và điện Potala thì sẽ được phước lớn, khi chết sẽ được vãng sinh về cõi Cực lạc và trong khi hành hương mà bị chết ở giữa đường thì cũng được phước tái sanh ở tiên cảnh... Liên quan đến vấn đề khởi đầu cho việc hành hương của Phật giáo được nói đến trong Trường Bộ (Digha Nikaya) phẩm kinh Đại Niết Bàn, ghi lại những lời giáo huấn sau cùng của Đức Phật, “Này Ananda, đó là bốn Thánh tích, người thiện tín cư sĩ cần chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các thiện tín tỷ-kheo, tỷ-kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ sẽ đến với niềm suy tư: Ðây là nơi Như Lai đản sanh; đây là nơi Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng chánh giác; đây là nơi Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng; và đây là nơi Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn. " Đức Phật dạy: “Này Ananda, những ai trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh vào cõi thiện, cảnh giới chư thiên.” Tiêu biểu là du lịch hành hương Ấn Độ

Vì sao Phật đề cập bốn thánh địa này trong giờ phút nhập diệt?

Vi sự vắng mặt của bậc Đạo sư sẽ dễ đưa đến sự mất định hướng trong giới đệ tử. Và Đức Phật đã dạy rằng, sau khi Ngài diệt độ chính Pháp (Dhamma) và Luật (Vinaya) là Đạo sư của hàng đệ tử. Nhưng Pháp và Luật sẽ được tiếp cận dễ dàng hơn đối với những người có sự thâm tín vào Bậc đã thuyết giảng những điều đó. Chiêm bái thánh tích sẽ giúp người đệ tử giữ vững niềm tin khi họ tận mắt chững kiến những nơi chốn liên quan đến bậc Đạo sư lịch sử của họ (điều rất cần thiết vào thời điểm sau khi Đức Phật đã diệt độ).

Ý nghĩa này sẽ phần nào rõ ràng hơn vì hành hương trong Phật giáo luôn gắn liền với tín ngưỡng phụng thờ tháp (thūpa - stūpa) và xá lợi (śarīra), được đề cập trong kinh Đại Bát Niết Bàn, “Này Ananda, vì lý do gì, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng đáng xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: ‘Ðây là tháp của Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri.’ Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, họ sẽ sanh lên thiện giới, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý do này, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng đáng xây tháp.”

Việc xây dựng tháp phụng thờ và chiêm bái xá lợi chính là thể hiện lòng kính ngưỡng, sự thấu hiểu về Đức Phật và giáo pháp của Ngài. Trong nhiều bản kinh Đức Phật dạy rằng: “Ai thấy pháp là người ấy thấy Phật, và ai thấy Phật là người ấy thấy pháp.” Xá lợi chính là Phật thân còn lại sau khi Đức Phật vắng bóng ở cõi đời này. Chiêm ngưỡng xá lợi như vậy là để thấy Phật, thấy Phật là thấy Pháp, và thấy Pháp không chỉ là ôn lại lời dạy của Phật mà còn để thấy được bản chất thực của cuộc đời.

Như vậy, nhìn từ kinh Đại Bát Niết Bàn, hành hương là quay trở về bốn thánh tích, chiêm bái bảo tháp và đảnh lễ xá lợi luôn có liên hệ mật thiết đối với việc hành hương của người Phật tử, nhằm giúp người đệ tử Phật tăng trưởng tín tâm của mình. Từ tín tâm, hành hương là dịp người Phật tử gieo trồng thiện nghiệp, điều kiện cần để một người sau khi mạng chung được sanh về thiên giới. Bởi vì hành hương trong Phật giáo thường được kết hợp với việc thực hành bố thí (dana), và bố thí được xem có ý nghĩa và gặt nhiều phước lành hơn cả khi cúng dường lên bậc Giác ngộ (qua những biểu tượng) với tâm tịnh tín.

Hành hương với lòng thâm tín và tâm thanh tịnh sẽ đưa người Phật tử tại gia đi đến việc thực hành hạnh “xuất gia”. Khi thực hiện một chuyến hành hương là người Phật tử phát nguyện rời bỏ những “sinh hoạt thế tục” trong một khoảng thời gian nào đó để sống một đời sống “không nhà”. (Trong ý nghĩa này mà một vài người khi bàn về hành hương đã liên hệ nó với thuật pravrajyāta (Pali: pabbajjāta). Pravrajyāta thường được dịch là xuất gia, đi ra khỏi, hay rời bỏ đời sống trần tục. Và pravrajita, hay pravrājaka là người rời bỏ đời sống trần tục).

Chuyến hành hương không có tính ép buộc, hoàn toàn là điều tự nguyện. Và hành hương trong Phật giáo không mang tính cộng đồng với thời gian và những điều kiện được ấn định cụ thể. Các tín đồ Phật giáo có thể hành hương về các thánh tích vào bất kỳ thời điểm nào họ thấy thích hợp. Và mục đích của hành hương, như đã nói, là để tăng trưởng tín tâm, gieo trồng thiện nghiệp, thanh tịnh tâm ý (và hẳn còn những mục đích khác nữa); và những sinh hoạt tại các thánh tích thường là đảnh lễ, thực hành thiền định và trì tụng kinh chú.v.v…

Hành hương của người Phật tử có nhiều ý nghĩa hơn khi hiểu được những sự kiện đã gắn liền với địa danh đó. Người hành hương khi ấy không chỉ trở về một địa danh địa lý, mà còn quay trở lại với con người lịch sử liên quan đến địa danh đó. Trở về với một thánh tích là thực hiện chuyến hành trình tâm linh thực sự, do đó là quay về và sống theo lời Phật dạy (ai thấy Pháp là thấy Phật).


HÀNH HƯƠNG TÂM LINH NGÀY NAY

Định hướng và đưa lời dạy của Phật đồng hành cùng với chuyến đi hành hương là điều cần thiết giúp cho việc khai mở tâm linh trong chính mỗi con người. Do vậy chuyến hành hương tự phát hay chuyến du lịch về đất Phật thiêng liêng (Thánh địa Phật giáo tại Ấn Độ) sẽ không được phát huy đúng mức. Bởi hành trình đó không đơn thuần là một chuyến đi dã ngoại, mà còn là chuyến đi của sự tu tập trong thời gian ngắn ở các địa điểm thiêng liêng thông qua các loại hình như nghi lễ, ngồi thiền, niệm Phật, tụng kinh, trì chú…Bên cạnh đó chuyến đi còn là sự tiếp cận, học hỏi các nền kiến trúc, văn hóa khác nhau thông qua hình ảnh ngôi chùa các quốc gia, qua sự giao tiếp, phong tục tập quán người dân bản xứ…

Tuy nhiên, đối với đại đa số những người tham gia hành hương thường có những suy nghĩ thiếu tin tưởng vào loại hình tâm linh do các thầy Tu sĩ đứng ra tổ chức. Họ so sánh các công ty Du lịch tổ chức thường có bài bản, người hướng dẫn được đào tạo chính quy đầy đủ tất cả các kỷ năng cần thiết, tiêu chuẩn phòng ốc khách sạn, nhà hàng… Do vậy, để đảm bảo tính chuyên môn, cũng như đáp ứng được lòng kỳ vọng của chuyến hành hương tâm linh Giáo hội cần phải:

1. Đây là loại hình hành hương tâm linh, do vậy, để đảm bảo được xác suất cao, người hướng dẫn phải là vị giảng sư, kiêm người tổ chức các loại hình sinh hoạt tâm linh. Điều này cũng tạo ra sự khác biệt với các công ty Du lịch.

2. Đào tạo các vị giảng sư chuyên khoa Du lịch – Hành hương. Trước mắt ta có thể sử dụng nhân sự từ lớp Giảng sư Cao cấp của Ban Hoằng Pháp TW, sau khi kết thúc khóa học Giảng sư, các vị có thể đăng ký lớp chuyên khoa Du lịch – Hành hương đào tạo thời gian học một năm, về các kỷ năng:
- Cách thức giao tiếp
- Ngôn ngữ (tiếng Anh, tiếng Hoa)
- Lịch sử, địa lý các địa điểm thiêng liêng
- Phương cách tổ chức khóa tu tập ở các địa điểm Thánh địa

3. Quảng bá rộng rãi lịch trình định kỳ hằng năm các chuyến đi hành hương trên các báo, tờ rơi (trong các dịp lễ hội đông người).

4. Phát động chuyến hành hương Tâm linh “Về Nguồn”


KẾT LUẬN

Với những ý nghĩa trên, hành trình du lịch hành hương - con đường hoằng pháp là những những trải nghiệm thực tế về những bài pháp sống động mang giá trị phổ quát về lịch sử cuộc đời bậc Đại Giác; cũng là dịp hiểu sâu hơn về thế giới và thân phận con người. Biết đâu một ai đó đi qua những mảnh đất Đức Phật lưu dấu, bất nghe trong tháp thờ Phật nhập Niết Bàn ở Câu Thi Na vang vọng lời kinh “Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn chớ có phóng dật”. Ý thức về sự vô thường ngắn ngủi của kiếp người, nỗ lực vượt lên những điều nhỏ nhặt đời thường để tìm tới những gì tốt đẹp hơn, là điều Đức Phật đã thiết tha dạy bảo trong bài kinh Đại Bát Niết Bàn.

Từ đó, hành trình du lịch tâm linh được đề cập như là một trong những hoạt động hoằng pháp không thể thiếu, khiến cho mọi người tìm thấy con người tâm linh của mình bằng việc lắng đọng tâm tư thanh tẩy bụi trần. Đó là những giây phút con người vượt ra khỏi những ràng buộc của cuộc sống đời thường để hòa nhập tâm thể linh diệu.

(nguồn: internet)
Read more…

Có thể Đức Phật ra đời sớm hơn chúng ta từng biết

18:15 |
Lumbini (Lâm Tỳ Ny) - phía Nam Nepal, gần biên giới với Ấn Độ - khu vực vốn bị rừng che phủ trước khi được tái phát hiện năm 1896 - ngày nay là một di sản của UNESCO và đón hàng trăm triệu tín đồ mỗi năm. Trên toàn thế giới, đạo Phật có khoảng 500 triệu tín đồ.

Bản đồ vị trí khai quật cổ sử - Lumbini (Nepal) - National Geographic photo

Lâm Tỳ Ni được xem là một trong những thánh tích thiêng liêng nhất của Phật giáo. Cho đến nay, bằng chứng sớm nhất về các công trình Phật giáo ở Lâm Tỳ Ni có niên đại không sớm hơn thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, tức thời kỳ trị vì của Hoàng đế Ashoka mà các Phật tử Việt Nam gọi là Vua A Dục.

Để tìm hiểu về điều này, các nhà khảo cổ đã bắt đầu khai quật ở trung tâm Đền Maya Devi.

Khu đền thiêng Maya Devi tại Lumbini

Nhà khảo cổ học Robin Coningham của trường Đại học Durham Vương quốc Anh đã đồng chủ trì một nhóm các nhà khảo cổ học quốc tế nghiên cứu tại Lumbini và hoạt động này được tài trợ một phần bởi Hội địa lý quốc gia Mỹ, có trụ sở tại Washington. Nhóm khảo cổ quốc tế báo cáo đã đào cấu trúc bằng gạch dưới ngôi chùa hiện tại, được đến thăm hàng năm bởi hàng trăm ngàn người hành hương.

Nhà khảo cổ học Robin Coningham 

Theo hãng tin AFP, ngày 25/11/2013, các nhà khảo cổ học đã công bố việc phát hiện những dấu vết về một công trình dường như là một đền thờ bằng gỗ cổ chưa từng được biết đến nằm bên dưới nền một ngôi đền bằng gạch thờ Hoàng hậu Maya Devi ở Lâm Tỳ có niên đại vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên (các kỹ thuật cac-bon phóng xạ và phát quang kích thích đã được sử dụng để xác định niên đại của các mảnh than củi và các hạt cát được tìm thấy tại hiện trường) cho thấy Đức Phật có thể đã sống ở thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, sớm 2 thế kỷ so với những ghi nhận trước đây.


Về cấu trúc thiết kế, công trình bằng gỗ này rỗng ở chính giữa và không có mái (nó có một khu vực không gian mở không được bảo vệ trước các tác động môi trường), điều này có sự tương đồng với ngôi đền Asokan được dựng phía trên nó, và có vẻ như một cái cây từng mọc lên từ đây bởi vì người ta cũng phát hiện dấu vết của rễ cây từ xa xưa nằm ở vị trí khoảng trống trung tâm trong ngôi nhà gỗ (nghiên cứu địa khảo cổ đã xác nhận sự tồn tại của các rễ cây) - có khả năng là cây nơi đức Phật tổ ra đời.


Chi tiết này gợi nhớ đến câu chuyện đản sinh của Đức Phật. Các điển tích Phật giáo ghi lại rằng Hoàng hậu Maya Devi đã hạ sinh Đức Phật khi với tay lên một nhánh cây Vô ưu trong Vườn Lâm Tỳ Ni.

Phát hiện này sẽ góp phần thúc đẩy công tác bảo tồn ở Lâm Tỳ Ni vốn lâu nay không được lưu tâm mặc dù đã được Unesco công nhận là Di sản Thế giới.

“Những phát hiện này rất quan trọng để giúp hiểu thêm về nơi đản sinh của Đức Phật,” Bộ trưởng Văn hóa, Du lịch và Hàng không dân dụng Nepal Ram Kumar Shrestha nói.

(suckhoe-doisong24h)
Read more…

10 vùng đất bí ẩn trên thế giới

23:24 |
Khoa học không ngừng phát triển, và đạt được nhiều thành tựu lớn, nhưng còn rất nhiều điều về quá khứ, cho tới nay vẫn còn là một bí ẩn lớn với nhân loại, các nhà khoa học vẫn đang đi tìm lời giải đáp. Dưới đây là 10 nền văn minh cổ đại bí ẩn nhất thế giới.

Kim tự tháp Giza và tượng nhân sư khổng lồ Sphinx (Ai Cập)


Cùng với sự xuất hiện nền văn minh Ai Cập cổ là sự tập trung dày đặc các công trình xây dựng vĩ đại. Kim tự tháp Giza và tượng nhân sư khổng lồ Sphinx là quà tặng vô giá - một trong bảy kì quan thế giới mà Ai Cập cổ đại để lại cho nhân loại. Mặc dù theo thời gian, chúng bị phá hủy phần nào, các đền thờ xung quanh cũng bị đổ nát nhưng kích thước của công trình hùng vĩ này vẫn khiến nhiều du khách phải sửng sốt. Được đánh dấu như một trong những thành tựu đáng ngạc nhiên nhất trong lịch sử loài người, cho đến bây giờ, cách thức các thợ xây cổ đại áp dụng vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi.
Vòng đá cổ Stonehenge (Great Britain)


Những dấu tích cổ đại xa xưa nhất của con người tại đây, là những công trình tượng đài trên các ngọn đồi vùng Wiltshire nước Anh. Nó bao gồm các tảng đá lớn, được xếp thành một hình tròn, được bố trí theo một ý nghĩa thiên văn của thời cổ đại, mà cho tới nay vẫn là một bí ẩn lớn của thế giới, vẫn đang được khám phá. Vòng đá cổ Stonehenge được xây dựng khoảng 2500 trước Công Nguyên.
Đảo Phục Sinh (Chile)


Đảo Phục Sinh nằm ở Đông Nam Thái Bình Dương thuộc Chile, vốn nổi tiếng với những bức tượng hình người bằng đá khổng lồ mang tên là Moai có tuổi thọ khoảng 6000 năm. Nhà thám hiểm Hà Lan Jacob Roggeveen, được tin là người đầu tiên khám phá ra hòn đảo này, vào ngày Chủ nhật Phục Sinh năm 1722, vì thế nó có tên gọi là đảo Phục Sinh. Các pho tượng nằm rải rác, khắp nơi trên hòn đảo là một phần của việc thờ cúng tổ tiên. Lí do vì sao dân cư cổ xưa có thể dựng những bức tượng này, cho tới nay vẫn là một điều bí ẩn.
Khối cự thạch cổ Baalbeck (Lebanon)


Baalbeck một thành phố ở miền đông Lebanon, nó là một thành phố phồn thịnh khi mà người Hy Lạp chiếm nó năm 331 trước công nguyên và trở thành một thuộc địa của Hoàng đế La Mã Augustus. Người La Mã đã cho xây dựng ba đền thờ Baalbeck ở Lebanon có niên đại từ 2000 năm trước công nguyên. Điều làm nên sự kỳ diệu của cấu trúc bằng đá này là nền móng đồ sộ của những ngôi đền La Mã, có những tảng đá có trọng lượng xấp xỉ 350 tấn. Điều bí ẩn là chúng đã được xẻ ra, đẽo tạc, và vận chuyển qua hàng dặm, nâng lên tới độ cao 7m, để đặt bên trên những tảng đá nhỏ hơn như thế nào.
Pháo đài Machu Picchu (Peru)


Machu picchu là một tàn tích Inca thời tiền Columbo, ở độ cao 2.400m ẩn trong dãy Andes trên một quả núi có chóp nhọn tại thung lũng Urubamba Peru. Bị thế giới bên ngoài lãng quên từ nhiều thế kỷ, dù người dân vẫn biết tới nó và được tái khám phá trở lại bởi nhà khảo cổ học Hiram Bingham vào năm 1911.
Đường kẻ Nazca lines (Peru)


Các đường kẻ Nazca Lines được tìm thấy trên sa mạc cách Lima, Peru được xem là hiện tượng rất bí ẩn. Các đường kẻ này nằm trên một vùng đất dài và rộng lớn được con người phát hiện ra đầu thập niên 30 ở thế kỷ trước. Những đường thẳng này rất hoàn hảo, chạy thẳng và đôi lúc chạy song song với nhau, nhìn từ xa trông giống như một đường băng hay hình con chim khổng lồ được khắc họa trên mặt đất. Nhiều giả thiết cho rằng, hình vẽ này là dùng để nhận biết độ cao, dùng cho dự báo thời tiết hoặc có thể là cho mục đích tín ngưỡng…
Tiahuanacu (Bolivia)


Tihuanacu hay còn được gọi là Tiwanaku vẫn còn là một bí ẩn lớn với khoa học thế giới chính xác về độ tuổi, được ước tính xây dựng khoảng từ năm 300 đến 700 với đá và công nghệ đặc biệt. Có nhiều ý kiến cho rằng, Tiahuanaco là một thánh điện để thực hiện các nghi lễ thiêng liêng với một nền văn hóa, đã lây lan sang nhiều khu vực lân cận. Những người cổ đại, đã xây dựng một kim tự tháp bằng đá được gọi là Akapana, là một trong những công trình vĩ đại nhất ở Nam Mỹ thời kỳ trước khi Columbus phát hiện ra “tân thế giới” và tạo nên ý nghĩa tâm linh lớn cho nền văn minh Tiwanaku.
Chichen Itza (Mexico)


Chichen Itza là một địa điểm khảo cổ thời tiền Colombo, do nền văn minh Maya xây dựng, nằm ở trung tâm phía bắc Bán đảo Yucatan, Mexico. Địa điểm này chứa đựng vô số các phong cách kiến trúc lớn, khác nhau lớn như El Castillo (đền thờ của Kukulkán) và đền thờ của Warriors. Nó được xây dựng bởi một bộ tộc của người Maya là Itzáes trong thế kỷ thứ 9 và phát triển thành một thủ đô trong khu vực chính cho đến thế kỷ thứ 12. Nguồn gốc thực sự của người Itza vẫn còn bí ẩn.
Những quả cầu đá bí ẩn (the Stone Spheres of Costa Rica)


Một trong những bí ẩn lạ lùng nhất, được các nhà khảo cổ học phát hiện ở đồng bằng sông Diquis, Costa Rica. Kể từ năm 1930, hàng trăm quả cầu bằng đá này, đã được tìm thấy có kích thước từ vài cm đến hơn 2m và một số có cân nặng tới 16 tấn. Các nhà khoa học tin rằng chúng được tạo thành với hình dạng này từ khoảng trước năm 200 trước công nguyên. Những quả cầu lớn này là tác phẩm điêu khắc bằng đá nguyên khối được thực hiện bởi bàn tay của con người.
Thành phố dưới nước tại Nhật Bản


Được phát hiện, bởi một hướng dẫn viên lặn khoảng 20 năm trước, trên bờ biển phía nam của Yonaguni, Nhật Bản. Tàn tích ngập dươi nước này có ước tính khoảng 8.000 năm tuổi, tranh cãi đã nảy sinh xung quanh một kim tự tháp bí ẩn được tìm thấy ngoài khơi bờ biển Nhật Bản. Những cấu trúc này dường như đã được trổ khắc ngay trong khối đá, sử dụng những công cụ trước đây được cho là không có sẵn ở các nền văn hóa cổ trong khu vực này.

Theo TPO

(http://phatphapchanthat.blogspot.com/2011/08/10-vung-at-bi-tren-gioi.html)
Read more…

Tượng Phật A Di Đà cao nhất Thế giới ở Nhật Bản

02:19 |
Nhật Bản, một đất nước của Phật giáo, có nhiều tượng phật lớn, đặc biệt có bức tượng phật rất lớn mang tên Ushiku Daibutsu (Ngưu Cửu Đại Phật) đạt kỷ lục lớn nhất thế giới đã được ghi trong Guiness Book of Records, và là một trong những kỳ quan của thế giới.


Bức đại tượng Phật Ushiku Daibutsu của Nhật Bản được xây dựng hơn 10 năm, và đạt kỷ lục là bức tượng Phật lớn nhất thế giới năm 1996. So với bức tượng Phật ở thành phố Lý Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, Tây Nam Trung Quốc, bức tượng dựa lưng vào vách núi, bề ngang 28m và cao 71m đã từng một thời được coi là bức tượng (bằng đá) lớn nhất thế giới thì bức tượng Ushiku Daibutsu của Nhật Bản hơn cả về độ cao lẫn sự hiện đại. Những thông số chính của đại tượng Phật Ushiku như sau:

Tổng chiều cao: 120m

Trọng lượng tổng thể: 4000 tấn

Ðộ vươn của tay trái: 18.0m

Chiếu cao của đầu: 20.0m

Chiều dài của mắt: 2.5m

Chiều dài của miệng: 4.0m

Chiều dài của mũi: 1.2m

Chiều dài của tai: 10.0m

Chiều dài ngón tay trỏ: 7.0m

Đại tượng Phật Ushiku nằm ở thành phố Ushiku của tỉnh Ibaraki, một tỉnh nằm về phía đông bắc của Tokyo.
Đại tượng Phật Ushiku vĩ đại này được ghép từ 6000 phiến đồng thiếc (seido, thanh đồng) có độ bền cao. Trong lòng bức tượng được trang trí rất hiện đại có thang máy (lift) từ mặt đất lên đến độ cao 85 mét. Tượng Phật có 5 tầng với tên gọi như sau:

Tầng 1: Thế giới ánh sáng (Quang Thế Giới,  Hikari no Sekai, Infinite Light and Infinite Life)

Tầng 2: Thế giới đền ơn báo đức (Tri Ân Báo Đức Thế Giới, Chion Hodoku no Sekai, World of Gratitude and Thanksfulness)

Tầng 3: Thế giới đài hoa sen (Liên Hoa Táng Thế Giới: Rengezo no Sekai, World of the Lotus Sanctuary)

Tầng 4, 5: Không gian núi Linh Ưng (Linh Ưng Sơn Gian: Ryojyusen no Aida, Room of Mt. Grdhrakuta)

Du khách vào trong lòng tượng phật ở tầng một sẽ gặp một cảnh ánh sáng mờ ảo với nhiều màu sắc và âm thanh du dương huyền diệu, bạn sẽ có cảm giác như đang đi vào cõi phật. Người hướng dẫn sẽ giới thiệu cho chúng ta về cấu trúc của tầng một và ý nghĩa của “Thế giới ánh sáng”, đó là không gian tạo nên cảnh quan “thế giới tịnh” của A Di Đà Như Lai (Ajidanyorai). Tiếp theo đó, người hướng dẫn sẽ dẫn ta vào thang máy để lên tầng trên.

Tầng hai với tên là “Tri Ân Báo Đức Thế Giới”, đó là nơi bạn có cảm giác như đang cầu nguyện để đền ơn và cảm tạ tới A Di Đà Như Lai. Tiếp lên tầng ba, bạn sẽ như lạc vào “miền cực lạc” (Cực Lạc Tịnh Thổ, Kyokuraku Jodo) trong cõi phật. Và ở tầng bốn, tầng năm chúng ta sẽ được ngắm không gian “Linh Ưng Sơn”, chúng ta có thể nhìn quang cảnh xung quanh vùng Ushiku qua bốn cửa sổ ở bốn phương đông tây nam bắc.

Gần đây Ấn Độ, quê hương của Phật tổ, đã quyết định chi ngân sách cho việc xây dựng một bức tượng phật bằng đồng thiếc cao to hơn bức tượng Ushiku của Nhật Bản. Theo báo AFP, pho tượng bằng đồng thiếc này dự kiến sẽ cao 152,4 mét, và được trưng bày trong một công viên ở thị trấn Kushinagar, bang Uttar Pradesh, miền bắc Ấn Độ (nơi Đức Phật nhập đại niết bàn khoảng 2,5 nghìn năm trước). Sau khi bức tượng của Ấn Độ này được hoàn thành, sẽ lớn hơn đại tượng Phật Ushiku của Nhật.

(http://nghethuatphatgiao.com)
Read more…

Thánh địa Phật giáo SANCHI

02:26 |
Đất nước của tôn giáo, của niềm tin hay những ảo tưởng về sự ngự trị của thánh thần, sự giác ngộ và minh triết… bất cứ mọi nhận định về xứ sở Ấn Độ rộng lớn này đều là sự cân nhắc vô cùng kỹ lưỡng, vì sau cùng nhận định ấy vẫn không bao giờ là duy nhất đúng! Với tâm lý có phần dè dặt ấy, chúng tôi đến chiêm bái thánh địa Sanchi thuộc vùng Janpada Panchayat, bang Madhya Pradesh. Thánh địa Sanchi Từ nhà ga Nizamuddin, chúng tôi đón chuyến tàu hỏa đi mất chừng 12 tiếng đồng hồ để đến ga Bhopal, bang Madhya Pradesh thuộc miền Trung Ấn Độ, nơi có thánh địa Sanchi, nơi cất giữ những kỳ quan của nghệ thuật Phật giáo cách đây hơn 2000 năm với lòng thành kính pha lẫn bồi hồi trước chiều sâu của quá khứ. Một lần nữa chúng tôi bắt gặp một tuyệt tác về nghệ thuật kiến trúc, ngôi thánh tích thiêng liêng đã trở thành di sản văn hóa thế giới. Quần thể Sanchi bao gồm tòa đại bảo tháp, phế tích của các cây cột do vua Ashoka xây, các nền tu viện và những tháp nhỏ xung quanh. Thánh địa Sanchi là nơi hội tụ một nền văn hóa, học thuật từ thời xa xưa của Phật giáo. Thế nhưng, Sanchi chỉ được biết đến rộng rãi vào năm 1818, sau một quá trình bị lãng quên chừng khoảng 600 năm. Trước kia, nơi đây chỉ là một bãi cỏ hoang dã. Thánh địa được phát hiện nhờ vào công sức của các nhà khảo cổ sau ngày đất nước Ấn Độ giành lại độc lập. Nhà khảo cổ Alexander Cunningham, người đi tiên phong trong công việc khảo sát về khảo cổ học của Ấn Độ, đã có mô tả rất chi tiết về di tích Sanchi trong báo cáo của mình. Các nhà khảo cổ nổi tiếng như Johnson, Cunningham, đội trưởng Maissey và ông John Marshal cũng đã thực hiện công việc khai quật và bảo tồn thánh địa từ năm 1822 đến năm 1919. Ông John Marshal đã thành lập một bảo tàng khảo cổ nằm tại chân đồi Sanchi gần lối đi chính. Ông cũng đã tiến hành phân loại những di tích và sắp xếp nó trình tự qua từng thời kỳ. Ngày nay, khi chúng tôi đến chiêm bái thì Sanchi được bảo tồn khá nguyên vẹn. Di tích trên thánh địa Sanchi Phù điêu khắc tượng Phật xung quanh bốn hướng của Đại tháp Cầu thang dẫn lên đỉnh Đại tháp Sanchi Nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc ở ngôi đền Sanchi đã trở thành di sản văn hóa thế giới. Truyền thuyết kể rằng, sở dĩ vua Ashoka chọn Sanchi làm nơi xây dựng bảo tháp là vì cách nơi đây vài dặm ông đã gặp và cưới người vợ thứ hai yêu dấu của mình và hạ sinh cho ông một người con về sau xuất gia và trở thành một nhà truyền bá Phật giáo ở đất nước này. Theo tài liệu của các nhà khảo cổ học, Đại bảo tháp Sanchi bắt đầu xây dựng từ Vương triều của Đại đế Ashoka thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Lịch sử rõ ràng của Sanchi bắt đầu từ vua Ashoka (A Dục) năm thứ 10 sau khi lên ngôi, kéo dài suốt 37 năm (từ năm 274 – 237 trước Công nguyên). Trị vì một đế quốc hùng mạnh, Ashoka là vị vua hết lòng hộ trì Phật pháp nên cho xây dựng rất nhiều bảo tháp, trụ đá và tu viện rộng khắp trên đất nước Ấn Độ. Sau khi vua Ashoka qua đời, đế chế to lớn của ông dần dần bị tan rã. Triều đại Sunga lên nắm quyền hành, với sự xuất hiện của họ, Phật giáo bắt đầu suy yếu. Vua Pushvamira Sung lên ngôi, ông cho phục hồi lại các lễ nghi của Bà la môn mà trước đây Ashoka đã ngăm cấm, Phật giáo bắt đầu suy yếu. Đền chùa, tháp miếu rơi vào cảnh hoang phế. Tiếp tục kế ngôi vua cha, Agnimitra trông nom một vương quốc phía Tây lấy Vidisha làm thủ phủ. Thật may mắn, vương triều này không cuồng tín tôn giáo để phá hủy các chùa tháp Phật giáo, ông đã đóng góp một phần rất lớn trong việc duy trì dài lâu của thánh địa Sanchi. Vua Agnimitra đã cho xây dựng một bảo tháp lớn bằng đá bao quanh tháp chính bằng gạch được xây dựng bởi vua Ashoka. Xung quanh vẫn còn sót lại vữa vôi và các lớp phủ thạch cao, dường như nó cũng được thực hiện trong giai đoạn này. Một trụ đá (trụ đá số 25) được ghi một sắc lệnh của vua Agnimitra cũng được tìm thấy. Có một lan can bằng đá lớn chạy quanh bảo tháp 1, từng mảnh đá nhỏ từ các tín đồ Phật tử mộ đạo cũng đã được gắn vào trong cấu trúc của bảo tháp. Và tên của họ cũng được khắc trên phiến đá bằng ký tự Brahmi, tất cả đều diễn ra trong giai đoạn của vương triều Agnimitra. Hạt nhân của thánh địa Sanchi là Đại bảo tháp nằm ở khu vực trung tâm, là nơi thiêng liêng nhất ở quần thể Sanchi. Đại bảo tháp có cấu trúc hình cầu có đường kính 37m cao 16,5m, xây dựng theo kiểu mẫu vũ trụ quan Phật giáo. Xuyên qua tâm vòng tròn là một cột trụ vươn lên qua đỉnh vòm, tượng trưng cho cột đỡ vũ trụ. Nhiều người cho rằng, tháp lớn Sanchi được xây dựng trên phần tro hỏa táng của Đức Phật, vì các tháp nhỏ hơn (tháp 2 và 3) thờ xá lợi của các vị Thánh đệ tử như tôn giả Mục Kiền Liên và người con của vua Ashoka. Nét đặc thù của bảo tháp là bốn cổng đá cao khoảng 10m được chạm khắc cực kỳ mỹ lệ nhìn ra bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc cũng là bốn hướng mà Phật pháp được truyền đi khắp cõi nhân gian. Trên các trụ cột và ba cây đà bắt ngang thể hiện những tác phẩm điêu khắc kỳ công miêu tả cuộc đời của đức Phật Thích Ca Mâu Ni và những câu chuyện tiền thân của Ngài được ghi chép trong kinh Bổn Sanh. Kiến trúc độc đáo của ba đà ngang, hình khối độc nhất vô nhị đã trở thành dấu ấn riêng của đền thờ Sanchi. Các con số 3, 4, 7… được xem là những con số thiêng liêng lưu niệm những ý niệm thanh cao của Phật giáo được lồng ghép một cách có dụng ý trong toàn bộ tòa kiến trúc này. Hình cội bồ đề, bánh xe chuyển pháp luân, ngai vàng bỏ trống, các dấu chân… tượng trưng cho sự hiện thân của đức Phật trong bảy kiếp của Ngài được lập lại theo những mô típ chính mang phong cách đặc thù của nghệ thuật tạo hình Ấn Độ. Ngay phía sau cánh cổng là bốn bề tượng Phật trong tư thế thiền định biểu trưng bốn hướng của vũ trụ. Ở cánh cổng phía Tây có cầu thang dẫn lên hành lang. Khách hành hương thường đi bộ quanh tháp theo chiều kim đồng hồ với niềm tin sẽ gia tăng phước đức, tăng trưởng tín tâm. Về mặt thần học, điều này có ý nghĩ sâu xa với sự hội nhập của thân xác vào không gian bao la của vũ trụ. Trên đỉnh bảo tháp và cũng là phần cao nhất của lòng tôn kính là cấu trúc ba tầng tượng trưng cho Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) như một cây thiêng nối kết cõi trời và cõi nhân gian. Sử sách lưu truyền rằng ngay phía dưới cấu trúc Tam bảo này là nơi tọa lạc của chiếc hòm đựng xá lợi Phật, biểu trưng cho hạt giống của đạo pháp. Theo đức tin của Phật tử, xá lợi này sẽ mất đi khi đạo hạnh ở nơi đó bị mai một và sẽ sinh sôi nảy nở khi nơi nào tâm bồ đề sinh sôi và giới luật nghiêm cẩn. ———————————— Đứng bên thánh tích Sanchi của buổi chiều tà sau hơn 2000 năm, chúng tôi như nghe thấy quá khứ thì thầm bên tai, như mách bảo những người đi lần theo dấu vết xưa để tìm lại thời vàng son của Phật giáo về những điều khôn ngoan và minh triết. ———————————— Ngày nay, thánh địa Sanchi – một vùng đất yên bình – đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với nhiều khách hành hương từ các nước đến chiêm bái và tìm hiểu. Hàng năm vào giữa kỳ mùa Đông, bảo tháp sẽ được mở cửa để dành cho du khách tận mắt chiêm bái, đảnh lễ xá lợi của các vị Thánh đệ tử. Nếu thuận duyên, chúng ta nên đến Sanchi vào những dịp này để tận hưởng hết trọn những giá trị tâm linh cũng như thưởng ngoạn phong cảnh hữu tình và kiến trúc đền đài tráng lệ của quần thể di tích này. Đứng bên thánh tích Sanchi của buổi chiều tà sau hơn 2000 năm, chúng tôi như nghe thấy quá khứ thì thầm bên tai, mách bảo chúng tôi – những người đi lần theo dấu vết xưa để tìm lại thời vàng son của Phật giáo – về những điều khôn ngoan và minh triết. Rời Sanchi mà trong tôi vẫn còn cảm giác trìu mến lạ lùng, như thể rời xa một giấc mơ mà không biết giấc mơ ấy có trở về lần nữa hay không. (Theo langadida)

(http://khemarama.com/thanh-d%E1%BB%8Ba-ph%E1%BA%ADt-giao-sanchi/)
Read more…

Video

Back to top Go bottom