Thói quen uống nước gây hại sức khỏe

20:27 |
Bạn nghĩ rằng uống nước ngay khi vừa đun sôi sẽ tiệt trùng và tốt cho sức khỏe? Tuy nhiên, đây là một trong những quan niệm hoàn toàn sai lầm về nước uống.

Nước chiếm khoảng 70% khối lượng của cơ thể và là thành phần quan trọng của quá trình trao đổi chất. Mỗi người cần uống khoảng 2 lít nước, tương đương khoảng 8 cốc nước mỗi ngày để đảm bảo sức khỏe. Tuy nhiên, nếu uống nước không đúng cách lại gây nguy hiểm cho sức khỏe.

Sau đây là một số thói quen uống nước gây phản tác dụng:

Uống nước đun đi đun lại nhiều lần

Nhiều người nghĩ rằng, nước uống đun càng nhiều, càng kỹ, càng diệt được vi khuẩn và nước càng sạch. Tuy nhiên, theo các chuyên gia dinh dưỡng, nước đun đi đun lại gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn.

Bởi trong nước thường có một hàm lượng nhỏ các loại kim loại nặng không tốt cho sức khỏe như chì, cadimium, nitrat.... Khi nước đun đi đun lại nhiều lần, trải qua quá trình thủy phân không ngừng bốc hơi thì hàm lượng nitrat và các kim loại nặng trên tăng lên đáng kể, khi hấp thụ vào cơ thể sẽ gây hại cho sức khỏe của bạn.

Đợi khát mới uống nước

Đây là thói quen của hầu hết mọi người, và phải điều chỉnh ngay lập tức. Vì chỉ uống nước khi khát sẽ làm cơ thể không đủ lượng nước cần thiết. Nếu thiếu nước sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của các cơ quan trong cơ thể.

Đừng đợi khát mới uống nước


Uống nước không chỉ để thỏa mãn cơn khát mà còn góp vào quá trình tham gia trao đổi chất, để cơ thể hô hấp dễ dàng hơn. Thời gian dài thiếu nước sẽ làm gia tăng độ đặc của máu, dẫn đến bệnh tim, huyết quản. Ngoài ra, càng không chú ý uống nước, thói quen uống nước sẽ ngày càng ít đi, cơ thể sẽ ngày càng khô. Vì vậy, bất kể khát hay không, bạn cần kịp thời bổ sung nước cho cơ thể.

“Nạp” quá nhiều nước

Đừng cho rằng uống càng nhiều nước càng tốt. Khi thận không bài tiết kịp sẽ làm cho chất khoáng trong máu bị pha loãng gây ra tình trạng hạ natri máu. Bên cạnh đó, lượng “nước thừa” còn gây hại cho tim và cơ quan nội tiết.

Nước vừa đun sôi uống luôn

Uống nước đun sôi là thói quen tốt nhưng nếu uống ngay khi nước vừa mới được đun sôi xong lại gây hại cho sức khỏe của bạn. Nguyên do là nước sinh hoạt (nước máy) của chúng ta đều đã thông qua khử trùng bằng clo. Khi clo kết hợp với chất hữu cơ sẽ lưu lại trong nước, sinh ra các hợp chất gây ung thư. Vì vậy, hãy để nước vừa đun sôi bốc hơi, để nguội xong một lúc mới dùng.

Không uống nước trước khi đi ngủ

Nhiều người cho rằng, uống nước trước khi ngủ sẽ khiến giấc ngủ bị đứt quãng vì bị “đánh thức” đi vào nhà vệ sinh lúc nửa đêm. Tuy nhiên, uống một lượng nước nhỏ không những không khiến bạn mất ngủ mà còn có tác dụng làm nhuận đường hô hấp, máu tuần hoàn tốt hơn và ngủ ngon hơn.

Hãy uống nước trước khi đi ngủ để ngủ ngon hơn

Mặt khác khi bạn ngủ, cơ thể rất dễ bị mất nước khiến các hệ cơ quan hoạt động uể oải, thiếu nhịp nhàng về lâu dài có thể gây hại cho sức khỏe. Vì vậy, hãy uống một vài ngụm nước ấm trước khi đi ngủ để góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe của chính mình.

Uống nước ngọt thay nước lọc

Nhiều người có sở thích uống nước ngọt có gas để giải tỏa cơn khát và cảm thấy tinh thần phấn chấn hơn, đặc biệt trong những ngày thời tiết nắng nóng, thậm chí họ có thể uống thay nước lọc.

Thói quen này cực kỳ nguy hiểm. Trong nước ngọt có khá nhiều hóa chất gây hại cho sức khỏe. Chúng khiến cơ thể hồi hộp, tim đập nhanh, tạo cảm giác phấn chấn giả và sau đó sẽ làm bạn cảm thấy mệt mỏi hơn. Ngoài ra, hầu hết nước ngọt có gas có thể làm cho bạn bị đầy hơi, khó tiêu, hấp thu dưỡng chất kém đồng thời lượng đường trong nước ngọt còn làm gia tăng khả năng béo phì.

Không uống nước khi ngủ dậy

Đây là thói quen của rất nhiều người. Ngủ dậy, vệ sinh, ăn sáng luôn. Cơ thể bạn trải qua một đêm dài không được cung cấp nước trong khi hoạt động của các hệ cơ quan trong cơ thể vẫn diễn ra bình thường. Chất thải trong cơ thể đang cần được rửa sạch. Chính vì vậy, việc bổ sung nước ngay sau khi ngủ dậy không chỉ có tác dụng cung cấp nước mà còn giúp cơ thể bạn giải độc một cách hiệu quả. Hãy uống ít nhất từ 400-500 ml nước ấm ngay sau khi ngủ dậy để bảo vệ sức khỏe.

Uống nhiều nước sau vận động

Uống nước ngay sau khi tập thể dục hoặc chơi thể thao sẽ tạo áp lực cho tim và ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể

Uống nước ngay sau khi tập thể dục hoặc chơi thể thao sẽ tạo áp lực cho tim và ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể. Do đó, hãy nghỉ ngơi một chút rồi uống nước để bù đắp lượng nước đã mất qua mồ hôi.

Uống nước trong lúc ăn

Hệ tiêu hóa sẽ bị “đe dọa”, nhất là hoạt động của dạ dày nếu bạn có thói quen uống nước trong lúc ăn. Vì theo các nhà khoa học, nước sẽ pha loãng các dịch vị được tiết ra để tiêu hóa thức ăn. Đồng thời làm tăng lượng insulin trong cơ thể và tích tụ chất béo.

Uống nước quá lạnh

Uống nước quá lạnh sẽ làm cho các vi mạch máu trong dạ dày, ruột bị co thắt lại. Khi đó sẽ làm giảm chức năng tiêu hóa, sát khuẩn của hai cơ quan này dẫn đến cơ thể dễ bị đau bụng và tiêu chảy cấp.

(eva.vn)
Read more…

5 cặp thực phẩm kết hợp với nhau rất có lợi

22:14 |
Sữa chua và chuối


Việc tiêu thụ hai chất dinh dưỡng đa lượng này cùng lúc trong thời gian ngắn ngay sau khi tập luyện thể dục thể thao sẽ đẩy nhanh tốc độ hồi phục của cơ bắp. Sự kết hợp giữa các chất carbonhydrate và protein làm tăng mức insulin.

Càng nhiều insulin, các cơ càng được bù đắp dưỡng chất như các a-xít amin, glucose nhanh hơn sau khi đã hoạt động quá mức, giúp hệ cơ trở nên mạnh hơn.

Đậu đũa và khoai tây

Sử dụng các loại thực phẩm này cùng một lúc sẽ bổ sung thêm chất sắt cho cơ thể, giúp ích cho hoạt động của não và hệ cơ. Cơ thể chúng ta chỉ hấp thu được chất sắt non-heme (có trong các thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật như đậu đũa, đậu nành, các loại rau có lá và bột ngũ cốc) ít hơn 33% so với chất sắt heme (có trong những thực phẩm có nguồn gốc từ động vật như thịt bò, cá và thịt gà).

Để làm tăng khả năng hấp thu chất sắt non-heme, cần tiêu thụ những thực phẩm giàu chất sắt kèm với những thực phẩm giàu vitamin như khoai tây, cam, cà chua và các loại dâu. Vitamin C giúp thay đổi chất sắt non-heme thành một dạng dễ hấp thu hơn.

Chất sắt rất cần thiết để sản xuất ra các huyết sắc tố, một loại protein giữ nhiệm vụ vận chuyển ô-xy đến các cơ và não. Lượng chất sắt trong cơ thể nếu ở mức thấp sẽ dẫn đến tình trạng mệt mỏi, suy nhược và kém tập trung.

Đường và cà phê

Nhiều người có thói quen uống cà phê thêm một chút đường, nhưng có lẽ không nhiều người biết rằng việc làm này rất có ích. Bởi điều này sẽ mang đến những thứ khả quan hơn trong công việc.

Một nghiên cứu cho thấy khi kết hợp chúng, một số khu vực ở não có được sự chú ý, tập trung hiệu quả hơn so với khi dùng riêng biệt hai thành phần trên. Khả năng tập trung làm việc sẽ hiệu quả hơn.

Nếu bạn không thích cà phê thì có thể thay thế bằng trà xanh, trà đen kết hợp với một chút mật ong. Điều cần nhớ là phải có giới hạn về liều lượng, dưới 6 muỗng cà phê/ ngày cho nữ và 9 là con số cho nam.

Trà xanh với chanh

Trà xanh có liên quan đến việc giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim của bạn, tất cả là nhờ catechin - chất chống oxy hóa mạnh mẽ có trong trà. Nhưng bạn chỉ hấp được khoảng 20% hợp chất có lợi trong trà xanh mà thôi. Tuy nhiên, nếu thêm nước cốt chanh vào trà xanh, chất oxy hóa có trong hợp chất này sẽ tăng lên đáng kể, giúp tim khỏe mạnh.

Theo công trình nghiên cứu của Mỹ được thực hiện bởi một giáo sư tại Đại học Purdue, thì việc cho thêm một ít chanh vào trong trà sẽ thúc đẩy những tác động có lợi lên sức khỏe con người. Việc hòa trộn giữa trà xanh và chanh sẽ khiến chất catechin- chất chống oxy hóa hiện diện trong trà xanh- sẽ được cơ thể hấp thu tốt hơn.

Sau khi pha cho mình một tách trà xanh, bạn cần thêm chanh vào tách trà. Bạn hãy thử xem, bạn sẽ thấy tách trà xanh của mình ngon hơn.

Bông cải xanh và cà chua

Bông cải xanh và cà chua đều là những thực phẩm có tác dụng chiến đấu tốt chống lại các tác nhân gây ung thư. Tuy nhiên, nếu như bạn trộn hai loại thực phẩm này với nhau sẽ tốt hơn cho cơ thể bạn rất nhiều. Hỗn hợp này giúp làm chậm sự tăng trưởng của các khối u gây ung thư vú (ở nữ giới), tuyến tiền liệt (ở nam giới).

Theo một nghiên cứu của Đại học Illinois, Mỹ được tài trợ bởi Viện nghiên cứu ung thư Mỹ và Bộ Nông nghiệp Mỹ, kết hợp bông cải xanh với cà chua sẽ giúp hẹp khối u tuyến tiền liệt tốt hơn so với việc bạn ăn bông cải xanh hoặc cà chua riêng biệt.

Bạn có thể ăn bông cải xanh với nước sốt cà chua cùng bánh pizza hoặc mỳ ý.

Theo Khỏe & Đẹp
Read more…

7 loại thảo dược và gia vị giúp bạn chống lại ung thư hiệu quả

21:48 |
Dưới đây là 7 loại thảo dược và gia vị giúp bạn chống lại căn bệnh ung thư vô cùng hiệu quả mà lại rất dễ tìm.

1. Gừng

Từ lâu trong y học dân gian gừng được sử dụng để điều trị những bệnh như cảm lạnh, táo bón. Có thể sử dụng gừng tươi, gừng bột hoặc kẹo gừng. Mặc dù hương vị của gừng tươi và gừng bột là khác nhau nhưng bạn có thể dùng để thay thế cho nhau trong một số trường hợp.
Bài liên quan:

Nguy cơ dễ mắc các bệnh ung thư từ thực phẩm

Những dấu hiệu sớm của bệnh ung thư da

8 bí kíp đơn giản trong sinh hoạt hàng ngày để tránh xa ung thư

Khả năng chữa ung thư kỳ diệu của cà chua

Sử dụng gừng và những sản phẩm làm từ gừng, cùng thuốc chống buồn nôn theo chỉ định, còn giúp dạ dày bạn cảm thấy dễ chịu trong quá trình điều trị ung thư.

2. Cây hương thảo hay cây mê điệt

Mê điệt hay còn gọi hương thảo là một loại thảo mộc lành tính ở vùng Địa Trung Hải, có lá hình kim và là nguồn giàu chất chống oxy hóa. Vì nguồn gốc của nó nên hương thảo thường được sử dụng trong việc nấu ăn, và là thành phần chính trong gia vị của người Italy. Bạn có thể sử dụng nó để thêm hương vị cho các món súp, nước sốt cà chua, bánh mì, và các loại thực phẩm giàu protein như thịt gia cầm, thịt bò, và thịt cừu.

Hương thảo có thể giúp giải độc, thay đổi hương vị, trị chứng khó tiêu, đầy hơi, chán ăn và các vấn đề tiêu hóa khác. Để cải thiện những vấn đề về sức khỏe trên bạn nên uống 3 tách trà hương thảo mỗi ngày.

3. Hoa cúc

Hoa cúc được cho là có nhiều lợi ích trong y học và đã được sử dụng trong lịch sử để điều trị nhiều loại bệnh. Hoa cúc có thể cải thiện vấn đề giấc ngủ, hãy thử uống một tách trà hoa cúc đậm đặc trước khi đi ngủ, bạn sẽ thấy hiệu quả bất ngờ của nó.

Nước súc miệng hoa cúc cũng đã được nghiên cứu và chứng minh là có tác dụng tốt trong việc phòng ngừa và điều trị lở miệng do hóa trị và xạ trị. Cách đơn giản là bạn chỉ cần pha trà, để nguội và súc miệng thường xuyên.

 Trà hoa cúc có thể là một cách tốt để kiểm soát vấn đề về tiêu hóa, bao gồm co thắt dạ dày. Hoa cúc sẽ giúp thư giãn các cơn co thắt bắp thịt, đặc biệt là các cơ trơn của ruột.

4. Nghệ

Nghệ là một loại thảo dược thuộc họ gừng. Hoạt chất curcumin có trong nghệ đã được chứng minh có tác dụng chống oxy hóa, chống viêm và chống lại sự phát triển ung thư.

5. Ớt

Ớt có chứa capsaicin, một hợp chất làm giảm đau. Khi capsaicin được bôi vào da, nó giải phóng chất hóa học P. Sau đó, lượng chất P giảm dần và cùng lúc làm giảm đau tại khu vực da.

Tuy nhiên, không nên vì điều này mà bạn bôi ớt vào chỗ bị đau. Ớt phải được xử lý rất cẩn trọng, bởi nó có thể gây nóng rát nếu tiếp xúc với da.

Vì vậy, nếu bạn bị đau và muốn nhờ đến ớt, hãy hỏi bác sĩ chuyên khoa hoặc dược sĩ về việc kê thuốc chứa kem capsaicin. Loại thuốc này khá hiệu quả khi được dùng để điều trị thần kinh (đau đầu dữ dội, bị sốc vì lo lắng) sau phẫu thuật ung thư.

Một lợi ích khác của ớt là điều trị chứng khó tiêu. Một số nghiên cứu cho thấy ăn một lượng nhỏ ớt bột cay có thể làm giảm chứng bệnh này.

6. Tỏi

 Tỏi có hàm lượng lưu huỳnh cao và là nguồn cung cấp axit amin, hydrat cacbon, flavonoit, xê-len, tất cả những chất này đều có lợi cho sức khỏe. Hợp chất trong tỏi có tên allicin, tạo nên mùi đặc trưng của tỏi và được giải phóng khi tỏi được bóc, nghiền.

Một số nghiên cứu cho thấy rằng ăn nhiều tỏi làm giảm nguy cơ ung thư dạ dày, đại tràng, thực quản, tụy, và ung thư vú. Tỏi có thể chống lại ung thư theo nhiều cách, trong đó bao gồm cơ chế ức chế nhiễm khuẩn và ngăn chặn sự hình thành tế bào ung thư, sửa lỗi DNA, giết chết tế bào ung thư. Tỏi hỗ trợ cai nghiện, tăng cường hệ thống miễn dịch và giúp giảm huyết áp.

7. Bạc hà

Bạc hà cay đã được sử dụng cách đây hàng ngàn năm để hỗ trợ tiêu hóa, giải thoát khí, trị khó tiêu, đau bụng, tiêu chảy. Bạc hà cay chống lại sự kích thích ruột và ngộ độc thực phẩm. Nó còn giúp bình ổn các cơ dạ dày, cải thiện dòng chảy của mật, tạo điều kiện cho thức ăn đi đến dạ dày nhanh hơn.

Nếu tiến trình điều trị ung thư khiến bạn bị đau dạ dày, hãy thử uống một tách trà bạc hà. Bạn có thể dùng những sản phẩm có sẵn trên thị trường hoặc tự pha trà. Đầu tiên bạn đun sôi lá bạc hà khô với nước hoặc cho những lá bạc hà tươi vào nước sôi, để trong vài phút rồi uống.

Bạc hà cũng có thể làm dịu cổ họng bị đau . Bên cạnh đó, bạc hà còn làm giảm các vết loét miệng đau đớn xảy ra từ hóa trị và xạ.

EVA.VN
Read more…

Những thông tin mới về chẩn đoán và điều trị bệnh Viêm khớp dạng thấp (RHEUMATOID ARTHRITIS)

21:41 |
TS.BS. Lê Anh Thư
Trưởng khoa Nội cơ Xương Khớp
BV. Chợ Rẫy TP.Hồ Chí Minh

NHỮNG GHI NHỚ ĐẦU TIÊN VỀ BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP

. Viêm khớp dạng thấp (VKDT) không đơn thuần là một bệnh lý khớp mà là một bệnh tự miễn (Autoimmunedisease) điển hình với các biểu hiện tại khớp, toàn thân, ngoài khớp ở nhiều mức độ khác nhau, diễn biến phức tạp, gây hậu quả nặng nề, cần được điều trị tích cực ngay từ đầu bằng các biện pháp hữu hiệu.

. Khi nghi ngờ bị bệnh VKDT, bệnh nhân cần được gửi tới khám Bác sĩ chuyên khoa Khớp càng sớm càng tốt. Trong thời gian này, người bệnh có thể được dùng một loại thuốc kháng viêm không có Steroid (NSAID) thích hợp.

. Bác sĩ chuyên khoa khớp, sau khi chẩn đoán xác định VKDT, cần chọn lựa và sử dụng sớm cho bệnh nhân một thuốc chống thấp khớp có thể cải thiện được bệnh (Disease Modifing AntiRheumatic Drung-DMARD) phù hợp và thiết lập một chương trình điều trị, theo dõi nghiêm túc, dài hạn. Đây là cách hiệu quả nhất giúp hạn chế sự tiến triển của bệnh và ngăn ngừa tổn thương xương khớp, hạn chế tàn phế.

. Sử dụng corticosteroid toàn thân cần được hạn chế tối đa, chỉ nên ngắn hạn (bắc cầu). Dùng corticosteroid tại chỗ khi có chỉ định là điều trị hỗ trợ tốt, để giảm sử dụng toàn thân.

. Bệnh nhân cần được tham gia vào Nhóm thấp khớp (Rheumatology team).

. Rất nhiều giải pháp mới cả sinh học và không sinh học đã và đang được nghiên cứu và bước đầu ứng dụng trên lâm sàng ở các nước phát triển để tăng thêm tác dụng phụ của các thuốc DMARD cổ điển với nhiều hứa hẹn nhưng thực tế còn chưa thể áp dụng rộng rãi cho mọi người bệnh, đặc biệt trong hoàn cảnh nước ta hiện nay.

BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP (VKDT)



1. Biểu hiện lâm sàng
Viêm khớp dạng thấp là một bệnh tự miễn khá điển hình ở người, dưới dạng viêm mãn tính ở nhiều khớp ngoại biên với biểu hiện khá đặc trưng: sưng, đau khớp, cứng khớp buổi sáng và đối xứng hai bên. Ngoài ra, người bệnh còn có các biểu hiện toàn thân (mệt moỏ, xanh xao, sốt gầy sút…) và tổn thương các cơ quan khác.

Khi có các dấu hiệu lâm sàng nêu trên, người bệnh cần được gửi tới khám bác sĩ chuyên khoa khớp (Rheumatogist) càng sớm càng tốt. Bệnh nhân sẽ được làm các xét nghiệm và thăm dò cần thiết để chẩn đoán xác định, đánh giá tình trạng bệnh, tiên lượng bệnh và chọn lựa một chiến lược điều trị phù hợp để đạt hiệu quả cao nhất.

Các xét nghiệm và thăm dò cần thiết:

- Yếu tố dạng thấp (Rheumatoid Fator – RF) và /hoặc anti-CCP

* Anti-CCP là một xét nghiệm ELISA, nhằm xác định IgG của một tự kháng thể trong huyết thanh hoặc huyết tương đặc hiệu với peptide được tổng hợp từ gan dạng vòng, cyclic citrullinated peptide – CCP, nó giúp cho chẩn đoán sớm bệnh VKDT – RA (2004)

- Tốc độ máu lắng (ESR) và/hoặc C-Reactive Protein (CRP).
- X quang khớp bị tổn thương (đặc biệt hai bàn tay)
- Đánh giá chức năng khớp.
- Đánh giá sức khỏe chung và khả năng làm việc của người bệnh.

2. Sinh bệnh học
Nguyên nhân của bệnh hiện còn chưa rõ, tuy nhiên bệnh được coi như là một bệnh tự miễn khá quan trọng và điển hình ở người. Nhiều bằng chứng cho thấy vai trò quan trọng của các đáp ứng miễn dịch cả dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào, của các cytokines (Interleukine 1, TNF α), của các tế bào T, của yếu tố cơ địa (tuổi, giới, HLA), của yếu tố tăng trưởng nội sinh… trong cơ chế bệnh sinh khá phức tạp của bệnh. Để việc điều trị có hiệu quả cần phải nhắm vào một hay nhiều mắt xích cụ thể trong cơ chế bệnh sinh để cắt đứt hoặc khống chế vòng xoắn bệnh lý phức tạp của bệnh.

3. Tiêu chuẩn chẩn đoán
Cho đến nay cả thế giới còn sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng bệnh Viêm khớp dạng thấp của ACR 1987 (American College of Rheumatology).

1. Cứng khớp buổi sáng (Morning siffness).
2. Viêm khớp/Sưng phần mềm (Arthritis/Soft tissue swelling) ở ít nhất 3 nhóm (trong số 14 nhóm khớp: khớp ngón gần bàn tay, khớp bàn ngón, khớp cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân, khớp bàn ngón chân 2 bên).
3. Viêm (Arthritis) các khớp ở tay: khớp ngón gần, khớp bàn ngón, khớp cổ tay.
4. Đối xứng (Symmetrical arthritis)
5. Nốt thấp (Rheumatic Nodules).
6. Tăng nồng độ yếu tố dạng thấp (Rheumatoid factor) trong huyết thanh *
7. Những biến đổi đặc trưng của bệnh trên X quang (Characteristic radiographic): vôi hình dải/sói mòn/khuyết xương ở bàn tay, bàn chân/hẹp khe khớp/dính khớp…

3. Dịch tễ học
Tỷ lệ mắc bệnh chung (Prevalence): 0,5 dân số người lớn.
Số người mới mắc bệnh hàng năm (Incidence): 25 – 30 người/100.000 dân/năm.
Khoảng 50% bệnh nhân bị ảnh hưởng chức năng nặng nề và bị giảm tuổi thọ
Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nhiều nhất là tuổi 30 – 60.
Bệnh thường gặp ở nữ, tỷ lệ nữ/nam: 3/1

4. Các đầu tư nghiên cứu
- Các mục tiêu nghiên cứu nhằm: xác định chẩn đoán, mô tả mọi biểu hiện ngoài khớp, và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng của bệnh.
- Cần chẩn đoán với nhiều bệnh lý viêm khớp mãn tính nhưng không phải là VKDT:
+ Nhóm bệnh viêm khớp liên quan đến viêm cột sống (huyết thanh chẩn đoán âm tính): Bao gồm: Viêm khớp vảy nến (Psoriatic Arthritis), Viêm cột sống dính khớp (Ankylosing Spondelitis), Viêm khớp phản ứng (Reactive Arthritis)…
Có đặc điểm: Viêm không đối xứng ở một hoặc nhiều khớp, thường ở khớp lớn, thường gặp ở nam giới, tuổi trẻ (<40 data-blogger-escaped-br=""> + Thoái hóa khớp (Osteoarthritis, Arthrosis)
+ Lupus ban đỏ hệ thống (Systemic Lupus Erythemathosus).
- Áp dụng và đánh giá hiệu quả lâm sàng của các biện pháp điều trị, đặc biệt các biện pháp sinh học và không sinh học mới, đơn độc hoặc kết hợp với các điều trị cổ điển.

5. Tiên lượng
- Diễn tiến của bệnh rất khác nhau giữa các bệnh nhân.
- Sau khi khởi bệnh 10 năm: 10 – 15% bệnh nhân bị tàn phế, phải cần đến sự trợ giúp của người khác (Giai đoạn III & IV theo Steinbrocker).
- Tỷ lệ tử vong tăng ở những bệnh nhân sớm bị suy giảm chức năng vận động.
- Các yếu tố làm tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân Viêm khớp dạng thấp gồm:
+ Bệnh lý tim mạch
+ Nhiễm trùng
+ Loãng xương
+ Các bệnh liên quan đến các thuốc kháng viêm Steroid và NSAIDs.
- Khả năng làm việc giảm, đặc biệt khi người bệnh trên 50 tuổi, lao động nặng.
- Tỷ lệ có các thay đổi đặc trưng của bệnh Viêm khớp dạng thấp trên X quang:
+ Sau khởi bệnh 2 năm: khoảng 50%
+ Sau khởi bệnh 5 năm: khoảng 80%.

CHIẾN LƯỢC ĐIỀU TRỊ VIÊM KHỚP DẠNG THẤP HIỆN NAY

1. Các điều trị không dùng thuốc:
- Giáo dục sức khỏe
- Tập luyện, chế độ ăn uống giầu vitamin và khoáng chất
- Duy trì vận động thường xuyên.

2. Nhóm Thấp khớp (Rheumatology team) gồm:
- Thầy thuốc gia đình và/hoặc Bác sĩ đa khoa khu vực
- Bác sĩ chuyên khoa khớp
- Điều dưỡng hoặc kỹ thuật viên vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, y tế cộng đồng.
- Bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân.
Có vai trò hướng dẫn, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để người bệnh có một chế độ điều trị đúng nhất, đầy đủ nhất.

3. Các chiến lược thuốc điều trị bệnh VKDT (Strategies of drug treatment).
3.1. Lựa chọn đầu tiên (trong lúc chờ đợi chẩn đoán xác định của bác sĩ chuyên khoa khớp).
- Thuốc kháng viêm không có Steroid (NSAID)
- Và/hoặc thuốc giảm đau đơn thuần
- Tránh sử dụng Corticosteroid toàn thân vì: Gây khó khăn cho chẩn đoán và gây lệ thuộc thuốc (Cortico-dependent)
3.2.Khám chuyên khoa khớp:
. Khi chưa có chẩn đoán xác định: Bệnh nhân được theo dõi, điều trị triệu chứng bằng thuốc kháng viêm không có Steroid (NSAID) và làm tiếp chẩn đoán xác định.
. Khi chẩn đoán xác định Viêm khớp dạng thấp:
- Sử dụng thuốc chống thấp khớp thay đổi được bệnh (Disease Modifying AntiRheumatic Drugs – DMARD) phù hợp với mức độ bệnh, thể trạng bệnh nhân, hoàn cảnh kinh tế…
- Phối hợp điều trị triệu chứng lúc đầu (khi các thuốc DMARD chưa có tác dụng) bằng một thuốc kháng viêm NSAID hoặc Corticosteroid toàn thân (nếu biểu hiện viêm nặng nề và/hoặc không kiểm soát được bằng NSAID). Liều lượng, thời gian sử dụng, tương tác khi phối hợp thuốc kháng viêm phải được kiểm soát chặt chẽ, giảm liều và ngưng càng sớm càng tốt để tránh các tác dụng phụ khi dùng dài ngày (Loãng xương, nhiễm trùng, bệnh tim mạch, suy thận, viêm loét đường tiêu hóa, phụ thuộc corticosteroid…)
- Dùng Corticosteroid tại chỗ (khi có chỉ định) là một điều trị hỗ trợ tốt, có thể sử dụng để tránh hoặc giảm bớt việc dùng Corticosteroid toàn thân.
. Chọn lựa một thuốc chống thay đổi được bệnh (Disease Modifying Anti Rheumatic Drugs – DMRD) phù hợp:
- Bệnh nhân không có các yếu tố tiên lượng nặng, các thuốc được chọn là:
Sulfasalazine hoặc Hydroxychloroquine hoặc Methotrexate.
- Bệnh nhân có các yếu tố tiên lượng nặng (Sớm bị ảnh hưởng chức năng vận động, tổn thương lan rộng nhiều khớp, hoạt tính bệnh vừa hoặc cao, yếu tố dạng thấp dương tính…, các thuốc được chọn đầu tiên nên là Methotrexate. Các thuốc khác có thể chọn là: Sulfasalazine hoặc Cyclosprine.
- Bệnh nhân không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán Viêm khớp dạng thấp (Undifferentiated rheumatoid arthritis) cần được theo dõi chặt chẽ và việc dùng nhóm DMARD cần được cân nhắc và kiểm soát kỹ.
- Bệnh nhân có các biểu hiện ngoài khớp nặng nề và hệ thống cần có chỉ định dùng các thuốc Cyclophosphamide, Azathioprine… khi các điều trị bằng nhóm DMARD thất bại. Những trường hợp tổn thương hệ thống đe dọa tính mạng, thuốc có thể được sử dụng liều cao, đường tĩnh mạch (Intravenous pulse therapy).
. Điều trị triệu chứng (kháng viêm, giảm đau, giảm cứng khớp) trong giai đoạn đầu của điều trị, trong khi chờ đợi các thuốc DMAD có tác dụng (3 đến 6 tháng đầu) hoặc trong các đợt tiến triển (nếu có) của bệnh.
- Corticosterolid toàn thân nếu có biểu hiện viêm nặng nề và/hoặc không kiểm soát được bằng các thuốc kháng viêm không phải Steroid (NSAID).
Liều lượng 20 mg/hàng ngày, đường uống (Đôi khi phải dùng liều cao hơn, đường chích)
Giảm liều dần khi biểu hiện viêm được khống chế và ngưng càng sớm càng tốt để tránh các tác dụng phụ khi dùng dài ngày.
- Hoặc Corticosteroid tại chỗ, khi có chỉ định (tổn thương viêm khu trú ở một hoặc rất ít khớp, đã chắc chắn loại trừ các viêm khớp do vi trùng) là một điều trị hỗ trợ tốt, hiệu quả, giảm hoặc tránh bớt việc dùng Corticosteroid toàn thân.
- Hoặc một thuốc kháng viêm không steroid (NSAID). Ưu tiên nhóm COXIBs vì không hoặc ít có các tương tác bất lợi với các nhóm DMARD, đặc biệt Methotrexate.
. Điều trị một số nhóm bệnh nhân có nguy cơ (Risk – groups).
- Bệnh nhân có thai
* NSAID: Tránh sử dụng trong 3 tháng cuối của thai kỳ.
* Corticosteroid: có thể dùng trong suốt thai kỳ (nếu cần) nhưng chỉ dùng Prednisone, Prednisolone, Methylprednisolone.
* DMARD:
Có thể dùng nếu cần: Sulfasalazine, Hydroxycholoroquine, Cyclosporine.
Chống chỉ định:
Methatrexate (ngưng ít nhất 1 tháng trước khi có ý định có thai)
Cyclophosphamide (ngưng ít nhất 3 tháng trước khi có ý định có thai)
- Bệnh nhân đang cho con bú
* NSAID: có thể dùng Ibuprofen
* Corticosteroid: dùng liều thấp < 20 mg hàng ngày
* DMARD: Có thể sử dụng Hydroxychloroquine
Dùng nhưng thận trọng: Sulfasalazine
Chống chỉ định: tất cả các thuốc khác.
- Bệnh nhân có tuổi cần theo dõi sát và lưu ý các bệnh liên quan tới tuổi (chức năng gan, thận tim và huyết áp), tương tác thuốc, các tác dụng phụ của thuốc…
* NSAID: dùng liều thấp nhất có hiệu quả, chọn thuốc ít tác dụng phụ (ví dụ ức chế chọn lọc COX 2), dùng thêm thuốc giảm đau đơn thuần khi cần thiết.
* Corticosteroid: dùng liều thấp nhất có hiệu quả, dùng tại chỗ nếu có chỉ định, dùng thêm Calcium, Vitamin D, Calcitriol (Rocaltrol) để phòng ngừa loãng xương.
* DMARD: Sylfasalazine, Hydroxychloroquine và Methotrexate là các thuốc được chọn lựa.
- Bệnh nhi (Viêm khớp dạng thấp trẻ em – Juvennile Rheumatoid Arthritis)
* NSAID: Ibuprofen hoặc Nimesulide.
Có thể dùng thêm Paracetamol để tăng tác dụng giảm đau và hạ sốt.
* Corticosteroid: (Prednisone, Prednisolone, Methylprednisolone).
Liều 1,5 – 2 mg/kg/ngày khi có những biểu hiện viêm nặng nề, khó khống chế.
Thuốc cần nhanh chóng được giảm liều khi hiện tượng viêm được khống chế, thường được dùng “bắc cầu” trong lúc chờ đợi tác dụng của một thuốc DMARD.
Corticosteroid tại chỗ rất hiệu quả trong các thể viêm một hoặc rất ít khớp.
* DMARD: Methotrexate, Sunfasalazine Hydroxychloroquine.
* Globulin miễn dịch, liều cao, đường tĩnh mạch.
* Các thuốc ức chế miễn dịch dùng trong thể toàn thân nặng, đe dọa tính mạng.
Ví dụ: Methylprednisolone và Cyclophosphamide liều cao tĩnh mạch
Kết hợp Methotrexate đường uống.
. Điều trị phối hợp các DMARD được chỉ định khi một thuốc chưa đạt hiệu quả mong muốn. Các cách phối hợp:
- Methotrexate + Sunfasalazine
- Methotrexate + Hydroxychloroquine
- Methotrexate + Sunfasalazine + Hydroxychloroquine
- Methotrexate + Cyclosporine
- Methotrexate + Leflunomide
- Methotrexate + Mycophenolate Mofetil
- Methotrexate + anti TNF α hoặc anti IL 1.
Các phối hợp trên đều có thể kèm thêm Prednisolone (Prednisone hoặc Methylprednisolone) với liều < 7mg/hàng ngày (nếu cần).

ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP HIỆN TẠI VÀ TRONG TƯƠNG LAI

Những năm gần đây, đã có những hiểu biết sâu hơn về đáp ứng viêm và cơ chế hủy hoại tổ chức của bệnh VKDT. Tuy nhiên, nguyên nhân của bệnh, yếu tố khởi phát và duy trì sự tồn tại lâu dài của bệnh vẫn còn là ẩn số. Các kỹ thuật phân tử gần đây đã đặt ra khả năng có thể xác định các tập hợp tế bào (cell subsets), các dấu ấn bề mặt tế bào (cell surface markers), các sản phẩm tế bào (cell products)… tham gia vào đáp ứng viêm qua cơ chế miễn dịch liên quan đến bệnh VKDT. Các hiểu biết về cơ chế bệnh sinh của bệnh VKDT tuy còn chưa thật đầy đủ nhưng đã cung cấp khả năng tối ưu cho việc sử dụng các trị liệu đặc hiệu hơn, nhắm vào các đích đặc hiệu của các đáp ứng miễn dịch.
Các điều trị mới để chống hoặc làm chậm sự hủy hoại xương và sụn đều phải dựa trên cơ sở về cơ chế của các tổn thương này cũng như một cách nhìn lạc quan về hiệu quả của các chiến dịch phòng ngừa.

MỘT SỐ BIỂU HIỆN BỆNH SINH CỦA VIÊM KHỚP DẠNG THẤP:

Đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng sự xâm nhập các tế bào T kích thích kháng nguyên ở màng hoạt dịch gây nên tình trạng viêm mãn tính trong bệnh Viêm khớp dạng thấp.

Một số cặp allenes của phức hợp hòa hợp tổ chức chủ yếu (Major histocopatibility complex – MHC) như HLA-DRI và HLA-DR4 là cơ sở ban đầu dẫn đến bệnh VKDT các phân tử trong các tế bào mang kháng nguyên tương ứng với chúng (tế bào B, tế bào có đuôi gai (dendritic cells), đại thực bào hóa) đều biểu hiện các kháng nguyên peptides đối với các tế bào T.

Các tế bào viêm trong đó có tế bào T đi vào màng hoạt dịch thông qua lớp nội mạc trong của các mạch máu nhỏ, việc di chuyển này sẽ thuận tiện nhờ sức ép của các phân tử kết dính (leukocyte function-associated antigen-1-LFF-1) và phân tử kết dính giữa các tế bào 1 (intercellular adhesion molecule-1-ICAM-1).
Nitric oxide (NO) được sản xuất bởi mọi loại tế bào sau khi kích thích bằng các cytokines như interleukin 1 (IL-1), yếu tố hoại tử u (tumor necrosis factor α –TNF α), interferon γ (IFN γ). Nitric oxide làm tăng hoạt tính của các men Cyclo-oxydase 1 và 2 (COX 1 & COX 2) dẫn đến việc tăng sản xuất các Prostaglandins (PG). Nitric oxide cũng làm tăng sản xuất các gốc oxy tự do (Free hydroxyl radicals) và gây các tác động xấu tới chức năng của tế bào sụn trong bệnh VKDT. Chúng hoạt hóa men tiêu metalloprotein (metalloproteases), đảo lộn sự tổng hợp bình thường của các proteoglycans và collagen II, ức chế sản xuất prostaglandin E2, tăng sự chết tự nhiên của tế bào (apoptosis), mất điều chỉnh các chất ức chế thụ thể Interleukin 1 (IL-1 Ra).

HẬU QUẢ CỦA CÁC QUÁ TRÌNH VIÊM:

1.Sản xuất các globulin miễn dịch (yếu tố dạng thấp) gây hình thành các phức hợp miễn dịch làm hoạt hóa các bổ thể.

2.Tăng sinh tế bào hoạt dịch với việc sản xuất các men tiêu netalloprotein cơ bản (Matrix Metalloproteases-MMPs).

3.Hình thành các mạch máu mới (Neovascularisation) bởi các đại thực bào (macrophages) và các yếu tố tăng trưởng, các cytokines, các hóa chất ứng động… có nguồn gốc từ fibroblast.

4.Hình thành các pannus, một tổ chức mạch máu tân tạo, lấn sâu vào bề mặt sụn khớp và xương thông qua các phân tử kết dính.

CÁC ĐÍCH CỦA ĐIỀU TRỊ (THERAPEUTIC TARGETS)

1. Hướng vào các tế bào T (T cells) bằng cách sử dụng:
- Các kháng thể đơn dòng chống CD4 (Anti CD4, Monoclonal Antibodies-Mabs)
- Các kháng thể đơn dòng chống CD25 hay thụ thể của IL-2 (Anti CD25, Monoclonal Antibodies-Mabs).
- Các Vắc-xin với các thụ thể của tế bào lympho T (T Cell Recepters-TCRs).
- Các Vắc-xin với các tế bào lympho T bệnh lý tự thân.

2.Hướng vào các kháng nguyên của phức hợp hòa hợp tổ chức chủ yếu (Major histocopatibility complex-MHC) bằng vắc-xin với các peptides HLADR4 và HLADR1.

3. Hướng vào các Cytokine và Yếu tố hoại tử u (Tumor Necrosis Factor α)
- Ức chế Interleukine 1 (IL-1) nhằm mục đích trung hòa và làm bất hoạt các IL1.
+ Chất ức chế thụ thể Interukin 1 người tái tổ hợp (Recombinant human IL-1 Receptor Antagonist – IL-1 Ra). Sản phẩm: Anakinra (Kineret) 2001.
+ Ức chế các thụ thể Interleukin 1 hòa tan của người tái tổ hợp (Recombinant human IL-1 R1 – 1L-1 R1).
- Ức chế Yếu tố hoại tử μ α (TNFα) bằng:
+ Các kháng thể đơn dòng kháng TNFα (Anti TNFα Monoclonal Antibodies-Mab).
+ Hỗn hợp giữa protein và thụ thể của TNF (TNF receptor fusion protein).
+ Hỗn hợp giữa thụ thể TNF R55 với Globulin miễn dịch G1 (TNF R55 – IgG1),
+ Kháng thụ thể TNF hòa tan của người tái tổ hợp.
Các sản phẩm đã có mặt trên thị trường
Etanercept (Enbret-Wyeth) 1998
Infliximab (Remicade) 1999
Abatacept (BMS) 2000.
Adalimummab (Humira – Abbott) 2000.
- Ribozome phản ứng với mRNA của TNFα để phá hủy tế bào TNFα trong tế bào.
- Sử dụng các Cytokines và các chất kháng Cytokines.
+ Interleukin 10 (IL-10) hạn chế tác dụng gây thoái biến chứng sụn của các tế bào đơn nhân (được gọi Interleukin kháng viêm), trong khi IL-4 lại làm tăng tác dụng này.
+ Interleukin 4(IL-4) có thể ức chế men COX 2mRNA, ức chế sự sản xuất các Cytokine viêm IL-1β, IL-6, IL-8 và Prostaglandin E2 từ các tế bào hoạt dịch.
+ Interleukin 13 để ức chế sản xuất các Cytokines tiền viêm.
- Interferon với các tác dụng chống virus, chống tăng sinh, chống viêm.

4. Hướng vào các phân tử kết dính (Adhesion molecules)
Dùng kháng thể đơn dòng chống phân tử kết dính 1 giữa các tế bào (Anti Intercellular Adhesion molecele 1 Monoclonal Antibodies-ICAM Mab) để ngăn chặn sự tràn các tế bào viêm vào tổ chức khớp và làm giảm các đáp ứng viêm.

5. Cấy ghép các tế bào gốc máu tự thân (Autologous hematopoietic stem cell transplantation – ASCT) nhằm thay đổi các yếu tố di truyền của bệnh.

6. Các liệu pháp điều trị Gen với mục đích tăng sản xuất các phân tử kháng viêm ngay tại chỗ có phản ứng viêm như màng hoạt dịch. Các phân tử này cũng là các phân tử ức chế miễn dịch như IL-1Ra, sTNFR, sIL-1R, IL-10, IL-4, IL-13.

7. Phong bế chức năng tác động

8. Ức chế các men tiêu metalloprotein cơ bản (Matrix Metalloproteinases – MMPs) bằng Retinods và các dẫn xuất của Tetracycline (Doxycycline, Minocycline)

9. Các nguyên lý điều trị mới nhằm cải thiện hoạt động của tế bào
- Cản trở hoạt động của tế bào T thông qua tương tác giữa phân tử B7 và phân tử CD28 (B7/CD28 interaction).
- Ức chế chức năng của tế bào T bằng cách ngăn cản sự kết hợp giữa phân tử CD28 và phân tử B7 trong các tế bào hiển thị kháng nguyên (antigen-presenting cells-APC) bởi cấu trúc MuCTLA-4Ig (MuCTLA-4Ig construct).
- Dùng kháng gp-39 MAb (Anti gp-39 MAb) để ức chế miễn dịch bằng cách chống sự tương tác giữa gp-39 với CD40.
- Giảm quá trình chết tự nhiên của tế bào (Programmed cell death/apoptosis) trong các khớp viêm.

10. Các biện pháp không sinh học mới có nhiều triển vọng:
- Cyclosporine: ức chế chức năng của Lympho T.
- Rapamycin: ức chế chức năng của Lympho T và Lympho B.
- Leflunomide: ức chế chức năng của nhiều loại tế bào do ức chế tổng hợp pyrimidine.
Các thuốc này đều ảnh hưởng mạnh đến các đáp ứng miễn dịch nên sẽ có hiệu quả tốt nhất khi sử dụng sớm, có thể kết hợp với các thuốc DMARD để tăng hiệu lực điều trị bệnh VKDT trong tương lai.
- Mycophenolate Mofetil ức chế chức năng của Lympho T và B do ức chế men Inosine monophosphate dehydrogenase, có vị trí trung tâm trong tổng hợp purines.
- Thailidomide ức chế mRNA của TNFα vì thế có thể có tác dụng trong các bệnh tự miễn như VKDT.
- Reumacon (CPH-82) là một glycoside bán tổng hợp và dẫn chất của podophyllum, đang được đánh giá lâm sàng trong các thử nghiệm so sánh với Placebo và Auranofin trong điều trị VKDT.
- Các thuốc kháng viêm mới: ức chế chọn lọc men COX2, các thuốc kháng viêm mới (các thuốc kháng viêm cổ điển được thay đổi cách bào chế, kết hợp thay đổi cách hấp thu… để giảm bớt các tác dụng phụ).

KẾT LUẬN

Dự đoán các phương thức điều trị tương lai cho một bệnh còn chưa hoàn toàn biết rõ nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh như bệnh VKDT không phải là một việc dễ dàng. Tuy nhiên việc sử dụng thuốc chống thấp khớp cải thiện bệnh (DMARD) cổ điển (đơn độc hoặc phối hợp với nhau) hoặc phối hợp với các thuốc mới như Cyclosporine, Mycophenolate Mofetil, Leflunomide… đã trở thành những điều trị chủ yếu cho bệnh VKDT. Những năm gần đây, những biện pháp điều trị sinh học kháng lại yếu tố hoại tử u α (TNFα), kháng IL 1… đã được đưa vào điều trị với kết quả đáng khích lệ. Các thuốc này, hoặc dùng đơn độc hoặc kết hợp với Methotrexate sẽ rất hiệu quả với bệnh VKDT, tuy nhiên việc kết hợp này làm tăng chi phí điều trị rất nhiều và có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng nặng nên cần rất thận trọng khi chỉ định và người bệnh càng cần được theo dõi sát…

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Silver R.M.,Smith E.A Rheumatolory Pearls 1997
2. American College of Rheumatolory (ACR) Ad Hoc Committee on Clinical.
Guiderlines, Guiderlines for the management of Rheumatoid Arthritis Arthritis
Rhem 39: 712 – 722, 1996.
3. Lipsky P.E. Rheumatoid Arthritis.
Harrison’s Principles of Internal Medicine. Edition 14th, 1880 – 1888, 1998…

(Nguồn: http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn/ttyh/bshkhkt/benhviemkhop.htm)
Read more…

Nhìn mặt biết bệnh (MICHIO KUSHI)

21:37 |
Tiên sinh Ohsawa có khả năng xem tướng đại tài, người Thực dưỡng "xịn" không ai không biết tới điều đó mà chả cần cố gắng học tập gì nhiều đâu; chỉ cần đọc sách và có một người Thực dưỡng "đàn anh" chỉ vẽ cho vài chiêu là XONG, dùng được cả đời! nếu không thì mỗi khi thấy ai đó dở quá hay hay quá thì xem tướng mạo lại mà coi.

Có cô bạn "Thực dưỡng" dầu ăn gạo lứt 10 ngàn năm thì cũng không tài nào làm cho cái cặp mắt xếch chéo lên hợm hĩnh và hiếu thắng... đó trở nên ngang bằng vừa phải ... đó là một thứ nghiệp dù cô đó có ăn nói nhẹ nhàng dịu dàng đến đâu cũng không dấu được cái dáng đi, cái miệng nói như đàn ông... ấy thế mà chỉ sau 3 năm áp dụng Thực dưỡng và tu tập lông bông cái tướng miệng nói như miệng một người đàn ông của cô ta đã chuyển hoá...
Sau đây là quyển sách quí về nhân tướng (trong đó có phần thanh tướng... theo âm và dương) và bệnh tật...
Đây là một môn học của phương Đông.

LỜI GIỚI THIỆU

Quyển “Nhìn mặt biết bệnh” thực chất cách đây nhiều năm được anh Ngô Ánh Tuyết biên dịch. lấy tên là “Gương mặt bạn không bao giờ nói dối” và mớI đây được anh Phạm Cao Hoàn lấy tên là “Bệnh học”, vớI tên và hình bìa như NXB Thuận Hóa làm. Chúng tôi thấy đây là quyển sách quý của ngành thực dưỡng bấy lâu, nên đổi tên cho hợp lý là “Nhìn mặt biết bệnh”. Bạn nào đọc hai quyển này rồi xin đừng mua thêm.

Một lần, tôi nhìn thấy một phụ nữ có tướng mặt có vết hằn ngang nhân trung. Tôi nói với chị bạn thân của chị ấy là nếu theo nhân tướng học thì tướng đó không sớm thì muộn cũng phải bị u dạ con, sau một thời gian thì thấy đúng. Người bạn gái của tôi nghe tôi nói như vậy, về nhà soi gương tự thấy mình cũng có tướng đó bèn đi khám phụ khoa, hóa ra chị bạn này cũng bị u dạ con và như vậy là đã phát hiện và điều trị kịp thời bằng cách thay đổi ăn uống. Như vậy, nhìn mặt biết bệnh có thể giúp người ta biết cách tránh trước những bệnh đáng ra không cần phải mắc. Bạn cần thấy hữu dụng của nó thông qua quyển sách nên đọc sau quyển này là quyển “Thức ăn quyết định số phận của bạn” của Mizuno, do Michio Kushi giới thiệu.

LỜI NÓI ĐẦU

Chẩn đoán chính xác là yếu tố then chốt điều trị bệnh, từ đó ta sẽ dễ nhắm tới cách chữa một khi đã hiểu rõ các triệu chứng chính. Y học hiện đại thường chẩn đoán bằng kĩ thuật giải phẫu tìm bệnh hay chụp X quang làm thương tổn người bệnh, thì càng khiến cho sự rủi ro gia tăng. Hơn nữa, thể thức chẩn đoán tinh vi chỉ soi xét vào cơ thể và chức năng sinh lý, cố tìm ra nguyên nhân chứng bệnh, nhưng lại thiếu sót trong việc xét đoán toàn cục về sức khỏe, tình trạng tinh thần và lối sống. Có lẽ điều bất cập này của nền y học hiện đại đã để lộ ra sơ hở của nó. Ngược lại, biện pháp dưỡng sinh đã thành công nhờ nắm bắt đựoc tính toàn cục để xoay chuyển các bệnh thoái hóa, kể luôn cả bệnh ung thư.

Chẩn đoán theo Đông phương là xem xét con người tổng thể cả về cơ thể và tinh thần- cũng như các rối loạn trong lục phủ, ngũ tạng. Người điều trị là người diễn giải lối sống trong xã hội và môi trường xung quanh để gom về đầu mối bệnh tật hầu chữa trị căn bệnh. Theo truyền thống, sự chẩn đoán toàn cục này không chỉ chuyên chú vào con bệnh mà còn phải phân tích cả về xã hội nữa. Người ta truyền tụng về nguồn gốc trong các quy luật biến đổi đã thể hiện ở các bộ Dịch kinh và ở các danh tác Đông phương.

Cách chẩn đoán theo Đôn phương của tôi phát triển chậm chạp sau nhiểu năm thựuc hành- còn kể đến sách vở và tìm hiểu để mở rộng tầm nhìn qua các trường phái. Nhờ có bậc thầy George Oshawa huuwongs dẫn tôi về sinh học, thiên văn, văn hóa và khoa học, tôi mới lĩnh hội đựoc về sức khỏe và bệnh tật của con người- và chung quy biết cách chẩn đoán một cách hữu hiệu.

Nhờ sự nỗ lực của ông William Tara, là người đã cộng tác cho cuốn sách này được ra đời. Nhờ đó học hỏi nguyên lí chần đoán của Đông phương chỉ còn là vấn đề thời gian. Kỹ năng chẩn đoán có lợi ích không chỉ riêng cho người điều trị bằng thuốc men mà còn cho bất cứ ai muốn mài dũa sự nhạy bén với những người sống quanh họ.

Chẩn đoán theo Đông phương chẳng đòi hỏi các dụng cụ đắt giá hay kĩ thuật phiền toái mà ta hãy tận dụng giác quan- tai, mắt mũi, tay và trực giác là đủ- dĩ nhiên các giác quan bạn càng nhạy bén thì sức khỏe của bạn càng hoàn hảo- và nhân thứuc lại càng chính xác. Do đó, tôi khuyên bạn nên thanh lọc cơ thể để sức khỏe và giác quan được tinh tế như tôi, đơn giản là tiếp nhận thựuc phẩm dưỡng sinh mà chủ yếu là ngũ cốc, đậu đôc và rau củ.

Tôi thành thật mong cuốn sách này sẽ kích thích bạn nghiên cứu sâu rộng hơn như cuốn “Để biết sức khỏe của bạn”, sách chẩn đoán theo Đông phương (ấn hành tại Nhật) và còn những bài báo xuất hiện thường xuyên trên nhật báo Đông Tây các bạn cũng nên đọc thêm. Trước là để phục hồi sức khỏe cho mình, sau là hiểu biết sức khỏe của người thân thuộc, bè bạn và cộng sự để nhận ra dấu hiệu bệnh tật, để ngăn ngừa, để xoay chuyển và đạt mục tiêu sức khỏe.

PHẦN MỘT

GIỚI THIỆU

Chẩn đoán theo Đông Phương

Nền y học Trung Hoa, Nhật Bản và các nước ở Viễn Đông có cội rễ rất lâu đời trên thế giới. Y học này dạy cho chúng ta rất nhiều điều thực dụng cho đến thời nay. Triết lý căn bản của nền y học Đông Phương bổ sung lẫn đối chọi với nền y học hiện hành ở Phương Tây. Y học Phương Tây chủ trị bằng thuốc, thiên về triệu chứng và giải phẫu, họ phải đối đầu một cách vô vọng trước làn sóng các bệnh thoái hóa đe dọa nhận chìm thế giới công nghiệp. Trước tình thế rõ như hiện nay, chúng ta cần có nền y học bổ sung, theo hướng nhân bản và tiết kiệm. Y học Đông Phương có thể tiếp sức lớn lao vào nhu cầu cấp bách này - về cơ bản, Đông Phương đã chỉ ra nguyên nhân bệnh tật, nhấn mạnh vào tương quan giữa con người và thực phẩm, sinh hoạt, tinh thần và toàn cảnh môi trường vì không hề có cá thể nào sống tách biệt với cộng đồng.Tổng thể luôn bao gồm các mặt về sinh học, tâm lý và tinh thần một cách triệt để, người điều trị vừa là người thầy lại vừa là cố vấn có thể đề ra hướng sống lành mạnh gợi ý thực dụng làm thay đổi cách sống và cải thiện từ cội nguồn vấn đề.

Y học Tây Phương chẩn đoán bệnh tật qua quan sát triệu chứng. Còn chuyên gia chẩn đoán Đông Phương có thể thấy sự phát triển của bệnh trước cả khi con bệnh triệu chứng như đau nhứuc chẳng hạn. Chẩn đoán Đông Phương dùng phương pháp chính là xem xét con người, mà từ thường gọi là phương pháp – nó còn là nghệ thuật phán đoán người ta qua “nét mặt và hình dạng tổng quát” (theo định nghĩa của tự điển Oxford). Tướng pháp Đông Phương là tiền đề dùng theo dõi hướng phát triển của mỗi con người. Ưu và khuyết điểm của cha mẹ họ, môi trường nơi họ lớn lên, cách ăn uống đều phơi bày trong hiện tại. Dáng điệu, màu da, giọng nói và các nét thể hiện của chúng ta đều bắt nguồn từ dòng máu trong nội tạng, hệ thần kinh và cấu trúc xương cốt, thực phẩm và môi trường sinh hoạt.

Bí quyết chẩn đoán nhận ra các dấu hiệu thay đổi trước khi con bệnh trở nặng- muốn biết dấu hiệu nào khiến thận có sạn, tim đang to ra hoặc bệnh ung thư đang hình thành, biết trước khi người bệnh bị hành đau đớn, khó chịu, cách chẩn đoán này hoàn toàn tùy thuộc thầy thuốc biết phát huy sự hiểu biết trọn vẹn các nguyên tắc ẩn sau kỹ thuật xem bệnh.

* Nguyên lý Âm Dương

Y học Đông Phương đi chung với lý thuyết âm dương. Khởi đầu của triết lý âm dương là vạn vật trong vũ trụ không ngừng thay đổi. Sự biến dịch này biến từ âm sang dương hoặc từ dương sang âm. Âm và Dương là sự tương đối mà không tuyệt đối. Mọi sự vật đều tương phản và bổ túc cho nhau, ví như không có lạnh thì chẳng có nóng, không có lên thì chẳng có xuống, không đối kháng thì không có chuyển động thay đổi. Đạo Đức Kinh của Lão Tử đã nói: “Một sinh hai, hai sinh ra vạn vật”.

Bất kì sự vận động nào có xu hướng rút về (trung tâm) thì đều thuộc lực dương, lực co rút tạo ra sự cô đọng, tác động, sức nóng, trọng lượng, tốc lực…v.v… Ở cực điểm, âm thành dương và dương hóa âm. Lực co rút tới cực điểm thì sẽ chuyển sang giãn nở, trái lại thì lực giãn nở tới cực điểm cũng vậy.

Nhịp điệu âm dương thống lĩnh vạn vật, từ thủy triều lên xuống – cây cỏ tăng trưởng theo một chu kì thống nhất và sai biệt cho đến sự vận hành hàng năm của các hành tinh xoay quanh mặt trời.Ta nhận thấy quả tim co dãn trong lồng ngực, phổi hít vào, thở ra, bắp thịt làm co một mặt thì phía sau lại nở ra…

Giáo sư George Ohsawa dựa vào nền triết lý cổ điển của âm dương, đã đề ra bẩy nguyên lý và mười hai định lý tóm tắt vận hành của chúng. Độc giả nào muốn hiểu thấu đáo nội dung cuốn sách này,tôi đặc biệt lưu ý họ cần học hỏi các nguyên lý và định lý sau đây, nếu bỏ qua chúng mà chỉ chăm chú vào phần kỹ thuật không thôi thì quả là đã tốn công vô ích.

Bảy nguyên lý trật tự vũ trụ

1. Mọi vật đều là biến thiên của cái một
2. Mọi vật đều biến dịch
3. Mọi cái đối kháng đều bổ túc cho nhau.
4. không có vật gì giống hệt nhau
5. cái gì có bề mặt thì có bề lưng
6. Bề mặt càng lớn thì bề lưng càng rộng
7. Cái gì có đầu thì có cuối

Mười hai định lý của nguyên lý thống nhất

1. Cái một biến thành âm dương, nảy sinh đối cực khi nó co rút tới điểm phân đôi
2. Âm- dương không ngừng nảy sinh từ điểm co rút phân đôi
3. Âm là ly tâm, dương là hướng tâm. Âm và dương cùng phối hợp tạo ra năng lượng và mọi hiện tượng.
4. Âm hút dương và dương hút âm
5. Âm đẩy âm và dương đẩy dương
6. Lực đẩy nhau theo tỷ lệ sai biệt các thành tố giống nhau và lực hút nhau theo tỷ lệ sai biệt các thành tố đối nhau
7. Mọi hiện tượng đều hư ảo, các tổ hợp không ngừng biến dịch.
8. Mọi vật đều chứa sẵn đối cực. Không có gì hoàn toàn âm hay hoàn toàn dương.
9. Vạn vật đều có hoặc âm hoặc dương trội hơn, không có gì trung hòa.
10. Âm lớn hút âm nhỏ, dương lớn hút dương nhỏ.
11. Ở cực điểm, âm biến thành dương và dương biến thành âm.
12. Mọi vật đều dương ở trong và âm ở ngoài.



Phân loại âm dương các cơ quan nội tạng:

Cách phân loại âm dương các cơ quan nội tạng khác với lối phân loại trong các sách châm cứu vì nó dựa vào sự cấu trúc của tạng, phủ. Theo đó, cái nào rắn chắc hơn như: tim, gan, lá lách…v.v… đuợc xếp vào tạng dương. Còn phủ nào rỗng như bao tử, bàng quang, ruột …v.v… xếp vào phủ âm. Sách châm cứu dựa vào phẩm chất của khí lực nuôi dưỡng tạng phủ mà phân loại.

Theo chẩn đoán Đông Phương, mỗi tạng, phủ được coi là vừa có quan hệ đối kháng, đồng thời lại bổ túc cho nhau như sau:



Do đó, nếu một trong hai cơ quan trên trục trặc thì chúng đều tạo ảnh hưởng dây chuyền.

Dinh dưỡng và chẩn đoán

Theo chẩn đoán Đông Phương, nguồn dinh dưỡng hợp cách là tạo ra sinh lực và sức khỏe nên dinh dưỡng kém là nguyên nhân gây bệnh. Nếu dinh dưỡng của chúng ta không đáp ứng linh hoạt theo thời tiết và sinh hoạt tăng trưởng thì mầm bệnh nảy sinh, cho nên người ta cần phải dinh dưỡng cho phù hợp với sự tiến hóa, môi trường và sự sinh hoạt của từng người. Để phát hiện đâu là dinh dưỡng hợp cách cho từng người, ta có công cụ đa năng là dùng yếu tố âm dương để ứng dụng khi lựa chọn thực phẩm, ta có thể xem xét chu kỳ tinh lực của rau củ biến chuyển thường kỳ hàng năm. Hãy xem cây cỏ sinh trưởng trong sự bổ túc của khí hậu- như cây cỏ âm tính mọc ở vùng đất khí hậu nóng (dương) và loại dương tính mọc ở vùng khí hậu lạnh (âm). Mùa đông, lạnh nên là âm, trong mùa này,tinh lực của các loài thực vật thu xuống phần rễ cây (vì rễ cây dương hơn phần thân cành). Về mùa hè nóng bức (dương), tinh lực của thực vật phát tán lên phần trên (thân, lá thuốc âm), rau củ về mùa đông như củ cải, bí đỏ mọc chậm, ít nước nên chắc, nặng. Loại cây về mùa hè như rau diếp, dưa chuột mọc nhanh, mọng nước nên thường nhẹ hơn. Từ đây suy ra, nếu ta ăn thực phẩm nào đúng mùa và ở gần vùng ta sống thì ta có thể hòa nhập vào môi trường thiên nhiên, hợp thời hợp cảnh. Thế cho nên người Ả Rập ăn loại quả mọng nước (âm). Còn người Eskimo ăn toàn thịt (dương) để lấy sức nóng mà tự sưởi ấm trong xứ sở lạnh lẽo (âm)



Tinh lực cây cỏ tương quan với mùa và thời tiết:



Vài ví dụ tiểu biểu về rau củ phân biệt theo luật âm dương:



Sử dụng nguyên tắc âm dương để chọn thực phẩm và chế biến là một phần quan trọng trong phương pháp Thực dưỡng. Từ Thực dưỡng nguyên là của George Ohsawa tạo ra để chỉ về cách dinh dưỡng theo nguyên lý y học của Đông Phương.

Nguyên nghĩa từ Thực dưỡng là Macrobiotic “macro” là rộng lớn - đại, “biotic” là đời sóng sinh vật. Dịch thoáng là Thực dưỡng hoặc hoặc là con đường tạo dựng mở mang đời sống rộng ra để hòa nhập với môi trường, thể nhập với vĩnh cửu. Qua Thực dưỡng, người ta phục hồi toàn vẹn giác quan để tự tạo lập tương quan với môi trường, với thiên nhiên và với khả năng tự tại, sẽ tự quyết lấy cuộc đời lành mạnh cho mình. Một công cụ dự phần tích cực vào sự kiến tạo sức khỏe là chẩn đoán Đông Phương –theo cách này, người ta sẽ tìm ra đâu là khuyết điểm và chỗ nào có sự thặng dư trong dinh dưỡng. Nếu nhận ra các dấu hiệu vừa kể thì ta có thể thay đổi thực phẩm để ăn uống hợp cách - một là chữa trị bệnh tật, hai là phục hồi sức khỏe.

Thứ tự trong phương pháp chẩn đoán:

Khi chẩn đoán người nào, ta cố xét toàn diện về họ. Cần thấy được quá khứ, hiện tại và tương lai cũng như về kiến thức, thể chất và tình trạng tinh thần, khả năng vươn lên của họ, vận mạng họ thế nào? Xem về cá tính, sự phán đoán và mức độ tinh thần của họ. Thứ tự chẩn đoán gồm ba bước. Đầu tiên, ta cần hiểu rõ toàn bộ môi trường sống của đối tượng. Thứu nhì, ta xét đến tình trạng thể chất và tinh thần có tương quan đến toàn cục. Bước thứ ba, ta nhắm vào chi tiết các triệu chứng. So sánh cách chẩn đoán giữa Đông và Tây, ta thấy y học hiện đại Tây Phương thường bỏ qua hai bước đầu mà tập trung vào bước thứ ba.

Phương pháp chẩn đoán (Đông Phương) gồm năm bước:

1. Dùng trực giác nắm bắt toàn cục
2. Lắn nghe người ta giãi bày
3. Xem chữ viết hay óc thẩm mỹ của họ
4. Xét các triệu chứng
5. Sờ nắn để định bệnh

Ta cần làm theo thức tự, đừng sờ nắn trước là nhằm phát huy trực giác của ta. Như thế dù không gặp đối tượng, ta vẫn biết tình trạng của họ bằng trực giác, kế đến, khi họ đến gặp ta là ta đã có sẵn ý niệm về họ rồi. Có thể ta không biết chi tiết, nhưng đã cảm nhận đầy đủ vấn đề của họ.

Hẳn là bạn đã trải qua kinh nghiệm về việc này, đó là khi gặp người lạ, bạn đã cảm nhận trước được cá tính và tinh thần của họ. Đến lúc xem xét lại bằng nghe, nhìn, sờ nắn, bấy giờ thì chi tiết bệnh sẽ cộng thêm vào sự nhận biết ban đầu. Bằng cách phát huy giác quan, bạn còn chẩn bệnh ngay cả người gọi bạn qua điện thoại hay qua nét chữu viết. Dĩ nhiên là người ta sẽ không vừa lòng theo cách trên nên hai bên sẽ cần gặp mặt. Hơn nữa, ngồi nói chuyện với họ rồi sờ nắn chỉ là cách xác định phụ nhưng có thì vẫn hơn. Trục giác nhạy bén như vừa trình bày là điều cốt tủy trong y học cổ truyền Đông Phương, buồn thay, đại đa số y sĩ Đông và Tây lại thiếu hẳn khả năng này.

Bây giờ, chúng ta hãy xét thêm vào chi tiết, thứ tự của phương pháp chẩn đoán. Mới thoạt nhìn (người bệnh), hãy tự hỏi xem họ bao nhiêu tuổi - tuổi theo năm tháng không quan trọng bằng tuổi sinh học vì một người tuổi đời 18, nhưng về mặt sinh lý và tinh thần có thể lại già hơn những người cùng lứa cỡ 2 tới 3 năm (trong lứa tuổi 20). Trẻ hơn 5 tuổi (trong lứa tuổi 40) và cứ thế tiến tới.

Kế đến, hãy đánh giá mức phát huy trí tuệ xem họ có nghiêng về mặt tinh thần hay không? Trí phán đoán của họ đến đâu? Rồi phân định xem mức phát triển của họ có đều đặn hay trồi sụt. Người đó có ngăn nắp hay bừa bãi? Muốn biết điều đó, cần xem hai bên má, nếu thấy có nhiều vết lồi lõm như hình răng cưa hướng lên trên là người thiên về cực đoan.

Chúng ta xét về môi truờng địa lý nơi họ lớn lên như: thành phố nhỏ, lớn hay miền quê? Cách sống của họ thoài mái hay khó nhọc? Họ giàu hay nghèo? Về mấy điểm này, ta cần xét về xương cốt của họ. Người thành phố thường yếu sức hơn người nông thôn. Xương cốt yếu là trải qua thời gian dài ít hoạt động.

Ta còn dùng yếu tố trên để mường tượng quá khứ và tương lai của họ ra sao nếu còn giữ lối sống như ngày nay.

Khi con người trở nên mạnh khỏe, họ ưa hoạt động xã hội hơn. Người có năng lực lãnh đạo, khả năng thiên phú sẽ lộ ra ở tầm vóc vững chắc, có bàn tay lớn, đôi tai to, dày ép sát vào hộp sọ.

Sau khi bạn đã có ấn tượng tổng quát, là lúc bạn xem thêm vào chi tiết. Như người này thích loại thứuc ăn nào, thứuc ăn đa tác động thế nào đối với sức khỏe của họ? Hãy xem bộ phận nào bị yếu – tim, lá lách, đại tràng – và xem các bộ phận liên đới với nó. Ví dụ tim yếu thì xem qua tiểu trường.

Lấy ví dụ khi xem lá lách, ta hãy xem bờ xương trên hốc mắt và vành tai; thấy đỏ hồng, muốn biết về lá lách thì ta xem hai bên gốc mũi (chỗ ngang hai mắt) nó thường có màu xanh lợt.

Thời nay phần nhiều người ta thường vướng bệnh về lá lách vì họ cắt Amiđan. Một khi đã cắt Amiđan thì lá lách phải làm việc nhiều hơn, họ hay bị căng thẳng và sức khỏe có vấn đề. Đặc biệt, nếu người này hay ăn đường, uống thuốc men, tiêu thụ hóa chất. Cắt Amiđan khiến người ta kém tính đề khangs vì hay ăn uống những thứ kể trên. Lá lách là cơ quan lọc máu và hệ bạch huyết – mà Amiđan cũng có chức năng như vậy – Amiđan bị sưng là dấu hiệu chỉ các chất độc bị dồn về đó. Cho nên khi cắt Amiđan là chứuc năng thanh lọc độc tố của nó bị hủy hoại, từ đó trở đi, chất độc lan ra các bộ phận káhc trong nội tạng.

Phương pháp chẩn đoán trình bày trong sách này liên kết với y học phòng ngừa, nó coi các triệu chứng chỉ là dấu hiệu – có thể xoay từ bệnh sang vô bệnh để về với sức khỏe ban đầu.

PHÔI THAI

Chúng ta cần phân biệt giữa hai khái niệm: tình trạng và thể trạng của con người. Thể trạng được quyết định trước khi con người sinh ra, nó mang những đặc trưng của cha mẹ, tổ tiên và cả những thức ăn người mẹ dùng suốt thời kì phôi thai phát triển. Từ cấu trúc xương, khuôn mặt, bề sâu rộng của hộp sọ, hình dạng chân tay đến một vài chừng mục về chiều cao và ngang của thân thể, chiều dài cảu đôi chân. Chính những điều này hợp thành thể trạng con người, các đặc điểm xuất hiện màu sắc và kết cấu da… biểu lộ tình trạng của con người đó. Thay đổi tình trạng của mỗi người tương đối dễ thông qua chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt hay những thay đổi khác trong cách sống… Nhưng để thay đổi thể trạng thì hầu như không thể. Những gì xảy ra cho phôi thai là điều mấu chốt, nó quyết định sức khỏe và hạnh phúc của đứa trẻ sau này.

Cơ thể ta có ba hệ chính: hệ tiêu hóa, thần kinh và tuần hoàn. Hệ tiêu hóa của phôi thai nằm bên trong (dương) và hệ thần kinh lại ở bên ngoài (âm). Khi cả hai hệ này phát triển, tự chúng tập trung thành những yếu tố đối nghịch do vậy thay đổi theo hai hướng hoàn toàn đối nghịch nhau. Chất khoáng được đưa ra phía sau còn chất đạm, béo .v.v… dồn tới phía trước, phần âm ngoài cơ thể hút dương, trở nên săn chắc, hình thành cột sống và lưng. Ngược lại, phần dương bên trong hút âm (mềm đi) hình thành các cơ quan nội tạng. Sự biến đổi này là một minh chứng tuyệt vời của hai khái niệm “âm” và “dương”, không phải là tĩnh tại mà năng động và luôn biến đổi.

Phần dưới của hệ tiêu hóa, ở dưới lồng ngực điều khiển các thức ăn dương tính (như chất rắn, lỏng). Phần trên lồng ngực phát triển thành những bộ phổi dung tích co dãn để chứa chất âm tính (như không khí).

Hệ thần kinh cũng đựoc chia thành hai phần. Vào thời điểm đang tiến hóa của phôi thai (khi phôi thai chưa có ý thức), thần kinh chỉ là một hệ đơn giản, không khác biệt, có đặc điểm của trực giao cảm. Sau đó hệ này lại được chia thành hệ thần kinh trung ương và hệ thần kinh tự trị, sau cùng, hệ tự trị phân hóa thêm thành hệ thần kinh trực gaio cảm và đối giao cảm. Hệ trực giao cảm thì làm các cơ quan nội tạng thuộc âm thì bành trướng, thuộc dương thì co rút còn với hệ đối giao cảm thì ngược lại, làm cơ quan thuộc âm thì co rút còn thuộc dương thì bành trướng (xem hình)

Làm sao để chia các chức năng của hệ tuần hoàn theo hai khái niệm âm và dương? Máu đỏ và sinh động thuộc dương. Bạch huyết trong suốt từ từ tập trung chất lỏng đã được sử dụng trong cơ thể từ ngoại biên và vận chuyển chúng về tim. Một lần nữa, những hệ thống này lại phân âm và dương, tán ra rồi tụ lại.

Trong cơ thể có hai đối cực chính trước và sau. Chất rắn, lỏng và không khí, tất cả được đưa vào từ phía trước (theo con đường từ phía trước). Sau đó nhưng rung động biến đổi từ ngắn, dài và từ tính thu hút đều được đưa vào từ phía sau (hệ thần kinh). Thức ăn (dương) đựoc cuốn xuống theo đường xoắn trôn ốc và trung tâm phía dưới chuyển tải. Các rung động (âm_ có khuynh hướng đi lên cũng chuyển động theo hình xoắn ốc lên não. Vô hình chung, hai khu vực này đựoc gọi là “đan điền” và “thiên nhãn”. Chúng cần được giữ cho ấm và mát để duy trì tình trạng âm dương điều hòa. Nếu những hoạt động mặt trước và mặt sau không phối hợp nhịp nhàng thì sự thúc đẩy để kiểm soát thức ănvà thần kinh không thể thựuc hiện được.

Hệ tuần hoàn, hệ tiêu hóa và hệ thần kinh đều tập trung tại vùng miệng. Đây là khu vực chặc chẽ nhất trong cơ thể (dương nhất). Dương có thể tập trung và tiếp nhận, từ vùng này ta ăn và thở, vì dương khiến ta nói. Miệng lại là trung tâm của cơ thể, là nơi ta thể hiện quyền tự do và vốn hiểu biết của mình và đó cũng là mấu chốt của mọi hoạt động cơ thể. Bằng cách điều khiển sự ăn uống, hô hấp và giao tiếp, ta điều khiển luôn cả cuộc đời mình.

Vậy vùng miệng âm hay dương? Đó là nhân tố hàng đầu quyết định cho đời sống tinh thần và nhân cách của mỗi người, là manh mối để đánh giá toàn bộ con người, do đó ta cần biết cách “diễn giải” nó. Hãy nhìn người quen, bạn bè, để ý xem họ có hay mím môi hay không là có thể biết họ thuộc loại người chi li hay rộng rãi .v.v…

Vị trí của bào thai được trình bày theo hình vẽ sau đây:



Các tạng phủ trong cơ thể thai nhi có vị trí tương hợp như ta thấy ở cổ tay – liên hệ với phổi. Gót chân và mông liên hệ với cơ quan sinh dục. Khoảng giữa cẳng chân thì liên hệ với bộ tiêu hóa. Còn phần đầu gối và cùi chỏ tương quan với gan, và lá lách (tỳ). Ta thấy cổ tay nằm ngang bộ phổi, có lúc đôi tay che lên tới mặt, bởi vậy, khi ta giật mình, bối rối hay khóc lóc, lập tức cả hai tay tự động che lên mặt – như muốn lặp lại động tác quen thuộc từ khi còn trong bào thai.

Sau khi sinh, đôi tay ta thường thóng xuống bên sườn và tạo thành tương quan với cơ quan nội tạng. Cho nên bây giờ, cổ tay là đại diện cho chức năng sinh dục. Nếu cổ tay bị đơ, không mềm dẻo thì ắt là nội lực trong bộ sinh dục cũng bị trở ngại, tắc nghẽn. Ngược lại, cổ tay linh hoạt thì hoạt động sinh dục cũng thông suốt.

Trong mùa hè, lợi dụng người ta hay mặc quần áo ngắn khi ở nhà hoặc khi bơi lội, ta sẽ dễ thấy các dấu vết, nốt ruồi, mao mạch họ giãn nở hay co thắt. Hãy để ý màu sắc da dẻ tổng quát. Tuy nhiên, bất cứ khi nào trong năm, ta vẫn có thể xoa bóp cho họ - để định bệnh. Trong khi xoa bóp, ta có thể thấy chân họ có dấu hiệu mọng nước hay săn chắc. Hãy nên nhớ, bàn chân đại diện cho bộ sinh dục, cho nên gót chân phải săn chắc, bụng chân đại diện cho đường ruột, còn đầu gối và khuỷu tay thì chỉ về tình trạng của gan, lá lách và tỳ.

Nếu xương sống ai bị cong thì chắc chắn cơ quan nội tạng phần xương cong đó không sưng tấy thì cũng bị dãn ra. Xương sống cong khiến miếng sụn đệm bị lệch, vẹo. Vậy sụn đệm có đều không? Nếu mé trong viền sụn hở lớn là dấu hiệu thặng âm, vì người này đã ăn quá nhiều đường và nước, còn nếu sụn hở chút ít thì đó là dấu hiệu thặng dương- vì do người ta ăn uống nhiều thịt, cá hay muối – nhưng tình trạng này rất hiếm. Khi chẩn đoán, ta day mạnh vào phần xương sống cong, nếu cảm thấy đau tại đó thì đúng là cơ quan nội tạng đang bị trở ngại.

KHUÔN MẶT

Không ai có một cơ thể hoặc cái đầu thật cân xứng cả. Mỗi người chúng ta mỗi khác, tùy vào loại thức ăn nuôi dưỡng chúng ta khi còn trong bụng mẹ. Hình dạng khuôn mặt có thể tiết lộ thể trạng của một người qua tình trạng khi còn là một bào thai. Chúng ta có thể chia khuôn mặt thành ba phần như biểu đồ dưới đây:



Bảy ngày sau khi thụ thai, trứng đã thụ tinh, theo vòi dẫn trứng đi xuống đáy tử cung và cơ thể mới liền nhanh chóng tăng kích cỡ trong 21 ngày, tiếp theo 28 ngày đầu tiên này hình thành nên phần trên của khuôn mặt. Nếu trong giai đoạn này bà mẹ có dùng thuốc và các chất hóa học, nó sẽ ảnh hưởng vào cả cuộc đời đứa trẻ (nếu trước khi thụ thai mà uống thuốc sẽ ít bị ảnh hưởng hơn) “bớt, chàm” thường xuất hiện trong giai đoạn này. Trong 63 ngày tiếp theo, hình thành phần giữa khuôn mặt. Như vậy trong 91 ngày, toàn bộ cấu trúc khuôn mặt cơ bản đã hình thành. Phần cuối của khuôn mặt hình thành ngày càng rõ nét trong suốt 189 ngày còn lại trong thời kì thai nghén.



Sự hình thành các bộ phận ở bào thai phát triển liên tục nhưng mỗi bộ phận chia giai đoạn phát triển như sau: Trong ba tháng đầu, hệ thần kinh phát triển nhanh chóng. Ba tháng cuối là phát triển hệ tiêu hóa và hô hấp. Hệ thống mang tính dương (thần kinh) lại hình thành ở ngoài rìa vòng xoắn bào thai (phần mang tính âm nhất) Hệ tiêu hóa lõm vào (âm) lại phát triển ở trung tâm vòng xoắn (vị trí mang tính dương). Để cân bằng giữa hai hệ thống này là hệ tuần hoàn. Vì thời gian thai nghén kéo dài 9 tháng nên ta chỉ nằm trong bụng mẹ trong ba mùa. Sự phát triển của chúng ta theo 4 cách ứng với ba mùa : xuân, hạ, thu; hạ, thu, đông; thu, đông, xuân; đông, xuân, hạ. Thời xua, người ta ăn nhiều thức ăn dương vào màu đông và thực phẩm âm về mùa hạ. Điều này dẫn đến từng phần trên khuôn mặt co vào (dương) hoặc nở ra (âm) tùy theo mùa nào khi nó hình thành. Chúng ta có thể nhìn mà biết một người quá 40 tuổi sinh vào mùa nào. Nhưng vì bây giờ chúng ta ăn quá nhiều thức ăn trái mùa, như ăn kem lạnh và chuối vào mùa đông, thế hệ trẻ sau này sẽ có khuôn mặt theo tỷ lệ cân xứng khác. Theo kiểu ăn truyên thống, có bốn dạng mặt tương ứng với bốn thứ tự trong mùa mang thai:



Loại A là người chín chắn và thực tế. Loại B lãng mạn hơn, tình cảm và lý tưởng. Loại C là người trí thức hay suy nghĩ, loại D là người ham hoạt động, là mẫu người hành động.

THỂ TRẠNG

Mọi vật được hình thành bởi lực co vào, sức co khi đạt tới độ tuyệt đối thì nó lại giãn ra. Vật chất vì vậy có khuynh hướng dương bên trong (nén chặt) và âm bên ngoài. Lực co vào càng mạnh thì lực giãn ra càng lớn. Những chiếc lá có hình dưới đây theo trình tự cho thấy, khi khí hậu càng nóng thì lực co càng giảm, như lá hình bên trái, thường mọc ở các nước phía bắc, lực co vào rất lớn nên trông rất mảnh mai, lá hình bên phải ở vùng nhiệt đới, nên lực giãn ra lớn hơn lực co vào. Lá nằm giữa thuộc khí hậu ôn hòa, cho thấy có sự cân bằng giữa các lực co giãn.



Cây cối đều chịu ảnh hưởng của khí hậu và chất dinh dưỡng rút ra từ đất. Lực tác động bên trong và bên ngoài cùng gây ảnh hưởng để đạt tới trạng thái cân bằng. Loài người cũng vậy. Chúng ta chịu tác động từ thiên nhiên và xã hội, và ta lại sản sinh ra nội lực bên trong. Tất cả yếu tố này ảnh hưởng đến hình dạng chúng ta. Chúng ta không thể kiểm soát ngoại lực nhưng có thể điểu chỉnh nội lực qua chế độ ăn uống. Nếu chúng ta ăn quá nhiều thức ăn âm tính hơn, nội lực sẽ bành trướng. Nếu ta ăn vào thức ăn dương tính hơn thì nội lực của ta tập trung hơn hay sức sẽ mạnh hơn.

Qua nét mặt sẽ nhìn thấy sự vận hành của nội lực. Một số người có cặp mắt thụt vào (nội lực dương), một số người mắt lộ (âm). Người mũi thấp không giữ được cặp kính, nhưng vì họ nhiều dương tính, họ ít khi cần đeo kính. Nếu quan sát mọi người trên phố, bạn để ý một số nguời có đôi môi mọng, trề ra, một số khác môi mỏng, mím vào. Người môi mỏng thường mạnh khỏe nhưng thiếu tính linh hoạt.

Hướng thẳng đứng là âm tính (lực giãn nơt bứt lên khỏi mặt đất), hướng nằm ngang mang tính dương. Mắt dài, hẹp vì thế là dương tính, mắt tròn to âm hơn. Mũi dài, hếch, cao là âm, mũi rộng, thấp dương hơn. Lỗ mũi rộng biểu hiện thể trạng dương tính. Hàm rộng, khỏe cũng là dấu hiệu dương tính. Người có đôi hàm to, rộng bề ngang thường hăng hái, ham hoạt động thuộc dương tạng.



+ Khuôn mặt bên trái biểu hiện cơ thể dương tính hơn.
+ Khuôn mặt bên phái âm tính hơn do chịu ảnh hưởng của lực thẳng đứng.

Cơ thể con người được hình thành từ trong bụng mẹ. Trước khi sinh, cấu trúc khuôn mặt đã rõ nét. Những nét nằm ngang trên mặt biều hiện dương tính. Tuy nhiên, sau khi sinh ra những nếp nhăn mới xuất hiện. Lực dãn nở theo chiều thẳng đứng thường có ở trên trán, nguyên nhân do đã uống quá nhiều nước (âm)



Vết nhăn theo chiều dọc giữa hai mắt là biểu hiện ở phần gan và túi mật có trục trặc. Bên dưới lá gan tương đương với hai bên cánh mũi, là khu vực có liên quan với lá lách và tụy. Những cơ quan này cũng bổ sung hoạt động của dạ dày nên xem cánh mũi là biết được tình trạng của dạ dày. Vùng mặt này mà có màu xanh là dạ dày và lá lách có vấn đề.



Đôi mày biểu hiện thể trạng của mỗi người theo cấu trúc xương, suy ra, tương ứng với đôi mày từ trong bụng mẹ. Khi đó, nếu bà mẹ ăn quá nhiều thực phẩm dương, đặc biệt là thịt trong khi mang thai thì đôi mày của đứa trẻ sẽ cau lại ở giữa khuôn mặt. Người ăn chay sẽ có đôi mày vòng xuống, lấn ra ngoài.



Độ dài và dày của đôi mày được hình thành sau khi sinh. Nếu có rụng, lông mày thường rụng từ mé ngoài, đôi mày dài thể hiện người được hạnh phúc và tuổi thọ. Mày rậm biểu hiện sức sống mạnh mẽ, lông mày thưa là kém sức sống.

Tốt nhất là vùng mũi và miệng không nên có nếp nhăn, nhưng chúng ta thường thấy có vết nhăn trên mũi và miệng, biểu thị hai nửa cơ thể phối hợp không cân xứng. Vết nhăn trên mũi biểu hiện hai tâm thất hoạt động mất cân bằng, gây tổn thương cho người có nét như thế, kém dẻo dai, không có sức chạy khỏe. Tình trạng này có thể do bẩm sinh, nhưng chế độ ăn uống không hợp lí lại làm cho tình trạng sức khỏe tồi tệ thêm.

Vệt nhân trung bị hở, lộ răng chính là tật sứt môi. Đó là vì quá thặng âm tính, bởi vì khi bà mẹ mang thai đã không ăn đủ thức ăn dương để có lực thu rút mà gắn liền thành một nhân trung hoàn chỉnh.

Nếu mũi phồng to, trông mềm như mọng nước, là biểu hiện tim to do hấp thụ quá nhiều chất lỏng. Nếu phồng như mỡ và cứng thì chứng tỏ trong xoang có trục trặc là do đã từng ăn quá nhiều bơ và phô mai, vùng quanh tim có lớp mỡ bao. Người có chóp mũi căng phồng cứng thì dễ mắc bệnh tim, tim to, co bóp kém linh hoạt.



Những vết nhăn trên mặt do các lực âm dương phối hợp. Hình trên, vết nhăn ngang ảnh hưởng bởi lực li tâm mà nguyên nhân là do ăn đường, mỡ và uống nước quá nhiều. Hình dưới cho thấy ảnh hưởng của lực dương tạo ra những vết nhăn dọc vì ăn quá nhiều muối và thịt động vật.



Hình này giải thích ý nghĩa của những vết nhăn thường xuất hiện trên nét mặt. Vết nhăn càng hằn sâu chứng tỏ bệnh tình trong tạng phủ tương ứng càng nghiêm trọng.

(Nguồn: http://thucduong.vn/)

Read more…

Bí quyết sống lâu, sống khỏe của Giáo sư Tề Quốc Lực

22:46 |
(GS Tề Quốc Lực là một người Mỹ gốc Hoa. Ông đã từng làm việc cho Tổ chức y tế thế giới (WHO) nhiều năm. Mới đây ông được Bộ y tế Trung Quốc mời về Bắc Kinh nói về sức khỏe. Bài nói của ông được công chúng hoan nghênh và đã được đăng tải trên nhiều tờ báo của Trung Quốc.)

Hiện nay tuyệt đại đa số là chết vì bệnh, rất ít người bị chết vì già. Lẽ ra phải tuyệt đại đa số chết vì già, còn thiểu số chết vì bệnh. Thật ra trên thế giới có ra một tuyên ngôn, tuyên ngôn này có 3 cái mốc. Mốc thứ nhất gọi là ăn uống cân bằng, thứ hai là vận động có oxy, thứ ba gọi là trạng thái tâm lý.

1. ĂN UỐNG CÂN BẰNG

Có lẽ có người từ lâu nghĩ rằng giữ gìn sức khoẻ thì chẳng qua là ngủ sớm dậy sớm là khoẻ chứ gì . Tôi xin thưa với bạn , nói vậy nói vậy thì cực kỳ thiếu hiểu biết, Nói ăn uống cân bằng, có hai chuyện là ăn và uống.

Trước hết nói về uống

Đồ uống nào tốt nhất? Côca cola? Mỹ không thừa nhận, quốc tế cũng không thừa nhận, nó chỉ có thể giải khát, chứ không có bất cứ tác dụng nào cho giữ gìn sức khoẻ.
Sản phẩm bảo vệ sức khoẻ là gì, nó phải có khả năng chữa bệnh. Ở các hội nghị quốc tế người ta đã định nghĩa ra 6 loại đồ uống bảo vệ cho sức khoẻ: trà xanh, rượu vang đỏ, sữa đậu nành, sữa chua (người ta không nói đến sữa bò nói chung, bạn nên chú ý), canh xương, canh nấm.

- Vì sao nói canh nấm ? Vì canh nấm có thể nâng cao công năng miễn dịch. Uống canh nấm có thể nâng cao sức miễn dịch, cho nên đó là sản phẩm giữ gìn sức khoẻ.

- Vì sao nhắc đến canh xương? Trong canh xương có chất uyển giao (một chất keo), uyển giao kéo dài tuổi thọ.

- Vì sao nhắc sữa chua? Vì sữa chua cân bằng vi khuẩn. Nói cân bằng vi khuẩn được duy trì có nghĩa là vi khuẩn có ích thì sinh trưởng, vi khuẩn có hại thì tiêu diệt, cho nên ăn sữa chua thì có thể ít mắc bệnh. Bản thân sữa bò, chúng tôi không phủ nhận tác dụng của nó nhưng nó kém xa sữa chua.

- Vì sao uống trà xanh? Nguyên nhân trong trà xanh có chứa chất trà dà phân, mà trà dà phân có thể chống ung thư. Nhật Bản làm tổng điều tra rất tốt. Sau tổng điều tra, người trên 40 tuổi chẳng ai không có tế bào ung thư trong cơ thể. Vì sao có người mắc ung thư, có người không? Điều này có liên hệ đến việc uống trà xanh. Nếu anh uống mỗi ngày 4 chén trà xanh, thì tế bào ung thư không bị chia cắt, mặc dù có chia cắt cũng muộn lại 9 năm trở lên. Cho nên ở Nhật Bản, học sinh tiểu học hằng ngày đi học đều uống một chén trà xanh.

Thứ hai xin chú ý, trong trà xanh có chứa fluor, nó chẳng những có thể làm bền răng mà còn chữa được sâu răng, diệt vi khuẩn. Sau bữa ăn 3 phút, đốm khuẩn răng đã xuất hiện. Hiện nay rất nhiều người chúng ta không có răng tốt, chẳng những không súc miệng bằng nước trà, mà nước trắng cũng không. Vì thế có người 30 tuổi đã bắt đầu rụng răng, 50 tuổi thì rụng hết.

Thứ ba bản thân trà xanh chứa chất trà cam ninh, chất này nâng cao độ bền huyết quản, khiến huyết quản khó vỡ. Rất nhiều người bị xuất huyết não. Xuất huyết não thì chưa có cách chữa, kỵ nhất là tức giận, hễ tức giận đập bàn trợn mắt thì mạch máu não đứt ngay.

- Trong các đồ uống, đứng thứ hai là vang đỏ: Vốn là trên vỏ quả nho đỏ có một thứ gọi là nghịch chuyển thuần (cồn chuyển ngược). Chất này có tác dụng chống suy lão, còn là thuốc chống ô-xy hoá, người hay uống vang đỏ thì ít mắc bệnh tim. Thứ hai nó có thể giúp ta phòng ngừa tim đột nhiên ngừng đập, chúng ta gọi là ngừng đột ngột.Trong trường hợp nào tim có thể ngừng đập? Một là vốn có bệnh tim, hai là tăng huyết áp, ba là mỡ máu cao.Mỡ máu cao nguy hiểm ở chỗ nào? Tim có thể đột nhiên ngừng đập.

Rượu vang đỏ còn có một tác dụng nữa là hạ huyết áp, hạ mỡ máu. Vang đỏ có mấy tác dụng lớn như thế nên ở nước ngoài người ta bán rất chạy.

Nhiều người sẽ hỏi: chẳng phải cấm rượu sao? Tổ chức y tế thế giới nói rằng cai thuốc lá, hạn chế rượu, chứ có nói cấm rượu đâu, hơn nữa còn nói rõ hạn lượng rượu : rượu vang nho mỗi ngày không quá 50 - 100cc, rượu trắng mỗi ngày không quá 5 - 10cc, bia mỗi ngày không quá 300cc. Nếu anh vượt qua khối lượng đó thì sai lầm, không quá lượng đó thì tốt. Tôi không biết uống rượu thì làm thế nào? Chị không biết uống rượu, há lại không biết ăn nho sao? Ăn nho há lại không biết ăn cả vỏ sao ? Nhưng nho trắng không có nghịch chuyển thuần, bạn ăn cũng vô ích.

Nho đỏ rửa sạch đi mà ăn, nuốt cả vỏ rất thích không sao cả. Cho nên người có tiền uống vang đỏ, người không có tiền ăn nho đỏ không bỏ vỏ đều giữ được sức khoẻ như nhau.

Vấn đề tập thể dục buổi sáng:

Tôi thấy nhiều ông bà già 5 - 6 giờ sáng đã xách bảo kiếm đi ra ngoài. Đến tối không thấy mấy ông bà già nữa, họ đều ở nhà xem tivi. Đó là vì họ không biết rằng tập thể dục buổi sáng rất nguy hiểm. Sáng sớm dậy, quy luật của đồng hồ sinh học trong con người là nhiệt độ cơ thể cao, huyết áp tăng, hơn nữa nội tiết tố thượng thận cao gấp 4 lần buổi tối, nêu vận động mạnh sẽ rất dễ xảy chuyện dễ làm tim ngừng đập. Tôi không phản đối đi bộ, tập thể dục, đi Thái cực quyền, luyện khí công buổi sáng sớm... điều đó không có gì sai cả. Nhưng nếu người già và người trung niên sáng sớm vận động mạnh, chạy đường dài, leo núi, thì chỉ có trăm điều hại, không một điều lợi.


Bây giờ đến vấn đề thứ hai là Ăn: ngũ cốc, đậu và rau là rất tốt.

Thực Vật:

Trong loài cốc trước tiên nói đến ngô, gọi đó là cây vàng. Lai lịch của ngô, hội nghị y học Mỹ đã có điều tra phát hiện rằng người Mỹ nguyên thủy, người Inđi-an không ai bị tăng huyết áp, không ai bị xơ vữa động mạch. Bây giờ nhiều người ăn noãn lân chi để làm gì? Chính là hy vọng không bị xơ vữa động mạch. Nhưng họ không biết rằng trong ngô già có rất nhiều, không phải tốn tiền nhiều. Nhưng rất nhiều người chúng ta không biết, không ăn. Bạn cứ việc uống sữa bò, tôi cứ việc húp cháo ngô, xem ai sống lâu hơn ai.

Loại cốc thứ hai là kiều mạch: tại sao nhắc đến kiều mạch? Người ta hiện nay thường có 3 cao: huyết áp cao, mỡ máu cao, đường máu cao. Kiều mạch là 3 hạ: hạ huyết áp, hạ mỡ máu, hạ đường máu. Tôi hỏi nhiều người kiều mạch là gì? Đáp rằng không biết, chỉ biết hăm-bơ-gơ. Trong kiều mạch có chứa 18% xen-lu-lô, người ta ăn kiều mạch không bị viêm dạ dày, đường ruột, ung thư trực tràng, ung thư kết tràng đều không mắc. Trong số những người ngồi văn phòng mắc bệnh có đến 20% là ung thư trực tràng, ung thư kết tràng.

Loại cốc thứ ba là các loại khoai: khoai lang trắng, khoai lang đỏ, củ từ khoai tây. Những thứ này trong hội nghị quốc tế có nhắc đến. Vì sao? Vì chúng có 3 hấp thụ: hấp thụ nước, hấp thụ mỡ và đường, hấp thụ độc tố.

Hấp thụ nước làm trơn đường ruột, không bị ung thư trực tràng, kết tràng.

Hấp thụ mỡ và đường, không mắc bệnh tiểu đường.

Hấp thụ độc tố: không mắc chứng viên dạ dày, đường ruột.

Người Mỹ ăn khoai là chế biến thành các loại bánh, ăn cũng không ít. Mong mọi người ăn nhiều khoai vào, trong lương thực chính nên có các loại khoai.

Trong cốc còn có yến mạch, rất nhiều người chưa biết. Nếu bị tăng huyết áp, nhất định phải ăn yến mạch, yến mạch lát. Nó có thể hạ huyết áp, hạ mỡ máu.

Loại cốc cuối cùng là kê: Vì sao chúng ta không ăn kê nữa? Nhiều người bảo thứ đó chỉ có đàn bà đẻ mới ăn ! Thật ra, kê có thể trừ thấp, kiện tỳ, trấn tĩnh, an miên (ngủ yên) ; ích lợi lớn như thế mà anh không ăn? Bây giờ rất nhiều người ngồi văn phòng, đêm mất ngủ, mắc các chứng uất ức, chứng chức năng thần kinh, có người uống đến 8 viên thuốc an thần nhưng vẫn không ngủ được. Tôi khuyên mọi người đừng nên uống thuốc nữa.

Tôi đã quan sát kỹ, người ta ngủ được là nhờ ăn cháo kê. Cho nên bây giờ tôi đã thay đổi, sáng một bát cháo ngô, tinh thần phấn chấn, tối một bát cháo kê, ngủ khỉa khỉa. Chữa bệnh bằng ăn tốt hơn chữa bệnh bằng thuốc.

Vì sao chúng ta không giải quyết vấn đề bằng cái ăn, mà cứ nhất định phải dùng thuốc.

Mười thứ thuốc thì chín thứ là độc, chưa từng nghe nói dùng thuốc để giữ gìn sức khoẻ. Tôi cũng phải nói rõ: tôi không hề phản đối dùng thuốc. Tôi phản đối dùng thuốc bừa bãi, tôi chủ trương dùng thuốc trong thời gian ngắn, uống thuốc bình yên, nhanh chóng ngừng thuốc.

Dưới đây xin nói về đậu:

Thiếu protein ưu chất thì làm thế nào? Protein của một lạng đậu nành bằng hai lạng thịt nạc, bằng ba lạng trứng gà, bằng bốn lạng gạo, vậy nên ăn cái gì hơn?

Đậu nành là hoa của dinh dưỡng là vua của các loại đậu. Trong đậu nành có ít nhất 5 loại chất chống ung thư, đặc biệt là di hoàng đồng chất có thể phòng và chữa ung thư tuyến vú, ung thư trực tràng và ung thư kết tràng.

Sữa bò tốt hay sữa đậu nành tốt ? Ở hội nghị quốc tế của liên hiệp quốc người ta nói, trong sữa bò có nhiều nhũ đường, mà hai phần ba số người trên thế giới không hấp thu được nhũ đường, người da vàng ở Châu Á có 70% số người không hấp thu được nhũ đường. Sữa đậu nành có ưu điểm gì ? Trong sữa đậu nành có chứa quả đường, mà quả đường hấp thu 100%.

Bây giờ nói đến rau:

Loại rau nói đến đầu tiên là cà-rốt: Vì sao nói đến cà-rốt? vì đó là loại rau dưỡng mắt. Tối nhìn không thấy, đặc biệt là chứng quáng gà, ăn là khỏi. Nó bảo vệ niêm mạc, ăn cà-rốt lâu ngày thì ít bị cảm mạo.

Người Mỹ cho cà-rốt là thứ rau làm đẹp người, dưỡng tóc, dưỡng da, dưỡng niêm mạc. Người thường xuyên ăn cà-rốt quả là đẹp từ trong ra ngoài. Khái niệm đẹp người này phải là trong ngoài hài hòa. Người Mỹ rất chú ý đến điều này, họ ăn cà-rốt đều.

Lúc ở U-rum-si, người ta mời tôi ăn bánh chẻo (thứ bánh nhân thịt bọc bột mỉ) nhân cà- rốt, họ gọi là bánh chẻo Nga, tôi ăn thấy rất ngon. Thứ nhất nó dưỡng niêm mạc, ít bị cảm mạo. Thứ hai nó đẹp khỏe mạnh. Thứ ba nó có chút tác dụng chống ung thư, hơn nữa rất tốt cho mắt. Châu Âu đã có bánh ngọt cà-rốt. Ở nhiệt độ cao chất bổ trong cà-rốt không bị giảm sút.

Loại rau thứ hai phải nói đến là bí đỏ: Nó kích thích tế bào tuỵ sản sinh ra Insulin. Cho nên người thường xuyên ăn bí bỏ rất ít mắc bệnh tiểu đường.

Trong các loại rau còn nhắc đến khổ qua (mướp đắng). Tuy nó đắng nhưng nó tiết ra insulin, người thường ăn mướp đắng cũng không bị tiểu đường. Bí đỏ, khổ qua người ở lứa tuổi chúng ta nhất định phải ăn luôn.

Ngoài ra người ta còn nhắc đến cà chua. Ở Mỹ, hầu như gia đỉnh nào cũng trồng cà chua, ăn cà chua, mục đích là khỏi mắc ung thư. Ăn cà chua không mắc bệnh ung thư, bạn đã biết chưa? Nhưng không phải ăn cà chua một cách tùy tiện. Trong cà chua có một chất gọi là chất cà chua, nó kết hợp chặt với protein làm một, xung quanh có xen-lu-lô bao bọc rất khó ra. Cho nên phải làm nóng lên, nóng đến mức nhất định nó mới ra được. Tôi mách các bạn, cà chua xào trứng gà là đáng giá nhất và canh cà chua hoặc canh trứng gà cà chua cũng rất tốt. Cà chua ăn sống không chống được ung thư, xin mọi người nhớ cho.

Tôi vừa nói tỏi ăn như thế nào?

Có người nói ngay cái món đó phải ăn nóng. Sao cái gì bạn cũng muốn ăn nóng? Tôi xin thưa với các bạn: tôi đun nóng lên thì bằng dê-rô! Nguyên nhân là gì?

Xin thưa quý vị, trước hết phải thái nhánh tỏi thành từng lát, để từng lát trong không khí độ 15 phút, sau khi nó kết hợp với dưỡng khí mới sản sinh ra chất tỏi (đại toán tố). Bản thân tỏi không chống được ung thư, đại toán tố mới chống được ung thư, hơn nữa là vua chống ung thư.

Tôi thấy có người ăn tỏi, anh ta lấy một bát mỉ rồi nhanh chống bóc tỏi ra, ăn từng nhánh tỏi, không đầy năm giây đồng hồ đã ăn xong. Ăn như vậy không có ích gì hết. nếu sợ tỏi có mùi thì ăn một quả sơn tra, nhai nắm lạc rang, hoặc ăn chút lá chè là hết mùi ngay.

Bây giờ nói về mộc nhĩ đen.

Mộc nhĩ đen có tác dụng gì ? người chết vì nhồi máu cơ tim ngày càng nhiều, càng ngày càng có nhiều người chết trẻ, thậm chí ở cả tuổi 30 ! Có hai nguyên nhân, một là máu đặc cao ngưng thể chất. Người cao ngưng thể chất cộng thêm thức ăn cao ngưng, cho nên vào dịp tết người chết vì nhồi máu cơ tim đặc biệt nhiều, không kể tuổi nào.
Chết nhồi máu cơ tim tuy không có cách gì chữa được, nhưng hoàn toàn có thể dự phòng. Có bác sĩ khuyên bạn uống Aspirin , vì sao ? Có thể khiến máu đông đặc lại, không bị nhồi máu cơ tim. Nhưng hậu quả là gì ? Hậu quả của việc uống nhiều aspirin là đáy mắt xuất huyết. Bây giờ rất nhiều người xuất huyết đáy mắt. Tôi khuyên mọi người đừng uống aspirin nữa. Hiện nay ở Châu Âu không uống aspirin nữa rồi. Vậy thì làm thế nào ? Ăn mộc nhĩ đen. Ăn mộc nhĩ đen có hai tác dụng, trong đó có một tác dụng là khiến máu không bị đông đặc lại. Tác dụng này của mộc nhĩ đen là do một chuyên gia bệnh tim của Mỹ phát hiện, ông đã đoạt giải Nobel. Sau khi ông ta phát hiện, tất cả người Châu Âu người có tiền và có địa vị đều ăn mộc nhĩ đen, chứ không uống aspirin nữa.

Người thế nào là người cao ngưng thể chất ? Xin trả lời là người thấp, to béo, đặc biệt là phụ nữ ở thời kỳ chuyển đổi tuổi. Hơn nữa người thuộc nhóm máu AB càng dễ bị máu đặc cao ngưng và cổ càng ngắn thì càng dễ bệnh. Thứ nhất là đừng ăn đồ biển nhiều, thứ hai nên uống một chút trà ngon, hoạt huyết tiêu ứ, thứ ba nhất thiết chớ tức giận, hễ tức giận là máu đặc lại. Uống rượu trắng cũng dễ đặc máu, muốn uống thì uống vang đỏ, không quá 100ml.

Dưới đây nói một chút về phấn hoa.

Tổng thống Ri-gân từng một lần bị bắn trọng thương, đã một lần bị u ác tính, ông ta đã cao tuổi như vậy mà bây giờ vẫn sống, chỉ có điều mắc chứng lú lẫn của người già. Chính là phấn hoa có tác dụng rất lớn cho cơ thể ông. Bây giờ ở Châu Âu, Châu Mỹ đều thịnh hành phấn hoa.

Mọi người đều biết, phấn hoa là tinh tú của thực vật, nó thay nghén sự sống, dinh dưỡng rất phong phú, là cái tốt nhất trong thực vật. Phấn hoa phải có 3 điều này mới dùng được: xử lý, tiêu độc, thoát mẫn.

Phấn hoa ở Nhật Bản: được dùng nhiều lắm, ở tuổi nào cũng dùng nó để làm đẹp. Người mẫu ở Pháp không ai không dùng.

Lại còn chứng rối loạn đường ruột phụ nữ mắc rất nhiều, bí đái có tính chất tập quán. Rất nhiều người uống thuốc đi ngoài mà mắc ung thư trực tràng, ung thư kết tràng. Phấn hoa có một tên gọi là cảnh sát đường ruột, sau khi ăn phấn hoa, cảnh sát có thể duy trì trật tự đường ruột. Thứ ba, nó làm đẹp khoẻ mạnh, duy trì thể hình. Ba tác dụng lớn của phấn hoa không thể coi thường.

Động Vật

Người ta nói ăn động vật bốn chân không bằng ăn con hai chân, mà ăn con hai chân không bằng ăn con nhiều chân. Nếu trong bữa ăn có cả thịt lợn và thịt dê, thì ăn thịt dê, có thịt dê và thịt gà thì ăn thịt gà; có gà và có cá thì ăn cá; có cá và tôm thì ăn tôm.

Động vật càng nhỏ thì protein càng tốt, người ta nói protein của bọ chét là tốt nhất. Cho nên đã có mấy bác sĩ Mỹ đang nghiên cứu làm thế nào để có thể ăn được bọ chét.

Bây giờ WHO, Liên hiệp quốc đề nghị mọi người ăn nhiều gà và cá.

Tại sao không khuyến nghị ăn tôm ? Không phải là không khuyến nghị mà là tôm quá đắt khó phổ cập.Nếu có tôm, thì ăn tôm là tốt, vài con tôm đủ nhiều protein hơn anh ăn đầy một bụng thịt bò.

Cá thì dễ phổ cập hơn. Protein của cá một giờ là hấp thụ được, tỷ lệ hấp thụ là 100%, còn protein của thịt bò là 3 tiếng đồng hố mới hấp thụ được. Cá đặc biệt thích hợp cho người già, đặc biệt là người cơ thể suy nhược. Đặc biệt là ăn cá bé, tôm bé, đặc biệt phải ăn cả con cá (ăn cả đầu lẫn đuôi) vì có chất hoạt tính, mà chất hoạt tính thì ở đầu và bụng cá bé, tôm bé. Đấy là khoa học, chứ không phải mua cá chọn con to là tốt.

Còn một nguyên tắc nữa là phải nắm vững lượng, chứ không phải ăn càng nhiều càng tốt. Trên quốc tế có quy định: ăn no 7 phần 10, suốt đời không đau dạ dày, ăn 8/10 là tối đa, nếu ăn no 10/10 thì 2/10 kia vô ích. Cho nên quốc tế khuyến nghị tỷ lệ vàng là 0.618 : lương thực phụ 6, lương thực chính 4 ; lưong thực khô 6, lương thực tinh 4 ; thực vật 6, động vật 4.

Một bác sĩ người Pháp tên là Climent, khi du lịch sang Châu Phi thấy người ở Hồ Zầm lớn Châu Phi khỏe mạnh sống lâu hơn chúng ta. Họ ăn cái gì ? Ăn rong biển, phơi khô làm bánh bao ăn, sau đó uống canh rong biển. Bác sĩ ấy đem về Paris thí nghiệm, thì ra là rong biển, rong xoắn ốc. Rong xoắn ốc này phát hiện năm 1962, phát hiện này làm xôn xao thế giới. Vì sao ? Một gram nó bằng 1000 gram tổng hợp tất cả các loại rau, dinh dưỡng đặc biệt phong phú, rất toàn diện, phân bổ dinh dưỡng rất cân bằng hơn nữa là thức ăn kiềm tính.

Ở Nhật Bản, mỗi năm họ tiêu thụ 500 tấn rong xoắn ốc, họ đi du lịch Trung Quốc người nào cũng mang theo. Chúng tôi hỏi họ, vì sao mang rong xoắn ? Họ bảo 8 gram rong xoắn là có thể duy trì sự sống 40 ngày. Ngoài ra nó rất quan trọng đối với một số bệnh như tim mạch, tăng huyết áp, tăng mỡ máu, tiểu đường...

Ưu điểm lớn nhất của rong xoắn là khiến cho bệnh nhân bị bệnh tiểu đường không bị biến chứng, có thể ăn uống như người bình thường. Bệnh nhân tiểu đường thiếu năng lượng, lại không được ăn đường, rong xoắn là đường khô, hấp thu đường khô vào là có năng lượng. Bệnh nhân tiểu đường, đường máu không ổn định, sau khi dùng rong xoắn có thể dần dần ngừng thuốc, sau đó dần dần có thể ngừng rong xoắn, cuối cùng khống chế bằng rong mềm. Đối với bệnh viêm dạ dày, loét dạ dày, rong xoắn có chất diệp lục có tác dụng khôi phục đối với niêm mạc dạ dày.

Rong xoắn còn có tác dụng phòng bức xạ. Khi trạm điện hạt nhân của Liên Xô bị nổ, chuyên gia Nhật Bản đi cứu người mang theo rong xoắn, tác dụng chống bức xạ của nó rất mạnh.

Tôi tổng kết một chút, bức xạ ảnh hưởng rất lớn đến chúng ta. Nhưng có mấy cách có thể dự phòng:

- Thứ nhất uống trà xanh ;
- Thứ hai là ăn rau xanh, cà-rốt ;
- Thứ ba là ăn rong xoắn ;
- Thứ tư là ăn tảo phục khang. Tảo phục khang là tốt nhất.

Bức xạ thì ai cũng có thể tiếp xúc. Quốc tế đã từng cảnh cáo: nhất thiết chớ để đồ điện trong phòng ngủ. Nhất là lò vi sóng, đối với chúng ta nguy hại lớn nhất, trong vòng 7 mét nó có thể bức xạ đến chúng ta. Và các đồ điện, không nên mở cùng một lúc. Vừa có tivi vừa có tủ lạnh, lại vừa có lò vi sóng, bạn làm thức ăn ngay bên cạnh, thì bạn mắc ung thư là không oan uổng gì.


2. VẬN ĐỘNG Ô-XY

Có một kinh nghiệm thành nguyên tắc, nhất thiết đừng luyện tập sáng sớm. Xin khuyến nghị các vị tập luyện vào chiều tối. Các nhà khoa học đã quy định, ăn xong 45 phút sau hãy vận động. Mà người già vận động đi bách bộ là được, chỉ cần đi 20 phút. Muốn giảm béo không dùng phương pháp này, nữa giờ đến một giờ trước bữa ăn, ăn 2-4 hạt rong xoắn, sau đó sẽ giảm được cảm giác muốn ăn mà lại không thiếu dinh dưỡng. Người Châu Âu giảm béo toàn dùng rong xoắn.

Thứ hai là thời gian ngủ dậy, quốc tế quy định là 6 giờ sáng để bạn kham khảo. Thời gian mở cửa sổ, quốc tế quy định là 9-11 giờ, buổi chiều là 2-4 giờ. Vì sao ? Vì sau 9 giờ, không khí ô nhiễm lắng xuống, chất ô nhiễm đã giảm bớt, không có hiện tượng phản lực. Các vị chú ý cho, sáng dậy mở cửa sổ, đừng có thở nhiều ở đó, vì chất gây ung thư, chất phản lực đều chạy hết vào trong phổi bạn, dễ bị ung thư phổi. Quốc tế đã cảnh cáo, 6-9 giờ sáng là lúc dễ gây ung thư nguy hiểm nhất.

Không thể nói chung chung rằng ngủ sớm dậy sớm là khoẻ. Cả đêm bạn đã hít đầy bụng khí cacbonic ở trong nhà, trong đường hô hấp đã có hơn 100 loại độc tố rồi, lại chạy vào rừng cây, buổi sáng trong rừng cây lại toàn là cacbonic.

Tập luyện buổi sáng, huyết áp cơ sở cao, thân nhiệt cơ sở cao, thượng thận tuyến tố cao gấp 4 lần buổi chiều tối, người có bệnh tim bẩm sinh rất dễ sinh chuyện.

Trong rừng cây, phải đợi khi mặc trời lên, ánh mặt trời có phản ứng với chất diệp lục mới có thể sản sinh ô-xy. Lúc trong rừng toàn khí cacbonic, rất dễ trúng độc, rất dễ mắc ung thư.

Trong sách Hoàng Đế nội cung có nói: "không có mặt trời thì không tập luyện". Tôi đề nghị các vị, mùa hè ngủ sớm dậy sớm, mùa đông không nên đi tập buổi sáng sớm mà đổi sang tập buổi tối. Cũng không phải là người như thế nào cũng đều ngủ sớm, dậy sớm khoẻ người cả, người cao tuổi đừng có bật dậy mạnh. Có người bật một cái là dậy, thoắt một cái là nhồi máu cơ tim chết luôn.

Quốc tế người ta nói, người ngoài 70 tuổi nên dậy thong thả, duỗi tay duỗi chân cử động vài cái, rồi xoa bóp tim một lúc, ngồi vài phút rồi hẵng đứng lên. Như vậy sẽ không làm sao cả. Cho nên tuổi tác khác nhau, thời tiết mùa vụ khác nhau thì phải đối xử khác nhau.

Dưới đây, xin nói về ngủ trưa. Quốc tế quy định rồi, ngủ trưa hay không ngủ trưa khỏi phải tranh luận. Trước kia, Nhật Bản không chủ trương nếu đêm hôm trước không ngủ tốt
thì nên ngủ trưa. Thời gian ngủ trưa nên là nữa giờ sau bữa ăn trưa, và tốt nhất nên ngủ một tiếng đồng hồ, ngủ lâu quá không có lợi cho sức khoẻ. Không nên đắp chăn dày.

Buổi tối đi ngủ vào lúc nào ? Xưa nay chúng tôi không đề xướng ngủ sớm dậy sớm. Khái niệm ngủ sớm dậy sớm cần làm rõ. Nếu 7h tối đi ngủ, 12h đêm dậy lục đục vớ vẩn thì không ích gì. Chúng tôi chủ trương 10-10h30 đi ngủ, vì ở hội nghị quốc tế người ta đã quy định, một giờ đến một giờ rưỡi sau đi vào giấc ngủ sâu là khoa học nhất, như thế thì 12h đêm đến 3h sáng , 3 tiếng ấy sét đánh cũng không nhúc nhích, không có làm gì hết, 3 tiếng đồng hồ ấy là giấc ngủ sâu. Nếu 3 tiếng ấy ngủ tốt thì hôm sau dậy tinh thần sẽ rất thoải mái. Nếu anh ngủ sau 4h, thì đó là giấc ngủ nông. Biết cách ngủ và không biết cách ngủ là rất khác nhau. Chúng tôi chủ trương từ 12h đến 3h sáng ngủ say như chết và trước khi đi ngủ tắm nước nóng 40-50 độ C, như vậy chất lượng giấc ngủ rất cao. Các bạn đánh bài tôi không phản đối, nhưng phản đối đánh bài từ 12h đến 3h sáng. Ở Thẩm Quyến có 4 thanh niên đánh bài mà chết, báo đã đưa tin.


3. TRẠNG THÁI TÂM LÝ

Nếu trạng thái tâm lý không tốt thì anh ăn uống tập luyện cũng vô ích. Tức giận thì dễ bị khối u, cả thế giới đều biết. Trường đại học Stan-pho đã làm một cuộc thí nghiệm nổi tiếng, lấy ống mũi đặt lên mũi cho anh thở, rồi sau đó lấy ống mũi đặt lên bãi tuyết 10 phút. Nếu băng tuyết không đổi màu thì chứng tỏ anh bình tĩnh, tự nhiên, nếu băng tuyết trắng lên chứng tỏ anh có điều hổ thẹn day dứt, nếu băng tuyết tím đi chứng tỏ anh tức giận. Rút lấy 1-2cc chỗ băng tuyết tím đó tiêm cho chuột con thì 1-2 phút sau chuột con sẽ chết.

Tôi khuyên các bạn, ai muốn trêu tức bạn thì bạn đừng có tức. Nếu bạn không nhịn được, bạn hăy xem đồng hồ, đừng để quá 5 phút, quá 5 phút là hổng chuyện, máu sẽ tím đi. Thí nghiệm này đã được giải Nobel.

Tâm lý học có thể đề xuất 5 phương pháp tránh tức giận:
- Một là tránh đi ;
- Hai là chuyển đi, người ta chửi thì anh cứ đánh cờ, câu cá, không nghe thấy ;
- Ba là thả ra, nhưng phải chú ý, người ta chửi anh, anh lại đi chửi người khác thì không hẳn gọi là thả ra, mà phải đi tìm bạn tri âm để nói chuyện, thả ra hết (giải tỏa) nếu không, cứ để bụng, thì sẽ sinh bệnh;
- Bốn là thăng hoa, tức là người ta càng nói, anh càng ra sức làm;
- Năm là khống chế, đây là phương pháp chủ yếu nhất, tức là mày chửi thế nào, ông cũng không sợ. Điều này rất quan trọng "Nhịn một lúc gió yên sống lặng, lùi một bước biển rộng trời cao". Nhẫn nại không phải là mục đích mà là sách lược. Nhưng người thường không làm nổi, mới nói một câu đã lồng lộn lên. tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu (Không nhịn được điều nhỏ thì sẽ rối loạn cả mưu chí lớn)

Châu Âu có một kinh điển bác học: cái lý khó giảng thì nên dừng, con người khó đối xử thì nên xử hậu, việc khó xử thì nên làm buông thả, công việc khó thành thì nên khôn khéo. Câu đầu tiên trong 4 câu ấy có nghĩa là: Lý lẽ khó thì khoan hãy nói. Triết lý rất sâu sắc, rất có ích. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, Gia Cát Lượng 3 lần chọc tức Chu Du, rốt cuộc đã khiến Chu Du tức giận mà chết. Tại Chu Du hay tại Gia Cát Lượng ? Kết luận là tại Chu Du, khí lượng ông ta hẹp hòi quá. Tức giận nguy hại rất lớn cho người ta.

Hiện nay có một lý thuyết mới, tất cả các động vật đều không có công năng cười, duy loài người có công năng đó. Nhưng loài người chưa biết sử dụng công năng đó. Xưa có
câu: một nụ cười trẻ ra 10 tuổi. Không phải chỉ tuổi tác mà chỉ tâm thái, miệng hay cười, người hay khoẻ. Tác dụng của cười rất lớn, cười tránh được rất nhiều bệnh.
Thứ nhất không bị thiên đầu thống,
Thứ hai không bị đau lưng, vì khi cười vi tuần hoàn phát triển. Thông tắc bất thống (thông thì không đau), bất thông tắc thống (không thông thì đau).
Lại nữa, thường xuyên cười đặc biệt tốt cho đường hô hấp và đường tiêu hóa.

Có thể làm thí nghiệm, anh cứ sờ vào bụng và bắt đầu cười, mỗi ngày cười to 3 lần bụng lọc sọc 3 lần thì không táo bón, không bị ung thư dạ dày, đường ruột. Anh tập tay, tập chân nhưng tập dạ dày đường ruột vào lúc nào ? Không có cơ hội, chỉ có cười mới tập được dạ dày đường ruột. Cười đã trở thành tiêu chuẩn của sức khoẻ. Tôi đã điều tra nhiều lần, giải Nobel thứ hai về cười đã được trao. Cười là thứ thuốc tê thiên nhiên. Nếu bạn bị viêm khớp, xin đừng lo cứ nhìn vào khớp mà cười ha há, một chốc là không đau nữa. Cười có nhiều ích lợi như thế, sao chúng ta lại không cười nhỉ.

Có người nói thế nào cũng chẳng cười. Cấp bậc càng cao càng không cười, chẳng những đã không cười, lại còn có một logic : Nam nhi hữu lệ bất khinh đàn (Đàn ông có nước mắt nhưng không dễ gì chảy). Nước mắt người thường thì mặn, nước mắt bệnh nhân tiểu đường thì ngọt, nước mắt đau buồn thì đắng, trong đó có peptide (pép-tít) có hóc môn. Nếu lâu ngày không chảy đi thì sẽ bị khối u, bị ung thư đấy. Dù có khỏi khối u thì cũng bị loét hoặc viêm kết tràng mãn tính. Cho nên, nếu các vị đau buồn thì phải chảy nước mắt ra, giữ lại không ích gì đâu.

Ở hội nghị quốc tế, người ta đã cảnh cáo chúng ta. Chúng ta hãy uống trà xanh, ăn đậu nành, ngủ cho tốt, năng vận động và đừng quên luôn luôn cười vui.

Mong rằng mỗi người đều chú ý đến cân bằng ẩm thực, vận động có ô-xy và chú ý trạng thái tâm lý của mình, lúc đáng khóc thì nên khóc, lúc đáng cười thì cười.

Tôi tin rằng chúng ta nhất định vượt qua được tuổi 73, qua tuổi 81, đến 90, 100 tuổi vẫn còn khoẻ mạnh.

(trích “Bí quyết sống lâu sống khỏe”, bài thuyết trình của giáo sư Tề Quốc Lục, giáo sư Phan Văn Các dịch)

=======================================================================

QUÀ TẶNG SỨC KHỎE

1. Sức khỏe đã được Tổ chức y tế thế giới của Liên Hiệp Quốc WHO định nghĩa như sau : “Sức khỏe là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất tinh thần và xã hội chứ không phải là một tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật”.

2. Bí quyết trường thọ phải thực hiện 6 chữ :
- Chấp nhận (số phận của mình)
- Thích nghi (với hoàn cảnh của mình)
- Điều chỉnh (để đạt được điều mình mong muốn)

3. Phòng chống bệnh tật bằng 5 Không:
-Không vui quá (bởi vui quá hại tâm)
-Không buồn quá (bởi buồn quá hại phổi)
-Không tức quá (bởi tức quá hại gan)
-Không sợ quá (bởi sợ quá hại thận)
-Không suy nghĩ quá (bởi suy nghĩ quá hại tỳ)

4. Thức ăn và nước uống mỗi ngày cần những thứ như sau:
- Một củ hành để chống ung thư
- Một quả cà chua để chống tăng huyết áp
- Một lát gừng để chống viêm nhiễm
- Một củ khoai tây để chống xơ vữa động mạch
- Một quả chuối làm phấn chấn tinh thần, giảm bớt lo âu, tránh táo bón, giảm béo
- Một quả trứng hay một ít thịt nạc để chống suy dinh dưỡng
- Một đến hai lít nước mỗi ngày

TRIẾT LÝ CUỘC SỐNG
1. Trung tâm: sức khỏe
2. Hai tí chút : một tí thoải mái, một tí hồ đồ
3. Ba quên: quên tuổi tác, quên bệnh tật, quên hận thù
4. Bốn có: có nhà ở, có bạn đời, có bạn tri âm, có sổ tiết kiệm
5. Năm phải: phải vận động, phải lịch sự hòa nhã, phải biết cười, phải biết nói chuyện hài hước, phải coi mình là người bình thường.

XUA TAN MỌI HOÀI NIỆM CAY ĐẮNG BẰNG THA THỨ VÀ LÃNG QUÊN. Với các đôi vợ chồng cao tuổi tránh sự tranh luận giành thắng thua giữa 2 người.
Read more…

Video

Back to top Go bottom