Review Octoin – Đầu tư trên nền tảng Trading, Mining, P2P và phát triển đồng coin OCC

22:41 |
Octoin là một công ty quốc tế được thành lập vào đầu năm 2016 được thành lập bởi
các nhà kinh doanh lớn đến từ Anh và Singapore, và những người tạo ra những mỏ
khai thác lớn nhất từ các tỉnh Tây Bắc của Trung Quốc. Năm 2017, các chuyên gia
hàng đầu và nhà đầu tư lớn từ một số nước đã gia nhập đội ngũ của Octoin bao gồm:
Anh, Đức, Ba Lan, Pháp, Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ. Việc trao
đổi kinh nghiệm và kiến thức, làm việc trên kết quả tổng thể cho phép có những vị trí
hàng đầu trong thị trường của Cryptocurrency.
Giới thiệu Octoin
Octoin với thiết kế rất chuyên nghiệp có nhiều hình thức để các nhà đầu tư lựa chọn
như Trading, Mining, OCC Coin và trao đổi P2P. Đây là một trong những dự án đầu tư
tiềm năng nhất cuối năm nay mà blogkiemtien muốn giới thiệu cho các nhà đầu tư.
Đặc điểm của Octoin: 
– Ngày chạy : 02/11/2017
– Đầu tư tối thiểu : 10 USD.
– Số tiền rút tối thiểu 1 USD
– Hoàn vốn đầu tư : Có, cuối chu kỳ gói lãi
– Thanh toán Manual. Thời gian xử lí từ 0- 72 giờ
– Phí rút tiền : 1%
– Chấp nhận cổng thanh toán : PM, Advcash, BTC, LTC, ZEC, ETH, Dash, Bitconnect,

Thông tin kiểm chứng về Octoin
Có thể thấy Octoin public thông tin doanh nghiệp, trùng khớp với giấy phép đăng kí
kinh doanh và địa chỉ văn phòng tại 90 Long Acre, London

Các hình thức đầu tư trên Octoin
1. Đầu tư trên nền tảng Trading
Mức lợi nhuận Octoin chi trả cho nhà đầu tư sẽ không cố định, hiện tại đang lãi đang
dao động trong khoảng 25% – 32% mỗi tháng, tùy vào thời hạn đầu tư mà bạn sẽ
nhận mức lợi nhuận khác nhau :
+ Chu kì 30 ngày : Không có thưởng. Hoàn gốc cuối chu kì
+ Chu kì 60 ngày : Thưởng thêm 5% lợi nhuận. Hoàn gốc cuối chu kì
+ Chu kì 90 ngày : Thưởng thêm 10% lợi nhuận. Hoàn gốc cuối chu kì
+ Chu kì 120 ngày : Thưởng thêm 12.5% lợi nhuận. Hoàn gốc cuối chu kì
+ Chu kì 150 ngày : Thưởng thêm 15% lợi nhuận. Hoàn gốc cuối chu kì
2. Tham gia khai thác cùng Octoin
Hiện tại giá hashrate mà Octoin bán là 10 MH/s = 9.65 USD. Tuy nhiên nếu bạn mua
bằng OCC, giá sẽ được giảm 3%. Tương tự, với các gói đào càng dài hạn bạn sẽ được
giảm giá thành càng lớn.
Cụ thể :
Gói mining 30 ngày. Không giảm giá
Gói mining 60 ngày. Giảm giá 3%
Site đầu tư lãi được xem như Bitconnect 2.0
Chi tiết

29/11/2017 Review Octoin – Đầu tư trên nền tảng Trading, Mining, P2P và phát triển đồng coin OCC Đầu tư bitcoin online | Review ICO in Vietnam | HYIP…
https://blogkiemtien.top/review-octoin-dau-tu-tren-nen-tang-trading-mining-p2p-va-phat-trien-dong-coin-occ/ 6/15
Review Octoin – Đầu tư
trên nền tảng Trading,
Mining, P2P và phát triển
đồng coin OCC
Review Bitrise – Lãi
0.42% mỗi giờ (10% mỗi
ngày) mãi mãi, thanh toán
tức thì
Review Bitcoin Crypto
Trade – Lãi từ 5% đến 7%
cho 30 ngày, đầu tư qua
nhiều altcoin
Review Etalon Trade
LTD – Lãi từ 145% sau 1
ngày, đầu tư tối thiểu 10$
Review BitSiren – Lãi
trung bình từ 2% mỗi ngày,
thanh toán tức thì
Review BTCBOX – Lãi
0.18% mỗi giờ (4.32% mỗi
ngày), đầu tư tối thiểu
0.005BTC, thanh toán tức
thì
Review Therealty Coin –
Mua bán bất động sản
toàn cầu trên nền tảng
blockchain
Review DueCoin – Cung
cấp cơ hội cho thương mại
và giá trị tăng trưởng trên
toàn cầu
Review Module Trade
ICO – Thương mại hóa
toàn cầu giá rẻ và hiệu quả
cho doanh nghiệp nhỏ với
công nghệ blockchain
[SCAM]Review Rise
Finance – Plan lãi ngắn
ngày, đầu tư tối thiểu 20$
Giai đoạn tiền ICO,
CyberMiles huy động được
hàng triệu Euro từ các nhà
đầu tư tài chính
BitcoinCash giữ mức ổn
định trước sự kiện
Segwit2x sắp diễn ra
MUA BÁN BITCOIN NHANH
CHÓNG
Gói mining 90 ngày. Giảm giá 5%
Gói mining 200 ngày. Giảm giá 9%
Lưu ý : Hiện tại Octoin chỉ khai thác 2 đồng là ZEC và ETH, nên khi chi trả lợi nhuận
hàng ngày sẽ trả bằng ZEC hoặc ETH
3. Hướng dẫn đăng kí tài khoản Octoin
Bước 1 : Truy cập vào website : https://octoin.com/
Bước 2 : Nhập thông tin cá nhân sau đó bấm Registration
Lưu ý : Chương trình đầu tư của Octoin không dành cho công dân là người Mỹ và
Canada. Sau khi đăng ký xong bạn nhấn “Conrm”
Sau khi hoàn thành đăng kí bạn vào email lấy link kích hoạt tài khoản
4. Hướng dẫn cài đặt ví thanh toán tại Octoin
+ Nhấn vào tên của bạn bên trái màn hình
+ Dán địa chỉ ví thanh toán
+ Nhấn “Save” để hoàn thành
5. Hướng dẫn nạp tiền vào tài khoản Octoin
+ Nhấp vào biểu tượng Ví
+ Nhấp vào hình mũi tên tại cổng mà bạn muốn nạp tiền
+ Nhấn “Replenish”
Site đầu tư lãi được xem như Bitconnect 2.0
Chi tiết

29/11/2017 Review Octoin – Đầu tư trên nền tảng Trading, Mining, P2P và phát triển đồng coin OCC Đầu tư bitcoin online | Review ICO in Vietnam | HYIP…
https://blogkiemtien.top/review-octoin-dau-tu-tren-nen-tang-trading-mining-p2p-va-phat-trien-dong-coin-occ/ 7/15
THỐNG KÊ TRUY CẬP
Người dùng trực tuyến:
11
Todays Visits: 6,001
Yesterdays Visitors:
3,552
Total Visits: 3,156,007
Total Visitors: 295,296
Tổng số bài viết: 169
CẬP NHẬT SITE SCAM
Followers 30813
5.82%
USD 10,436.5
6.34%
EUR 8,720.62
6.83%
CNY 72,616.7
4.85%
GBP 7,746.81
USD EUR CNY GBP
TỶ GIÁ TIỀN ĐIỆN TỬ
BTC
+ Gửi số bitcoin đúng địa chỉ ví yêu cầu
6. Hướng dẫn mua Octoin đầu tư
Hiện tại Octoin có rất nhiều chương trình ưu đãi cho NĐT tham gia khi sử dụng OCC
coin như mình đã nói ở trên vì vậy mình sẽ hướng dẫn mua cách mua trực tiếp OCC
coin từ hệ thống. Thời gian tới khi cộng đồng Octoin lớn mạnh, bạn có thể mua từ
những NĐT tham gia để có được mức giá hợp lí
+ Chọn “P2P Exchange”
+ Nhấn mục “Buy” như trên hình
+ Nhập số lượng OCC cần mua
+ Chọn cổng thanh toán
+ Nhấn “Buy”
+ Sau khi xem lại hóa đơn thanh toán, bạn nhập mật khẩu và nhấn “Conrm”
để hòan
thành mua OCC coin
Site đầu tư lãi được xem như Bitconnect 2.0
Chi tiết

29/11/2017 Review Octoin – Đầu tư trên nền tảng Trading, Mining, P2P và phát triển đồng coin OCC Đầu tư bitcoin online | Review ICO in Vietnam | HYIP…
https://blogkiemtien.top/review-octoin-dau-tu-tren-nen-tang-trading-mining-p2p-va-phat-trien-dong-coin-occ/ 8/15
BTC $ 10,436.5 (5.82%)
ETH $ 465.92 (-1.9%)
XMR $ 186.93 (3.19%)
LTC $ 95.79 (3.89%)
DASH $ 631.73 (2.06%)
Followers 30813
Last updated: Just now
USD Vol: $ 1,230.61 M
Mkt Cap: $ 174.56 B All Vol: $ 6,416.89 M
* Price & chart conversion through BTC
BTC
$
10,447.6 (5.94%)
POPULAR ONLINE WALLET
PAYMENT
BLOG KIẾM TIỀN FANPAGE
W
or
PAYMENT INFO (ONLY AS
BELOW)
Bitcoin Wallet :
1Kgz3CfuchcyHdGUwzFC
Nztn7GNTpxQhzU
Perfect Money :
U13923908
Hướng dẫn đầu tư trên nền tảng Trading và Mining của
Octoin
1. Hướng dẫn đầu tư trên nền tảng Trading
+ Chọn “Trading”
+ Chọn cổng thanh toán
+ Nhập số tiền cần đầu tư
+ Nhấn “Invest”
+ Nhấn tiếp “Invest”.
Trong quá trình bạn đầu tư, bạn có thể thêm bất kì số tiền đầu tư nào vào gói đầu tư
bạn đã kích hoạt trước đó bằng cách :
+ Nhấn “Add
+ Chọn số tiền cần thêm tối thiểu 10 OCC và nhấn “Add” để hoàn thành
Lưu ý : Tại Octoin có mục bảo hiểm tỉ giá và cho phép rút vốn trước kì hạn khi đầu tư.
Site đầu tư lãi được xem như Bitconnect 2.0
Chi tiết

29/11/2017 Review Octoin – Đầu tư trên nền tảng Trading, Mining, P2P và phát triển đồng coin OCC Đầu tư bitcoin online | Review ICO in Vietnam | HYIP…
https://blogkiemtien.top/review-octoin-dau-tu-tren-nen-tang-trading-mining-p2p-va-phat-trien-dong-coin-occ/ 9/15
ADVERTISING PROGRAM
CONTACT
Email:
kaoyuekuo201601@gmail.
com
Skype: kaviku.info
Telegram: @caoquoc
Facebook:
https://www.facebook.com
/blogkiemtien.top
Chương trình cụ thể như sau :
+ Rate insurance (Bảo hiểm tỉ giá) : Quyền lợi của chương trình này bạn sẽ được bảo
hiểm tỉ giá nhưng nếu bạn tích vào chương trình này bạn sẽ bị trừ 30% trên tổng số
lợi nhuận mà bạn nhận được. Ví dụ tổng lợi nhuận bạn nhận là 50%, bạn sẽ bị trừ 30%
trong tổng số 50% lợi nhuận tương ứng là 15% và bạn chỉ còn nhận được 35% mà
thôi.
+ Early closure of the portfolio (Rút vốn trước kì hạn) : Quyền lợi của chương trình này
bạn sẽ được thu hồi gốc trước kì hạn đầu tư nhưng nếu bạn tích vào chương trình
này bạn sẽ bị trừ 30% trên tổng số lợi nhuận mà bạn nhận được.
Tùy vào tính toán lợi nhuận của bạn hãy cân nhắc trước khi tham gia chương trình
này.
2. Hướng dẫn Mining tại Octoin
+ Chọn “Mining”
+ Chọn cổng thanh toán
+ Nhập số lượng cần mua
+ Nhấn “Start mining”
Hướng dẫn bán OCC coin và rút tiền tại Octoin
1. Hướng dẫn bán OCC coin
+ Chọn “P2P Exchange”
+ Nhấn “Sell”
Site đầu tư lãi được xem như Bitconnect 2.0
Chi tiết

29/11/2017 Review Octoin – Đầu tư trên nền tảng Trading, Mining, P2P và phát triển đồng coin OCC Đầu tư bitcoin online | Review ICO in Vietnam | HYIP…
https://blogkiemtien.top/review-octoin-dau-tu-tren-nen-tang-trading-mining-p2p-va-phat-trien-dong-coin-occ/ 10/15
+ Nhập số lượng OCC coin cần bán
+ Chọn cổng bạn muốn trao đổi
+ Nhấn “Sell”
+ Nhập mật khẩu và nhấn “Conrm”
để hoàn thành
2. Hướng dẫn rút tiền tại Octoin
+ Chọn biểu tượng ví
+ Nhấp vào mũi tên tại cổng thanh toán bạn muốn rút tiền
+ Nhấn “Withdraw”
Site đầu tư lãi được xem như Bitconnect 2.0
Chi tiết

29/11/2017 Review Octoin – Đầu tư trên nền tảng Trading, Mining, P2P và phát triển đồng coin OCC Đầu tư bitcoin online | Review ICO in Vietnam | HYIP…
https://blogkiemtien.top/review-octoin-dau-tu-tren-nen-tang-trading-mining-p2p-va-phat-trien-dong-coin-occ/ 11/15
+ Nhập số lượng tiền cần rút
+ Nhấn “Withdraw
+ Nhập mật khẩu và nhấn “Conrm”
để hoàn thành
Site đầu tư lãi được xem như Bitconnect 2.0
Chi tiết

29/11/2017 Review Octoin – Đầu tư trên nền tảng Trading, Mining, P2P và phát triển đồng coin OCC Đầu tư bitcoin online | Review ICO in Vietnam | HYIP…
https://blogkiemtien.top/review-octoin-dau-tu-tren-nen-tang-trading-mining-p2p-va-phat-trien-dong-coin-occ/ 12/15
Yêu cầu rút tiền sẽ được xử lí trong vòng 0- 72 giờ
Hoa hồng hệ thống và thưởng doanh số tại Octoin
Tại Octoin được phân làm 7 cấp bậc, tương ứng với mỗi cấp bậc sẽ được hưởng hoa
hồng và thưởng doanh số khác nhau tại nền tảng Trading và Mining.
1. Nhà đầu tư tham gia nền tảng Trading
+ Cấp User :
Khi đăng kí tham gia sẽ được kích hoạt
Hoa hồng hệ thống 3 cấp : 3% – 2% – 1%
Matching bonus (Thu nhập từ lợi nhuận đầu tư của tuyến dưới) 7 cấp : 5% – 3% – 1%
– 0.5% – 0.3% – 0.1% – 0.1%
+ Cấp Assistant :
Đầu tư cá nhân 100 USD, đội nhóm có 10 người dùng kích hoạt tài khoản với tổng
doanh số từ 300 USD
Thưởng một lần : 3 OCC
Hoa hồng hệ thống 4 cấp : 3% – 2% – 1% – 0.5%
Matching bonus 7 cấp : 5% – 3% – 1% – 1% – 0.5% – 0.3% – 0.1%
+ Cấp Supervisor :
Đầu tư cá nhân 300 USD, đội nhóm có 30 người dùng kích hoạt tài khoản với tổng
doanh số từ 5,000 USD
Thưởng một lần : 30 OCC
Hoa hồng hệ thống 5 cấp : 5% – 2% – 1% – 1% – 0.5%
Matching bonus 7 cấp : 7% – 3% – 1% – 1% – 0.5% – 0.5% – 0.3%
+ Cấp Manager :
Đầu tư cá nhân 1,000 USD, đội nhóm có 100 người dùng kích hoạt tài khoản với tổng
doanh số từ 10,000 USD
Thưởng một lần : 300 OCC
Hoa hồng hệ thống 6 cấp : 5% – 3% – 1% – 1% – 0.5% – 0.5%
Matching bonus 7 cấp : 7% – 3% – 1% – 1% – 0.5% – 0.5% – 0.3%
+ Cấp Leader :
Đầu tư cá nhân 3,000 USD, đội nhóm có 1,000 người dùng kích hoạt tài khoản với
tổng doanh số từ 100,000 USD
Thưởng một lần : 3,000 OCC
Hoa hồng hệ thống 7 cấp : 7% – 3% – 1% – 1% – 1% – 0.5% – 0.5%
Matching bonus 7 cấp : 7% – 5% – 3% – 1% – 1% – 1% – 0.5%
+ Cấp Director :
Đầu tư cá nhân 10,000 USD, đội nhóm có 3,000 người dùng kích hoạt tài khoản với
tổng doanh số từ 1,000,000 USD
Thưởng một lần : 30,000 OCC
Hoa hồng hệ thống 7 cấp : 7% – 5% – 3% – 1% – 1% – 1% – 0.5%
Matching bonus 7 cấp : 10% – 7% – 5% – 1% – 1% – 1% – 0.5%
+ Cấp Partner :
Đầu tư cá nhân 50,000 USD, đội nhóm có 5,000 người dùng kích hoạt tài khoản với
tổng doanh số từ 10,000,000 USD
Thưởng một lần : 300,000 OCC
Site đầu tư lãi được xem như Bitconnect 2.0
Chi tiết

29/11/2017 Review Octoin – Đầu tư trên nền tảng Trading, Mining, P2P và phát triển đồng coin OCC Đầu tư bitcoin online | Review ICO in Vietnam | HYIP…
https://blogkiemtien.top/review-octoin-dau-tu-tren-nen-tang-trading-mining-p2p-va-phat-trien-dong-coin-occ/ 13/15
Hoa hồng hệ thống 7 cấp : 10% – 5% – 3% – 1% – 1% – 1% – 1%
Matching bonus 7 cấp : 15% – 10% – 5% – 3% – 1% – 1% – 1%
2. Nhà đầu tư tham gia Mining tại Octoin
Quyền lợi và điều kiện lên cấp mình đã nói ở mục trên, tại mục này mình chỉ cập nhật
khoản hoa hồng hệ thống và matching bonus mà đối tác được hưởng khi nhà đầu tư
tham gia Mining tại Octoin.
+ Cấp User :
Hoa hồng hệ thống 3 cấp : 3% – 1% – 1%
Matching bonus (Thu nhập từ lợi nhuận đầu tư của tuyến dưới) 7 cấp : 3% – 2% – 1%
– 0.5% – 0.3% – 0.1% – 0.1%
+ Cấp Assistant :
Hoa hồng hệ thống 4 cấp : 3% – 1% – 1% – 0.5%
Matching bonus 7 cấp : 5% – 2% – 1% – 0.5% – 0.3% – 0.1% – 0.1%
+ Cấp Supervisor :
Hoa hồng hệ thống 5 cấp : 3% – 2% – 1% – 0.5% – 0.5%
Matching bonus 7 cấp : 7% – 3% – 1% – 0.5% – 0.5% – 0.5% – 0.5%
+ Cấp Manager :
Hoa hồng hệ thống 6 cấp : 5% – 3% – 1% – 0.5% – 0.5% – 0.5%
Matching bonus 7 cấp : 7% – 5% – 1% – 1% – 1% – 0.5% – 0.5%
+ Cấp Leader :
Hoa hồng hệ thống 7 cấp : 7% – 3% – 1% – 1% – 0.5% – 0.5% – 0.5%
Matching bonus 7 cấp : 7% – 5% – 3% – 1% – 1% – 1% – 0.5%
+ Cấp Director :
Hoa hồng hệ thống 7 cấp : 7% – 5% – 3% – 1% – 1% – 0.5% – 0.5%
Matching bonus 7 cấp : 10% – 7% – 5% – 1% – 1% – 1% – 0.5%
+ Cấp Partner :
Hoa hồng hệ thống 7 cấp : 10% – 5% – 3% – 1% – 1% – 1% – 0.5%
Matching bonus 7 cấp : 15% – 10% – 5% – 3% – 1% – 1% – 1%
Nếu bạn đầu tư bằng Bitcoin or Altcoin bạn phải chờ xác nhận từ hệ thống từ 15
phút- 2h đồng hồ tiền gửi của bạn sẽ được kích hoạt vào tài khoản của bạn. Nếu bạn
đầu tư qua cổng Dollars như PM, Payeer chẳng hạn thì bạn sẽ được đưa đến trang
chủ của cổng thanh toán đó và tiền sẽ vào site ngay lập tức sau khi bạn thực hiện
lệnh chuyển tiền.
(https://blogkiemtien.top/review-octoin-dau-tu-tren-nen-tang-trading-mining-p2p-va-phat-trien-dong-coin-occ/)
Read more…

Calsea Bone - Giải pháp tối ưu dành cho hỗ trợ điều trị Loãng xương

17:47 |
Loãng xương làm cho xương yếu dần đi, xốp và dễ gãy dù chỉ do một tác động nhẹ.
Biến chứng của loãng xương được đánh giá nguy hiểm không kém nhồi máu cơ tim và đột quỵ với khả năng gây tử vong và thương tật vĩnh viễn cao.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, loãng xương là nguyên nhân đứng thứ hai của các triệu chứng bệnh tật chỉ sau bệnh tim mạch. Ở châu Á, có khoảng 20% phụ nữ sống chung với bệnh loãng xương và 53% có mật độ xương thấp.

Biểu hiện của loãng xương

Loãng xương được ví như một “kẻ cắp vặt” giấu mặt, mỗi ngày âm thầm lấy đi một chút chất khoáng quý báu của xương. Do không có triệu chứng rõ rệt, loãng xương rất khó để nhận biết.

Những dấu hiệu của bệnh thường là biểu hiện các biến chứng của loãng xương. Trong đó, thường gặp nhất là:

- Đau nhức xương: Đau tại các đầu xương hay dọc theo các xương dài, đau tăng về đêm.

- Đau cột sống lưng: Đau thắt lưng hoặc lan sang một hay hai bên mạn sườn. Đau cột sống, có thể kèm theo co cứng các cơ dọc cột sống, giật cơ khi đổi tư thế.

- Rối loạn tư thế cột sống, chuột rút: Các đốt sống bị lún, xẹp dẫn đến gù lưng, cong vẹo cột sống, giảm chiều cao. Cơ thể gặp cảm giác ớn lạnh, bị chuột rút hay ra mồ hôi.

Điều cần đặc biệt chú ý là loãng xương diễn ra trong thầm lặng nên khi nhận thấy những dấu hiệu trên thì mật độ xương bị mất có thể đã lên tới 30%.

Biến chứng loãng xương nguy hiểm thế nào?

Hậu quả cuối cùng của bệnh loãng xương là gãy xương dù chỉ với những va chạm nhẹ, thậm chí chỉ vì một cơn hắt hơi. Gãy xương thường gặp ở các vị trí chịu lực của cơ thể như cột sống, cổ xương đùi, xương cổ tay. Do đây là các vị trí quan trọng và nguy hiểm nên khó phục hồi, khả năng tử vong và tàn tật suốt đời rất lớn.

Thống kê ở các nước phát triển, có đến 20% người có tuổi bị gãy cổ xương đùi sẽ tử vong trong vòng 6 tháng đầu. Khoảng 30% bệnh nhân là có thể hòa nhập lại với cuộc sống bình thường nhưng vẫn chỉ ở một mức độ nào đó và lúc nào cũng phải đối mặt với nguy cơ tái gãy xương.

Phòng ngừa bệnh

Điều trị loãng xương thường phức tạp, kéo dài và rất tốn kém. Ngược lại, phòng ngừa bệnh thì đơn giản hơn và ai cũng có thể thực hiện. Cung cấp đầy đủ canxi và khoáng chất cần thiết cho cơ thể là điều tiên quyết.

Ngoài các thực phẩm giàu canxi như hải sản, rau bó xôi, mè (vừng), sữa,… bạn cũng có thể uống bổ sung canxi cho xương chắc khỏe. Tuy nhiên, phần lớn canxi trên làm từ đá vôi nên sử dụng lâu dài dễ gây lắng đọng canxi trên các mảng xơ vữa động mạch, làm tắc nghẽn mạch máu.

Vì vậy, hãy lựa chọn các sản phẩm canxi có nguồn gốc từ thiên nhiên sẽ hiệu quả và an toàn hơn. Song song đó, bạn cũng cần tránh thuốc lá, bia rượu và tăng cường thể dục thể thao để củng cố và phát triển khung xương.

Phòng loãng xươngvới canxi thiên nhiên

Thực phẩm chức năng Calsea Bone được sản xuất nhượng quyền từ hãng Algaecal – Canada.


Calsea Bone là thực phẩm bổ sung canxi thiên nhiên đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam được sản xuất nhượng quyền từ hãng Algaecal – Canada. Sản phẩm đã được chứng nhận bởi các tổ chức uy tín trên thế giới như USDA (Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ, IFOAM (Liên đoàn Quốc tế các phong trào canh tác nông nghiệp hữu cơ). Đặc biệt là FDA (Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm của Hoa Kỳ).

Sau thời gian dài nghiên cứu, các chuyên gia đã tìm ra loại tảo độc đáo ở bờ biển hoang sơ tại Nam Mỹ, có tên Calcareas (nhiều ưu điểm hơn calcium từ đá trên thị trường (calcium carbonate, calcium citrate) vì calcium có nguồn gốc thực vật để cho ra đời sản phẩm canxi thiên nhiên - Calsea Bone với nhiều ưu điểm vượt trội trong việc phòng ngừa bệnh loãng xương. Được mệnh danh là “Báu vật của Đại dương”, tảo biển hấp thu trọn vẹn tinh túy từ nước biển, mang trong mình những nguyên tố vi lượng và nguồn khoáng chất bất tận, đem lại hiệu quả trong việc thúc đẩy hoạt động tế bào, không những hoàn toàn làm ngừng mất xương mà còn làm tăng mật độ khoáng chất của xương.

Trong Calsea Bone còn cung cấp những muối khoáng thiên nhiên như Mg, silica, boron, vanadium, strontium … có liên quan đến sức khỏe của xương (bone health).

- Không những hoàn toàn làm ngừng mất xương mà còn làm tăng mật độ chất khoáng của xương chi trong 180 ngày (Calci đá thông thường chỉ làm giảm mất xương chứ không làm ngừng hoàn toàn mất xương).

- Tăng tế bào tạo xương lên 400 %

- CALSEA BONE thiên nhiên chứa một lượng lớn Ca và Mg cùng 73 vết khoáng làm xương răng chắc chắn (các thuốc Calci D trên thị trường không có các vết khoáng).

- Ngoài vết khoáng, CALSEA BONE còn có vit K2, D3 và Boron làm cho nó thành một phức hợp hỗ trợ xương hoàn hảo.

- 97 % lượng calcium trong Calsea Bone có thể được hấp thu sau 30 phút (Calci đá thông thường không được hấp thụ tối đa nên đọng ở động mạch, tạo thành mảng sơ vữa động mạch gây nhồi máu cơ tim).

- Không gây lắng động calcium ở động mạch nên không gây nhồi máu cơ tim như các calcium đá

- An toàn, dễ nuốt, không gây táo bón.

Sau đây là một số thông tin chi tiết của sản phẩm

Thành phần cấu tạo

· Mỗi viên nang chứa:
· Calci (từ AlgaeCal®) : 250 mg
· Magnesi (từ AlgaeCal®) : 20 mg
· Vitamin D3 : 200 IU
· Vitamin C (Calci ascorbat) : 12,5 mg
· Vitamin K2 (Menaquinon-7) : 10 mcg

Công dụng

- Bổ sung vitamin, calci, magnesi và các khoáng chất vi lượng nguồn gốc tự nhiên.
- Giúp bồi bổ cơ thể, nâng cao sức đề kháng.
- Giúp xương, răng chắc khỏe.
- Cải thiện mật độ calci của xương, giảm nguy cơ và hỗ trợ điều trị loãng xương ở người lớn.

Cách dùng

Người lớn: Uống mỗi lần 1 viên, ngày 3 lần sau các bữa ăn.
Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
Giá sản phẩm: 350.000 đ/chai.
Quy cách: Mỗi chai 90 viên nang. (1 chai sử dụng trong vòng 1 tháng)

Công ty Cổ phần Dược phẩm Glomed
Địa chỉ: 35 Đại lộ Tự Do, KCN VSIP 1, TX Thuận An, Bình Dương
Để biết thêm thông tin, vui lòng liên hệ 1900 5555 04
Số GPQC: 1465/2014/XNQC-ATTP.

Đặc biệt, Calsea Bone có vitamin K2 giúp đưa canxi gắn vào xương, tránh hiện tượng lắng đọng canxi trên các động mạch làm tắc nghẽn mạch máu và có tác dụng hỗ trợ ức chế sự sản sinh tế bào hủy xương. Vitamin K2 còn là chất chống oxy hóa mạnh, giúp giảm cholesterol nên hạn chế nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ.

Ngoài ra, Calsea Bone được bổ sung vitamin D3 giúp canxi hấp thu từ đường tiêu hóa vào máu và vitamin C làm tăng hoạt động của tế bào tạo xương. Với công thức ưu việt đó, Calsea Bone không những giúp làm ngừng mất xương mà còn làm tăng mật độ chất khoáng của xương, an toàn, không gây táo bón.
Read more…

Trà Dây - chữa đau dạ dày hiệu quả

00:00 |
Trà Dây là một loại cây leo, sinh trưởng tự nhiên trên các triền núi, ở huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang. Trà dây còn được gọi là Thau rả (theo dân tộc Tày) hay Khau rả (theo dân tộc Nùng), hồng huyết long, điền bổ trà. Có tên khoa học là Ampelopsis Cantoniensis Planch, thuộc họ Nho (Vintaceae).

Dân gian thường hái toàn thân cả lá vào lúc cây chưa có hoa quả, đem rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sao qua rồi hãm với nước sôi như pha trà uống thay nước hàng ngày. Nước chè dây có mùi thơm, vị ngọt, uống khá dễ chịu. Được đồng bào dân tộc miền núi sử dụng như một vị thuốc dân gian chữa các bệnh liên quan tới dạ dày như ợ hơi, ợ chua, đau rát thượng vị…

Theo kinh nghiệm dân gian chè dây có giá trị về mặt dược liệu rất quý: giúp tiêu hóa tốt, có tác dụng an thần, chữa mất ngủ, những người bị bệnh đau dạ dày, uống một thời gian dài thấy bệnh đỡ dần và hết đau.
Theo y học cổ truyền, chè dây vị ngọt tính mát, có công dụng thanh thử nhiệt, tiêu viêm, giải độc, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như vị thống, mụn nhọt, nhũ ung, tê thấp...

Cách đây gần hai chục năm, chè dây đã được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và phát hiện ra những tác dụng tích cực trong việc điều trị viêm loét dạ dày, hành tá tràng.

Theo nghiên cứu của tiến sĩ Vũ Nam, trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Y học cổ truyền Việt Nam, bệnh nhân đau thượng vị điều trị bằng chè dây có thời gian cắt cơn đau nhanh. Trung bình, chỉ sau 8-9 ngày, hơn 90% bệnh nhân hết đau, thèm ăn và có cảm giác ngon miệng, người dễ chịu, ngủ ngon hơn. Các bệnh nhân nghiên cứu được nội soi trước và sau điều trị, kết quả sau khi dùng chè dây cho thấy, có tới gần 80% bệnh nhân liền sẹo. Như vậy, chè dây có tác dụng làm liền sẹo ổ loét dạ dày rất cao.

Cũng theo kết quả nghiên cứu của tiến sĩ Vũ Nam, một tác dụng nữa của chè dây với bệnh nhân viêm loét dạ dày – hành tá tràng là làm sạch Helicobarter Pylori, đây là loại xoắn khuẩn, sống trên lớp nhày niêm mạc dạ dày và gây ra bệnh này. Bên cạnh đó, do hàm lượng lớn flavonoid trong chè dây có tác dụng chống viêm nên chè dây còn có tác dụng giảm viêm niêm mạc dạ dày. Mức độ viêm dạ dày của bệnh nhân trước và sau điều trị bằng chè dây giảm xuống rõ rệt, đa số hết viêm hoặc chỉ còn viêm dạ dày mức độ nhẹ. Tác dụng giảm viêm dạ dày của chè dây không có ở một số các loại tân dược khác.

Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ rõ: sử dụng chè dây trong điều trị viêm loét dạ dày – hành tá tràng cũng không gây tác dụng phụ, không gây ngộ độc cấp tính, đặc biệt không gây ảnh hưởng tới sự sinh sản và di truyền cũng như các chỉ tiêu hóa sinh và huyết học khi dùng chè trong thời gian dài.

Kết quả phân tích thành phần của Chè Dây cho thấy, đó là một loại dược liệu giàu chất Flavonoid và tanin; chứa 2 loại đường Glucase và Rhamnese.

Kết quả nghiên cứu chè Dây chữa viêm loét dạ dày của Viện dược liệu ( Bộ Y tế) với các kết luận như sau: Chè Dây có tác dụng diệt vi trùng, vi khuẩn, giảm độ axit tại dạ dày, giúp cho bệnh loét dạ dày dễ liền sẹo; cắt cơn đau do viêm loét hành tá tràng đạt 93,4%, với Alusi (loại thuốc chuyên trị bệnh viêm loét hành tá tràng hiện nay) là 89%, thời gian cắt cơn đau trung bình của chè Dây từ 8 đến 9 ngày, và Alusi là 17 ngày; Chè Dây cho kết quả khỏi bệnh hoàn toàn đối với bệnh nhân viêm loét dạ dày hành tá tràng là 43,18%, với Alusi là 9,44%, khỏi bệnh ở mức độ liền sẹo là của chè Dây là 36,36% ,với Alusi 30,56%.

Nghiên cứu hiện đại của các nhà khoa học Trung Quốc trên lâm sàng cho thấy, chè dây có khả năng trị liệu các bệnh như cốt tuỷ viêm, viêm hạch cấp tính, viêm tuyến vú cấp tính, nhiễm khuẩn ngoại khoa, viêm họng và Amiđan cấp tính, viêm mủ tai giữa, viêm khí phế quản cấp tính, viêm thận cấp tính, thấp khớp giai đoạn tiến triển, viêm cơ, viêm răng lợi, mụn nhọt, đinh độc, eczema, nhiễm trùng vết thương.

Hiện nay Chè Dây được nhiều người biết đến như vị thuốc chữa viêm loét dạ dày, hành tá tràng hiệu quả mà không mấy tốn kém.
Các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu nhân giống, trồng chè dây để phục vụ cho việc sản xuất dược phẩm cũng như bảo tồn vị thuốc quý vốn là loài cây mọc hoang này. Chè dây có thể sản xuất thành dạng viên nang, hoặc sử dụng ở dạng khô nấu như nấu nước chè mạn để dùng.

Trên cơ sở thừa kế kinh nghiệm của đồng bào dân tộc, các nhà khoa học nước ta đã đi sâu khảo sát, nghiên cứu đầy đủ về chè dây trong điều kiện bệnh lý viêm loét dạ dày-hành tá tràng, với sản phẩm viên nang Ampelop. Loại thuốc này về thành phần chủ yếu là cao chè dây (80% flavonoid) có tác dụng tiệt trừ xoắn khuẩn Helicobacter pylori (tác nhân chính gây bệnh viêm loét dạ dày-hành tá tràng), giảm tiết axit dịch vị, chống viêm giảm đau và làm liền sẹo nhanh ổ loét. Ngoài ra Ampelop còn có tác dụng an thần.

Sử dụng chè Dây bạn hoàn toàn yên tâm vì đó là loại chè sạch, không gây độc:
- Kết quả nghiên cứu về tính an toàn cho thấy, thành phần hóa học của chè dây không có những nhóm chất thường có độc như: alcaloid, saponin..., cao chè dây không gây ngộ độc cấp tính, không ảnh hưởng tới các chỉ tiêu hóa sinh, huyết học, di truyền và sinh sản khi dùng thuốc trong thời gian dài.
- Các nghiên cứu trên lâm sàng cũng đều cho thấy chè dây không thấy có các tác dụng phụ như đầy bụng, nôn mửa hoặc khó chịu, mệt mỏi, nhức đầu hoặc các biểu hiện dị ứng.

1. Giới thiệu Trà Dây túi lọc của LAVA giúp sử dụng tiện lợi, bảo quản dược tính và hương vị lâu hơn.

Thành phần: Trà dây 100%
Tác dụng của Trà dây:
Chữa đau dạ dày, viêm loét dạ dày, hành tá tràng.
Chữa viêm hang vị, sưng dạ dày.
Thanh nhiệt, mát gan, giải độc trong cơ thể
Ngoài ra trà dây còn có tác dụng an thần, dễ ngủ, làm nước giải khát
Tiêu viêm, diệt khuẩn (đặc biệt khuẩn HP), kích thích tiêu hóa

Cơ chế tác dụng là làm sạch Helicobarter Pylori ( khuẩn HP), đây là loại xoắn khuẩn, sống trên lớp nhày niêm mạc dạ dày và gây ra bệnh này. Bên cạnh đó, do hàm lượng lớn flavonoid trong Trà dây LAVA có tác dụng chống viêm nên trà dây còn có tác dụng giảm viêm niêm mạc dạ dày. Mức độ viêm dạ dày của bệnh nhân trước và sau điều trị bằng Trà dây giảm xuống rõ rệt, đa số hết viêm hoặc chỉ còn viêm dạ dày mức độ nhẹ. Tác dụng giảm viêm dạ dày của Trà dây không có ở một số các loại tân dược khác.
Lưu ý: Dùng Trà dây nhiều vào buổi sáng sớm trước khi ăn ( uống no) sẽ có hiệu quả diệt khuẩn HP tốt nhất.

Nếu dùng thường xuyên như nước uống hàng ngày, loại thảo dược này có tác dụng ngừa viêm loét dạ dày, đại tràng, mát gan, giải nhiệt, giải độc cơ thể, lưu thông huyết mạch. Đặc biệt tốt cho những người mất ngủ và yếu thận. Bạn có thể hình dung được mình đang sử dụng một loại thảo dược quý có tới 9 tháng ngủ đông mà lại chỉ có 3 tháng để sinh trưởng và phát triển. Có tác dụng rất thần kỳ đối với sức khỏe của con người, chè dây thảo mộc được nhiều người biết đến như vị thuốc chữa viêm loét dạ dày, hành tá tràng hiệu quả mà không mấy tốn kém.


2. Nguyên liệu làm ra chè dây thảo mộc được lấy từ những cây chè dây thiên nhiên hoang dã trên các đỉnh núi đá vôi, và chế biến theo phương pháp thủ công truyền thống. Chè dây là loại sản phẩm không chứa bất cứ loại chất hóa học nào, không gây tác dụng phụ, không gây ngộ độc, đặc biệt không gây ảnh hưởng tới sự sinh sản và di truyền cũng như các chỉ tiêu hóa sinh và huyết học khi sử dụng chè trong thời gian dài, nên đây được xem là loại sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và bảo vệ sức khỏe rất cao. Thuận tiện mang bên mình, chè dây sẽ kịp thời phòng và trị được rất nhiều bệnh, nếu chúng ta kiên trì sử dụng trong một thời gian dài.

Trà dây thảo mộc có hạt trắng là do tính đặc biệt của loại thảo dược quý tiết ra nhựa trong quá trình sấy khô (phơi khô) chứ không phải do nấm mốc. Và theo khảo sát của các nhà khoa học hiện nay chỉ có trà dây thảo mộc mới có tính năng này. Theo các đồng bào dân tộc miền núi Cao Bằng thì các hạt nhựa trên trà dây càng nhiều thì công dụng càng tốt.
Read more…

Thói quen uống nước gây hại sức khỏe

20:27 |
Bạn nghĩ rằng uống nước ngay khi vừa đun sôi sẽ tiệt trùng và tốt cho sức khỏe? Tuy nhiên, đây là một trong những quan niệm hoàn toàn sai lầm về nước uống.

Nước chiếm khoảng 70% khối lượng của cơ thể và là thành phần quan trọng của quá trình trao đổi chất. Mỗi người cần uống khoảng 2 lít nước, tương đương khoảng 8 cốc nước mỗi ngày để đảm bảo sức khỏe. Tuy nhiên, nếu uống nước không đúng cách lại gây nguy hiểm cho sức khỏe.

Sau đây là một số thói quen uống nước gây phản tác dụng:

Uống nước đun đi đun lại nhiều lần

Nhiều người nghĩ rằng, nước uống đun càng nhiều, càng kỹ, càng diệt được vi khuẩn và nước càng sạch. Tuy nhiên, theo các chuyên gia dinh dưỡng, nước đun đi đun lại gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn.

Bởi trong nước thường có một hàm lượng nhỏ các loại kim loại nặng không tốt cho sức khỏe như chì, cadimium, nitrat.... Khi nước đun đi đun lại nhiều lần, trải qua quá trình thủy phân không ngừng bốc hơi thì hàm lượng nitrat và các kim loại nặng trên tăng lên đáng kể, khi hấp thụ vào cơ thể sẽ gây hại cho sức khỏe của bạn.

Đợi khát mới uống nước

Đây là thói quen của hầu hết mọi người, và phải điều chỉnh ngay lập tức. Vì chỉ uống nước khi khát sẽ làm cơ thể không đủ lượng nước cần thiết. Nếu thiếu nước sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của các cơ quan trong cơ thể.

Đừng đợi khát mới uống nước


Uống nước không chỉ để thỏa mãn cơn khát mà còn góp vào quá trình tham gia trao đổi chất, để cơ thể hô hấp dễ dàng hơn. Thời gian dài thiếu nước sẽ làm gia tăng độ đặc của máu, dẫn đến bệnh tim, huyết quản. Ngoài ra, càng không chú ý uống nước, thói quen uống nước sẽ ngày càng ít đi, cơ thể sẽ ngày càng khô. Vì vậy, bất kể khát hay không, bạn cần kịp thời bổ sung nước cho cơ thể.

“Nạp” quá nhiều nước

Đừng cho rằng uống càng nhiều nước càng tốt. Khi thận không bài tiết kịp sẽ làm cho chất khoáng trong máu bị pha loãng gây ra tình trạng hạ natri máu. Bên cạnh đó, lượng “nước thừa” còn gây hại cho tim và cơ quan nội tiết.

Nước vừa đun sôi uống luôn

Uống nước đun sôi là thói quen tốt nhưng nếu uống ngay khi nước vừa mới được đun sôi xong lại gây hại cho sức khỏe của bạn. Nguyên do là nước sinh hoạt (nước máy) của chúng ta đều đã thông qua khử trùng bằng clo. Khi clo kết hợp với chất hữu cơ sẽ lưu lại trong nước, sinh ra các hợp chất gây ung thư. Vì vậy, hãy để nước vừa đun sôi bốc hơi, để nguội xong một lúc mới dùng.

Không uống nước trước khi đi ngủ

Nhiều người cho rằng, uống nước trước khi ngủ sẽ khiến giấc ngủ bị đứt quãng vì bị “đánh thức” đi vào nhà vệ sinh lúc nửa đêm. Tuy nhiên, uống một lượng nước nhỏ không những không khiến bạn mất ngủ mà còn có tác dụng làm nhuận đường hô hấp, máu tuần hoàn tốt hơn và ngủ ngon hơn.

Hãy uống nước trước khi đi ngủ để ngủ ngon hơn

Mặt khác khi bạn ngủ, cơ thể rất dễ bị mất nước khiến các hệ cơ quan hoạt động uể oải, thiếu nhịp nhàng về lâu dài có thể gây hại cho sức khỏe. Vì vậy, hãy uống một vài ngụm nước ấm trước khi đi ngủ để góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe của chính mình.

Uống nước ngọt thay nước lọc

Nhiều người có sở thích uống nước ngọt có gas để giải tỏa cơn khát và cảm thấy tinh thần phấn chấn hơn, đặc biệt trong những ngày thời tiết nắng nóng, thậm chí họ có thể uống thay nước lọc.

Thói quen này cực kỳ nguy hiểm. Trong nước ngọt có khá nhiều hóa chất gây hại cho sức khỏe. Chúng khiến cơ thể hồi hộp, tim đập nhanh, tạo cảm giác phấn chấn giả và sau đó sẽ làm bạn cảm thấy mệt mỏi hơn. Ngoài ra, hầu hết nước ngọt có gas có thể làm cho bạn bị đầy hơi, khó tiêu, hấp thu dưỡng chất kém đồng thời lượng đường trong nước ngọt còn làm gia tăng khả năng béo phì.

Không uống nước khi ngủ dậy

Đây là thói quen của rất nhiều người. Ngủ dậy, vệ sinh, ăn sáng luôn. Cơ thể bạn trải qua một đêm dài không được cung cấp nước trong khi hoạt động của các hệ cơ quan trong cơ thể vẫn diễn ra bình thường. Chất thải trong cơ thể đang cần được rửa sạch. Chính vì vậy, việc bổ sung nước ngay sau khi ngủ dậy không chỉ có tác dụng cung cấp nước mà còn giúp cơ thể bạn giải độc một cách hiệu quả. Hãy uống ít nhất từ 400-500 ml nước ấm ngay sau khi ngủ dậy để bảo vệ sức khỏe.

Uống nhiều nước sau vận động

Uống nước ngay sau khi tập thể dục hoặc chơi thể thao sẽ tạo áp lực cho tim và ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể

Uống nước ngay sau khi tập thể dục hoặc chơi thể thao sẽ tạo áp lực cho tim và ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể. Do đó, hãy nghỉ ngơi một chút rồi uống nước để bù đắp lượng nước đã mất qua mồ hôi.

Uống nước trong lúc ăn

Hệ tiêu hóa sẽ bị “đe dọa”, nhất là hoạt động của dạ dày nếu bạn có thói quen uống nước trong lúc ăn. Vì theo các nhà khoa học, nước sẽ pha loãng các dịch vị được tiết ra để tiêu hóa thức ăn. Đồng thời làm tăng lượng insulin trong cơ thể và tích tụ chất béo.

Uống nước quá lạnh

Uống nước quá lạnh sẽ làm cho các vi mạch máu trong dạ dày, ruột bị co thắt lại. Khi đó sẽ làm giảm chức năng tiêu hóa, sát khuẩn của hai cơ quan này dẫn đến cơ thể dễ bị đau bụng và tiêu chảy cấp.

(eva.vn)
Read more…

Lợi ích bất ngờ từ thanh long

18:05 |
Thanh long là một trong những loại trái cây thuộc họ cây xương rồng mọc ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó bao gồm châu Á và Mỹ Latin.

Thanh long chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết để cung cấp cho cơ thể. Ăn thanh long có thể giảm stress và các bệnh tim mạch.

Cholesterol

Thanh long là một trong những loại trái cây có hàm lượng cholesterol thấp và không chứa cholesterol béo - gây hại cho cơ thể chúng ta.

Chất béo

Thanh long chỉ chứa một lượng nhỏ chất béo không bão hòa đơn bởi vì loại trái cây này có chứa nhiều hạt trong ruột. Các loại hạt trong quả thanh long có chứa chất béo và protein có lợi cho sức khoẻ.

Chất xơ

Thanh long là một trong những trái cây tốt nhất giúp làm sạch hệ tiêu hoá của cơ thể. Chất xơ có trong thanh long giúp hệ đường ruột co bóp tốt hơn. Đặc biệt, ăn thanh long có thể cải thiện được chứng táo bón.

Chất chống oxy hóa

Thanh long là một trong những nguồn cung cấp chất oxy hoá tuyệt vời. Nhưng hợp chất oxy hoá này giúp ngăn chặn những gốc tự do hoạt động, là nguyên nhân gây ung thư và gây hại cho sức khoẻ con người.

Viêm khớp

Thanh long giúp làm giảm kích ứng của khớp, vì thế thanh long được coi là một loại trái cây chống viêm tốt, giúp làm giảm sưng khớp.


Lợi ích lớn nhất của thanh long là tốt cho sức khỏe tim mạch. Thanh long làm giảm nồng độ cholesterol xấu ra khỏi cơ thể và sau đó làm tăng nồng độ cholesterol tốt có lợi cho cơ thể. Trái cây này là một nguồn cung cấp chất béo bão hòa đơn tuyệt vời, duy trì cho chúng ta một trái tim khoẻ mạnh.

Tốt cho bệnh nhân bị bệnh tiểu đường

Thanh long có chứa một hàm lượng lớn chất xơ giúp ổn định lượng đường trong máu. Nghiên cứu cũng cho thấy, những người sau khi ăn thanh long có chỉ số đường huyết cao và duy trì ở mức ổn định. Vì vậy, thanh long cực kì tốt cho bệnh nhân tiểu đường. Tuy nhiên, những người bị tiểu đường nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi tiêu thụ.

Chống lão hóa

Thanh long rất giàu chất chống oxy hóa giúp chống lại các gốc tự đang hoạt động trong cơ thể của chúng ta. Điều này giúp làm chậm quá trình lão hóa bởi các gốc tự do được giảm. Do đó, làn da của trẻ lâu hơn.

Không bị tăng cân

Thanh long chứa ít calo nhưng giàu chất xơ. Vì vậy, sau khi ăn thanh long chúng ta thường có cảm giác no và không bị tăng cân. Ngoài ra, thanh long còn làm sạch và cải thiện hệ thống trao đổi chất của cơ thể qua đó giúp bạn duy trì một trọng lượng khỏe mạnh.

Hen suyễn

Thanh long chứa hàm lượng vitamin C cao giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, và giúp chống lại các bệnh rối loạn đường hô hấp như hen suyễn.

"Mỏ vàng" Vitamin và khoáng chất

Thanh long có chứa hàm lượng cao các loại vitamin như: vitamin C, vitamin B1, B2, và B3. Thanh long cũng rất giàu khoáng chất quan trọng như sắt, canxi, phốt pho. Ngoài ra, cũng chứa một tỷ lệ cao hàm lượng protein, chất xơ và niacin và cuối cùng là 80% lượng nước. Do đó thanh long còn được gọi là "siêu trái cây" giúp tăng cường chất dinh dưỡng và chống lại các bệnh để cơ thể khoẻ mạnh. Không chỉ vậy, thanh long còn chứa những thành phần quan trọng giúp bạn làm đẹp mỗi ngày. Hạt thanh long có chứa chất béo không bão hòa giúp loại bỏ các cholesterol xấu ra khỏi cơ thể.

(eva.vn)
Read more…

Phương pháp mới trong điều trị bệnh cột sống

19:18 |
Bệnh đau cột sống là một bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi. Khoảng 65% bệnh nhân bị đau cột sống do ít vận động, hay ngồi yên một chỗ. Nhân viên văn phòng, thợ may hoặc lái xe… là những người hay mắc phải các bệnh lý cột sống.


1. Các bệnh lý cột sống điển hình thường gặp

Cột sống là trụ cột chống đỡ sức nặng của trọng lượng cơ thể. Nó là một chuỗi nhiều đốt xương sống riêng lẻ. Các đốt xương này kết nối với nhau thành một trục nhờ hệ thống dây chằng và cơ. Dọc theo chiều dài cột sống có chứa tủy sống và dây thần kinh đi từ trên não xuống. Khi có nguyên nhân nào đó tác động khiến cấu trúc này thay đổi, sẽ gây ra những bệnh về cột sống như:

- Thoái hóa đĩa đệm.

- Thoát vị đĩa đệm.

- Chấn thương cột sống do tai nạn hoặc lao động nặng.

- Thoái hóa cột sống.

- Vẹo cột sống.

- Gai cột sống.

2. Hậu quả của các bệnh lý cột sống

Khi rơi vào một trong những trường hợp bệnh cột sống kể trên thì người bệnh sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống hàng ngày. Nó làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống của người bệnh, làm giảm khả năng lao động và vận động trong sinh hoạt của người bệnh. Ngoài những cơn đau đớn thường ngày, nếu không được chữa trị kịp thời người bệnh có thể bị teo cơ, teo các chi thậm chí nặng hơn còn có thể bị tàn phế suốt đời.

3. Phương pháp điều trị bệnh đau cột sống


Phương pháp điều trị bệnh đau cột sống dựa vào mức độ nghiêm trọng của bệnh và những hậu quả do bệnh gây ra. Bác sĩ chuyên khoa chấn thương chỉnh hình sẽ tư vấn cho bệnh nhân phương pháp điều trị bệnh tốt nhất. Dưới đây là hướng điều trị điển hình cho bệnh đau cột sống:

- Phương pháp điều trị bảo toàn: Bệnh nhân được khuyên nghỉ ngơi, xoa bóp, châm cứu, tập thể dục đúng cách, điều trị bằng thuốc (thuốc uống hoặc thuốc tiêm) hoặc tập vật lý trị liệu. Người bệnh áp dụng phương pháp điều trị này khi hậu quả của bệnh gây ra chưa nghiêm trọng và chưa ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

- Phương pháp điều trị bằng phẫu thuật: Bệnh nhân được khuyên nên thực hiện phẫu thuật khi đã trải qua hết các phương pháp điều trị bảo tồn nhưng không mang lại kết quả. Cơn đau kéo dài dai dẳng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt hàng ngày. Bệnh nhân có các biểu hiện của teo tay hoặc teo chân.

4. Phương pháp Disc-FX điều trị bệnh thoát vị nội đĩa

Đây là phương pháp phẫu thuật xâm lấn cột sống tối thiểu áp dụng với những bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) mà phương pháp điều trị bảo toàn không có tác dụng, bắt buộc họ phải sống như vậy hoặc phẫu thuật cột sống. Nếu tiến hành phẫu thuật, bệnh nhân cần vài tuần hoặc vài tháng để phục hồi, gây ra nhiều bất tiện và gián đoạn trong cuộc sống. Điều này sẽ không xảy ra với phương pháp Disc-FX®. Phương pháp Disc-FX® mang lại một lựa chọn mới cho những người thất bại trong phương pháp bảo toàn và chưa cần thiết áp dụng ca phẫu thuật lớn. Đây là một phương pháp tân tiến, được thiết kế để có thể chữa trị các phần bị tổn thương mà không ảnh hưởng đến các phần xung quanh. Phương pháp Disc-FX sử dụng thiết bị Trigger-Flex Bipolar, được thiết kế đặc biệt để xâm nhập và chữa trị các phần khác nhau của đĩa. Thiết bị Trigger-Flex phát ra một dạng năng lượng đặc biệt của sóng Radio. Khác với những loại phẫu thuật khác, năng lượng sóng Radio có tác dụng chữa trị cả những phần có tiềm năng bị tổn thương của đĩa.

Trong quá trình thực hiện Disc-FX, bệnh nhân sẽ nằm sấp và được gây mê tối thiểu. Thiết bị Disc-FX, được gọi là Trigger-Flex, được đưa vào đĩa đệm thông qua một cây kim, sau đó phần đĩa bị tổn thương sẽ được chữa trị và/hoặc cắt bỏ. Kết thúc quá trình, thiết bị sẽ được lấy ra và dán băng lại. Sau khi thực hiện xong, bệnh nhân sẽ được yêu cầu nghỉ ngơi tại chỗ trong vòng 2-3 tiếng để theo dõi. Khi xuất viện, bệnh nhân cần nghỉ ngơi thêm, hạn chế ngồi hoặc đi lại nhiều trong 1-3 ngày. Thông thường các triệu chứng sẽ hết hẳn trong vòng 2 tuần. Một số bệnh nhân sẽ cảm thấy khó chịu và thâm tím vùng đâm kim. Sau một tuần bệnh nhân có thể tập vật lý trị liệu để có thể phục hồi hoàn toàn. Bác sĩ sẽ chỉ định lịch tập phù hợp cho từng bệnh nhân.

Anh M.Kh. (30 tuổi, TP.HCM) là một doanh nhân trẻ thành đạt, đam mê thể thao. Vài tháng gần đây anh bị đau lưng buộc phải ngừng chơi bóng đá (môn thể thao mà anh yêu thích nhất). Thậm chí khi cúi người hoặc luyện tập thể dục hàng ngày cũng rất khó khăn. Quyết tâm điều trị chấm dứt cơn đau, anh Kh. tìm hiểu thêm thông tin về bệnh của mình và cuối cùng anh gặp bác sĩ David Wong - chuyên gia chấn thương chỉnh hình bệnh viện Raffles Singapore thăm khám.

Sau khi làm đầy đủ các xét nghiệm và chụp cộng hưởng từ (MRI), bác sĩ Wong cho biết anh bị thoát vị đĩa đệm nội đĩa (TVĐĐ) đốt L5/S1. Bác sĩ khuyên anh nên làm phẫu thuật theo phương pháp Disc-FX ngay khi còn có thể trước khi bệnh trở nặng cần can thiệp phẫu thuật theo phương pháp truyền thống. Sau khi nghe bác sĩ Wong giải thích cặn kẽ, anh Kh. đã đồng ý tiền hành phậu thuật và ca phẫu thuật được hiện vào chiều hôm sau. Ca phẫu thuật kéo dài gần 2 giờ, và anh Kh. được ra viện sau khi nằm viện theo dõi tình hình sức khỏe 1 ngày. Sau khi phẫu thuật được một tuần, anh Kh. quay về VN mà không quên chia sẻ với chúng tôi: "Tôi rất vui đã chọn bệnh viện Raffles. Tại đây tôi cảm thấy gần gũi như ở nhà mặc dù là lần đầu tiên tôi đặt chân tới đây. Ở đây có nhân viên người Việt làm việc ở các bộ phận khác nhau như bộ phận Quan Hệ Bệnh Nhân Quốc Tế, Y Tá, Thanh Toán. Họ tận tình hướng dẫn tôi, tạo cho tôi cảm giác ấm cúng như ở nhà và không bị rào cản về ngôn ngữ. Tôi cũng mong được trở lại bệnh viện hàng năm trong các đợt khám định kỳ của tôi và gia đình”.

5. Tư vấn điều trị bệnh đau cột sống ở đâu?

Bác sĩ David Wong
Từ ngày 11.12 đến ngày 13.12, bác sĩ David Wong Him Choon (chuyên gia chấn thương chỉnh hình bệnh viện Raffles, Singapore) sẽ tư vấn Trực tiếp và Miễn phí cho các bệnh nhân bị các bệnh lý về cột sống như: Thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, vẹo cột sống, chấn thương cột sống, trượt đốt sống… tại TP.Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh.

Bệnh nhân có nhu cầu đăng ký tư vấn với bác sĩ vui lòng liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ:

* Tại TP.Hà Nội

Văn phòng Thông tin Y tế bệnh viện Raffles

Số 50 Võ Thị Sáu, Quận Hai Bà Trưng

Điện thoại: 0913 560 450/ 0942 478 885

* Tại TP.Hồ Chí Minh

Văn phòng Đại diện bệnh viện Raffles

Phòng 2.3A, Lầu 2, tòa nhà The Landmark, số 5B Tôn Đức Thắng, Quận 1

ĐT: 08-3822 6086/ 08-3822 6087

Hotline: 0947 815 338/ 0964 918 966/ 0906 280 301

Email: enquiries@raffleshospital.vn

Website: www.raffleshospital.vn
Read more…

Monsanto - Ngôi làng nằm dưới những tảng đá nặng 200 tấn

19:07 |
Với kiến trúc độc đáo và tầm nhìn ngoạn mục, Monsanto là điểm đến hút khách bậc nhất Bồ Đào Nha. Nơi đây cũng được nhiều người bình chọn là một trong những ngôi làng nằm trên vách đá đẹp nhất thế giới.


Ngôi làng Monsanto nằm trên đỉnh của ngọn núi cùng tên với nó, tại miền đông Bồ Đào Nha. Nơi đây nổi tiếng vì phần lớn các ngôi nhà đều nằm yên bình và hài hòa dưới những tảng đá to nặng tới 200 tấn.


Khi định cư trên đỉnh núi và nhận thấy nơi đây có nhiều hòn đá khổng lồ nằm vướng khắp lối đi, người dân thay vì tìm cách đập bỏ đã xây nhà ngay dưới những tảng đá.


Vì vậy, khi tới thăm ngôi làng có niên đại từ thời trung cổ này, bạn có thể dễ dàng nhìn thấy nhiều ngôi nhà nằm dưới, ngay bên cạnh hoặc bao xung quanh bởi những tảng đá tròn trịa khổng lồ. Các lối đi trong làng được lát đá, xung quanh là cây cỏ tốt tươi.


Năm 1938, nơi đây được mệnh danh là "ngôi làng đậm chất Bồ Đào Nha nhất đất nước". Vật liệu xây dựng các ngôi nhà ở đây chủ yếu là đá.


Do tọa lạc ở độ cao gần 800 m so với mực nước biển nên ngôi làng là một trong những điểm đến có tầm nhìn tốt. Đứng tại đây, bạn có thể phóng tầm mắt nhìn ra xa và chiêm ngưỡng cảnh đẹp của xứ sở của các nhà thơ (một tên gọi khác ít sử dụng của đất nước Bồ Đào Nha).


Cũng nhờ tọa lạc trên đỉnh núi xa xôi, nên dường như mọi thứ tại ngôi làng đều vẫn mang vẻ đẹp của những thời xa cũ. Sự hiện đại với những chiếc xe hơi, xe máy sang trọng hầu như không xuất hiện tại ngôi làng này.


Kể từ khi nhận được danh hiệu "Ngôi làng đậm chất Bồ Đào Nha nhất đất nước", chính quyền địa phương đã hạn chế xây dựng thêm các công trình mới, nhằm bảo tồn nguyên vẹn những giá trị văn hóa, truyền thống xưa cũ của ngôi làng.


Ngày nay, Monsanto là một trong những điểm đến nối tiếng, thu hút nhiều du khách nhất của Bồ Đào Nha.

Anh Minh (theo Silvercoastfinest)
Read more…

Bảo vệ tim mạch Molval Metabolic 850

17:12 |
Molval Metabolic 850® là sản phẩm bảo vệ sức khỏe duy nhất kết hợp dầu cá và peptide có hoạt tính sinh học hiện nay trên thế giới, giúp ổn định huyết áp, bảo vệ tim mạch.

Kết quả 11 năm nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh tính an toàn và hiệu quả điều trị (hàng năm đều có kiểm tra theo dõi chỉ số huyết áp, mỡ máu), được Cơ quan Sản phẩm An toàn Sức khỏe Pháp (AFFSSAPS) cấp giấy chứng nhận.


Thành phần

Mỗi viên Molval Metabolic 850® hàm chứa peptide có hoạt tính sinh học Liquamen® (được cấp bằng kỹ thuật sáng chế độc quyền), và acid béo Omega-3 (EPA và DHA), chiết xuất từ cá Blue Ling sinh sống ở vùng biển sâu 2000m Bắc Đại Tây Dương.

- Peptide có hoạt tính sinh học Liquamen®: 145 mg.

- Dầu cá Omega 3 cá Blue Ling: 188mg (52mg EPA và 37mg DHA).

Công dụng

- Ổn định huyết áp, bảo vệ tim mạch.

- Chống tiều cầu ngưng tụ quá mức.

- Cải thiện mỡ máu.

- Giúp mạch máu co giãn, cải thiện chức năng tim mạch.

- Giảm độ dày nội trung mạc động mạch cảnh (IMT),hạn chế nguy cơ xơ vữa động mạch.

Cách dùng

Dùng sau bữa ăn.

- Cải thiện sức khỏe: Ngày 5 viên, 2 lần/ngày (để đảm bảo hiệu quả tốt nhất, phải dùng liên tục ít nhất từ 5 tháng đến 1 năm).

- Bảo vệ sức khỏe: Ngày 3 viên, 1 lần/ngày.

Đề nghị kết hợp thêm chế độ ăn uống cân bằng và vận động hàng ngày.

Chú ý:

- Phụ nữ mang thai và trẻ em, nên tư vấn bác sĩ trước khi dùng.

- Không dùng cho những người dị ứng với cá.

Đóng gói: Hộp 120 viên x 650mg.

Hãng sản xuất: Dielen Laboratoires - Pháp.

Xuất xứ: Pháp.

(aladin.com.vn)
Read more…

Người ngoài hành tinh là có thật

02:09 |
Vật thể bay không xác định (UFO) là có thật, và trên thực tế, những người ngoài hành tinh đến trái đất trên các đĩa bay xuyên ngân hà hiện làm việc cho chính phủ Mỹ. Nghe qua không khác chi tình tiết trong loạt phim nổi tiếng Men in Black, nhưng điều gây ngạc nhiên là những thông tin này lại đến từ một nhà khoa học hàng đầu về công nghệ vũ trụ, vừa qua đời hồi tháng 8, theo trang Examiner.

Lời trăng trối gây sốc

Đối với những người trong ngành, Boyd Bushman không phải là tên tuổi xa lạ. Ông gây ấn tượng với nhiều bằng phát minh và sáng chế khi làm việc cho các nhà thầu quốc phòng như Lockheed Martin, Hughes Aircraft và một số công ty trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ trong hơn 40 năm làm việc.

Thậm chí theo một số báo cáo, ông Bushman cũng là một trong những người phát minh tên lửa Stinger, loại tên lửa phòng không vác vai đóng vai trò quan trọng trong vô số các cuộc xung đột diễn ra suốt 3 thập niên qua. Ông đã qua đời vào ngày 7.8, thọ 78 tuổi.

Không lâu trước khi chết, Bushman đã ghi hình một cuộc nói chuyện và trình bày hết sức thẳng thắn về những trải nghiệm cá nhân khi làm việc tại Vùng 51. Băng ghi hình trên gây xôn xao cộng đồng mạng và giới truyền thông sau khi xuất hiện trên kênh YouTube vào đầu tháng 10, với gần 2 triệu lượt xem.

Bí mật về Vùng 51
Vùng 51, còn gọi là Dreamland, nằm trong sa mạc Nevada cách Las Vegas khoảng 119 km về hướng bắc. Được thành lập vào năm 1955, Vùng 51 được xem là bãi thử của dự án tối mật nhất của Mỹ thời bấy giờ là dòng máy bay trinh sát U2. Nơi đây cũng là cơ sở nghiên cứu quân sự bí mật nhất của Lầu Năm Góc. Sau nhiều năm gắn với cái tên Vùng 51, khu căn cứ trên hiện được gọi là Nơi thử nghiệm bí mật quốc gia, nhưng nhiều người vẫn quen với cái tên thường xuyên xuất hiện trong các bộ phim khoa học viễn tưởng của Hollywood. Do sự che chắn quá kỹ lưỡng về các công nghệ bí mật được phát triển và thử nghiệm tại Vùng 51, nơi này từ lâu trở thành đề tài cho những giả thuyết gây tranh cãi, đặc biệt là những tin đồn liên quan đến người ngoài hành tinh và UFO.


Tôi cần phải làm sáng tỏ một tối mật”, ông khẳng định ngay trong đoạn đầu video.



Trong đoạn video, Bushman tiết lộ rằng một trong những nhiệm vụ tuyệt mật của ông chính là giải mã các công nghệ của UFO để phục vụ mục tiêu quốc phòng của Mỹ. Tuy nhiên, đây không phải là điều gây sốc nhất trong tuyên bố cuối cùng của Bushman.

Trong số những tin tức được tiết lộ trong đoạn video dài 33 phút, tiến sĩ người Mỹ cho hay những người ngoài hành tinh ở Vùng 51 đến từ một hành tinh được gọi là Quintumnia, cách địa cầu khoảng 68 năm ánh sáng, nhưng công nghệ ở nơi đó cho phép phi thuyền hoàn tất cuộc hành trình đến Trái đất trong vòng 45 phút.

Trong video, ông Bushman đã chia sẻ nhiều chi tiết về người ngoài hành tinh, UFO, công nghệ chống trọng lực mà các nhà khoa học Mỹ, Nga, Trung Quốc phát triển tại Area 51 (một cơ sở quân sự bí mật của Mỹ). Theo tiến sĩ Bushman, tàu du hành của họ có hình dạng giống đĩa bay, với đường kính 11,5 m, chở theo 18 người ngoài hành tinh.


Trong video, ông Bushman còn cho xem một bức ảnh được cho là “bằng chứng” về sự hiện diện của người ngoài hành tinh trong khi mô tả về ngoại hình của họ. Người ngoài hành tinh có chiều cao khoảng 1m40 đến 1m50, một số đã 250 năm tuổi, và hiện vẫn làm việc cho chính phủ Mỹ. Bề ngoài của họ không khác những hình ảnh thường thấy trong tiểu thuyết và phim viễn tưởng, như ngón tay dài, gấp 30% so với tay người, chân 5 ngón, kết lại bằng màng. Họ có 3 xương sườn ở mỗi bên và 3 cột sống còn lại toàn là sụn. Mắt và mũi của họ có khác với ở người. Người ngoài hành tinh trao đổi với nhau thông qua khả năng thần giao cách cảm.

Bushman kể rằng sự cố Roswell năm 1947, trong đó một quả cầu quan sát của lực lượng Không quân Mỹ bị rơi, là do người ngoài hành tinh gây ra.

Ông Bushman nói rằng có hai nhóm người ngoài hành tinh. Một số tỏ ra rất thân thiện và có mối quan hệ tốt với con người, còn số khác giống như kẻ trộm, thích trộm cắp gia súc.

Ông nói rằng ông đã nhìn thấy những ngôi nhà của họ nhờ cho những người ngoài hành tinh này một chiếc máy ảnh và họ đã chụp hình chúng.

Trong một tuyên bố khác, Bushman nói có một đường bay đặc biệt từ vũ trụ đến Area 51, một cơ sở bí mật ở Nevada, nơi người ta tin rằng đó là nơi lưu trữ xác và tàu vũ trụ của người ngoài hành tinh.

Ông tuyên bố rằng người Mỹ đang tìm kiếm UFO ngoài không gian hàng giờ mỗi ngày.

Phản ứng trái chiều

Lời thú nhận trước khi chết của tiến sĩ Bushman tất nhiên tạo ra các phản ứng trái chiều. Nếu cộng đồng tin vào UFO và sự tồn tại của trí thông minh ngoài trái đất nhiệt liệt hoan nghênh “sự thật” luôn được mong đợi lâu nay, thì cũng có không ít người tỏ ra hoài nghi về tính xác thực của những tuyên bố trên. Một số người cho rằng đoạn băng có thể là trò đùa cuối cùng mà Bushman muốn thực hiện trước khi chết.

Đây không phải lần đầu tiên một chuyên gia của nhà thầu quân sự Lockheed Martin từng đưa ra thông tin về phi thuyền của người ngoài hành tinh.

Nhiều năm trước, các nguồn tin chưa được kiểm chứng trên mạng cam đoan rằng cha đẻ chương trình máy bay tàng hình của hãng, ông Ben Rich từng nói trước khi chết về sự tồn tại của người ngoài hành tinh và công nghệ UFO, theo trang Metro.

Nigel Watson, tác giả cuốn UFO Investigations Manual (tạm dịch: Sổ tay điều tra UFO) cho rằng những tiết lộ mới dường như rất đáng tin cậy, vì không có lý do gì để một người dựng chuyện vu vơ trước khi chết. Tuy nhiên, “chúng ta vẫn cần có những chứng cứ về vật chất để củng cố các tuyên bố về UFO”, ông nhấn mạnh.

“Chúng ta phải cảnh giác trước thực tế rằng trí nhớ tàn tạ theo năm tháng và người ta có thể sử dụng những ký ức mập mờ để khôi phục các sự kiện thành một câu chuyện mà họ muốn tin hoặc muốn làm hài lòng người nghe”, ông Watson thận trọng nói thêm.

Thụy Miên
Read more…

Những chu kỳ Thế giới khi những đức Phật xuất hiện

03:37 |
NỘI DUNG

1. Cách Tính Thời Gian Theo Phật Giáo
2. Chu Kỳ Thế Giới hay Đại Kiếp (Maha-kappa)
3. Kiếp Không Thể Tính Được Hay A-tăng-tỳ-Kiếp (Asankheyya-kappa)
4. Trung Kiếp (Antara-kappa)
5. Kiếp Người (Ayu-kappa)
6. Chu Kỳ Nhưng Vị Phật Xuất Hiện Hay Phật Kiếp (Buddha Kappa)
7. Hai Mươi Bốn Vị Phật Trước Đức Phật Thích Ca
8. Tám Phẩm Chất Của Một Vị Bồ-tát: Vị Phật Tương Lai
9. Giê-Su Có Phải Là Một Vị Bồ-tát Hay Không?

10. Khoảng Thời Gian Để Hoàn Thiện Những Hạnh Ba-la-mật (Paramis)
11. Vì Sao Có Sự Khác Nhau Trong Việc Hoàn Thiện Những Hạnh Ba-la-mật (Paramis)
12. Thật Hiếm Thay Sự Xuất Hiện Của Một Vị Phật!
13. Tám Kiếp Sống (Cảnh Giới) Bất Hạnh Nhất Của Vòng Luân Hồi Sinh Tử (Samsara)
14. Sự Hoàn Thiện Các Hạnh Ba-la-mật Của Phật Duyên Giác (Pacceka Buddhas), Của Các Đại Đệ Tử Thanh Văn.
15. Những Đại Đệ Tử Ưu Việt Của Đức Phật
16. Chú Giải
15. Sách & Tài Liệu Tham Khảo

------------------------------------------------------------

1. Cách Tính Thời Gian Theo Phật Giáo

Trong hệ thống tính thời gian của Phật Giáo, từ “kappa” có nghĩa là một “chu kỳ hay một aeon” được dùng để chỉ những giai đoạn thời gian hay thời kỳ nào đó theo thứ tự chu kỳ.

(Bản thân từ tiếng Anh “aeon”, được dùng để dịch từ “kappa” của tiếng Pali, vốn có nguồn gốc từ tiếng La-tinh, có nghĩa là một khoảng thời gian, một thời kỳ dài vô tận, hơn bất kỳ con số hay sự tưởng tượng của con người. Và xưa nay người ta quen dùng từ “kiếp” để tạm dịch từ này qua tiếng Việt, mặc dù “kiếp” ở đây không phải có nghĩa như chỉ là một “kiếp người” vô cùng ngắn ngủi của chúng ta– ND).

Bốn chu kỳ thời gian được phân biệt như sau:

* Một Đại Kiếp (maha-kappa),

* Một A-tăng-tỳ-Kiếp (asankheyya-kappa),

* Một Trung Kiếp (antara-kappa), và

* Một Kiếp Sống hay vòng đời hay khoảng thời gian tuổi thọ

của con người (ayu-kappa) – Một Kiếp Người.

2. Đại Kiếp (Maha-kappa)

Một Đại Kiếp (maha kappa) nói chung có nghĩa là một chu kỳ tạo lập của thế giới. Vậy một chu kỳ tạo lập và tồn tại của một thế giới là bao nhiêu lâu?.

Trong “Tương Ưng Bộ Kinh II”, Chương XV, Đức Phật đã dùng một ví dụ núi đá hay một số lượng hạt cải để miêu tả so sánh về định nghĩa của “kiếp” như sau :

Giả sử có một khối núi đá cứng, chiều dài một yojana*, rộng một yojana và cao một yojana và cứ mỗi 100 năm, một người đến lau chùi bằng miếng vải lụa Kasika. Cho đến khi khối núi đá này được chùi mòn hết, thì khoảng thời gian không thể tưởng tượng đó vẫn còn ngắn hơn một đại kiếp (maha-kappa).

Hay giả sử có một khu được bao bọc bởi tường thành bằng sắt, chiều dài một yojana, rộng một yojana và cao một yojana và được đổ đầy hạt cải bên trong lên hết chiều cao tường thành và cứ 100 năm, một người đến lấy một hạt cải. Cho đến khi không còn hạt cải nào ở đó, thì khoảng thời gian không thể tưởng tượng đó cũng chưa bằng một đại kiếp (maha-kappa). **

* (yojana còn được gọi là một Do-tuần (HV) = 8 dặm Anh = khoảng 12.875 Km).

**Những ví dụ trên đây là đại ý trong bài Kinh nói trên, chứ không phải trích nguyên lời kinh Đức Phật đã nói.

▪ Vậy đã bao nhiêu đại kiếp nối tiếp nhau trong quá khứ rồi?

Theo lời Đức Phật:

“Này người anh em, một đại kiếp là rất dài. Và những đại kiếp như vậy thì dài hơn một đại kiếp đã trôi qua, nhiều hơn một trăm đại kiếp đã trôi qua, dài hơn một trăm ngàn đại kiếp đã trôi qua. Điều này như thế nào? Này người anh em, sự khởi thủy của một quá trình này là không thể tính được. Thời điểm đầu tiên không thể nhìn thấy được trong quá trình trôi tiếp và trôi xa hơn nữa từ lúc chúng sinh bị che khuất trong vô minh, vì trói buộc vào dục vọng”.

3. A-tăng-tỳ-Kiếp (Asankheyya-kappa)

Theo “Tăng Chi Bộ Kinh” (Anguttara II, 142), có 4 giai đoạn được gọi là 4 thời kỳ hay “kỷ nguyên không thể nào tính được” được gọi là A-tăng-tỳ-Kiếp (Asankheyya-kappa), ngắn hơn một đại kiếp (maha-kappa).

Khoảng thời gian của một trong 4 A-tăng-tỳ-Kiếp này không thể nào tính ra được, ngay cả lấy 100.000 năm = 1 lakhs làm đơn vị để tính. Vì thế nên A-tăng-tỳ-Kiếp có nghĩa là “một khoảng thời gian không bao giờ đếm được”

Bốn A-tăng-tỳ-Kiếp này là:

1) Kỷ Nguyên Hoại Diệt (Hoại Kiếp) – là thời kỳ hủy hoại hay tiêu hủy thế giới. Trong “Kinh Mặt Trời” thuộc “Tăng Chi Bộ Kinh” (Anguttara IV, 99), Đức Phật đã miêu tả sự hủy hoại thế giới bằng Lửa, thậm chí tiêu hủy đến những cõi trời Đại Phạm Thiên. Kỷ nguyên hay A-tăng-tỳ-Kiếp (Asankheyya-kappa) bắt đầu bằng những trận mưa lớn bắt đầu dập tắt tất cả biển lửa trên thế giới nếu thế giới bị tiêu hủy bằng Lửa, hoặc bắt đầu bằng việc rút nước lũ lụt, nếu thế giới bị tiêu hủy bằng Nước; hoặc bắt đầu bằng việc ngưng bão tố nếu thế giới bị hủy diệt bằng Gió.

Việc mô tả hoàn toàn chi tiết về sự kiện thế giới bị tiêu hủy bằng những yếu tố lửa, nước, gió được ghi lại trong chương nói về những kiếp quá khứ trong quyển “Con Đường Thanh Tịnh” (Visuddhi Magga).

2) Kỷ Nguyên Hoàn Toàn Hủy Diệt (Tận Hoại Kiếp) – là thời kỳ tất cả hệ thống trên thế giới đã bị tiêu hủy hoàn toàn hay trong tình trạng là Không Trơ. Đây là thời kỳ bắt đầu từ lúc mà thế giới đã bị tiêu hủy bởi lửa, nước hay gió rồi cho đến khi bắt đầu những trận mưa lớn báo hiệu một chu kỳ một quá trình tiến hóa mới bắt đầu một thế giới mới.

3) Kỷ nguyên phát triển – là giai đoạn tiến hóa. Đây là giai đoạn từ lúc có những trận mưa phát động sự tiến hóa một thế giới mới nói trên cho đến khi xuất hiện mặt trời, mặt trăng, những ngôi sao và những hành tinh.

4) Kỷ Nguyên Đã Phát Triển – là giai đoạn liên tục tiếp theo. Giai đoạn này bắt đầu từ lúc xuất hiện mặt trời, mặt trăng, những ngôi sao và những hành tinh cho đến khi có những trận mưa lớn báo hiệu bắt đầu sự hủy diệt của thế giới (bằng lửa, nước hay gió…).

♦ Kiếp sống hiện tại của chúng ta là một trong vô lượng kiếp của A-tăng-tỳ-Kiếp thứ tư này, trong một chu kỳ đại kiếp.

● Giải Thích về Tuổi Thọ ở Những Cảnh Giới sống tương ứng với tầng Thiền (Jhana) thứ Nhất, thứ Hai và thứ Ba.

1) Khi thế giới bị hủy diệt bằng 3 yếu tố (tam đại) lửa, nước và gió, Lửa tiêu hủy thế giới cho đến 3 cõi hay cảnh giới sống của tầng Thiền định thứ Nhất (Sơ Thiền). Theo các nhà luận giải, tuổi thọ cao nhất của những cảnh giới của Sơ Thiền là 01 A-tăng-tỳ-Kiếp (tức “một kỷ nguyên không thể tính được” đã giải thích ở trên), bởi vì những cảnh giới của tầng Thiền định này chỉ tồn tại trong một kỷ nguyên đó là Kỷ Nguyên Đã Phát Triển, tức Kỷ Nguyên hay A-tăng-tỳ-Kiếp thứ tư ở trên.

2) Sau khi bị tiêu hủy 7 lần liên tục bằng lửa, đến đợt thứ 8, thế giới sẽ bị tiêu hủy bằng Nước, lúc đó sự tiêu hủy sẽ đến 3 cảnh giới hay 3 cõi sống tương ứng với tầng Thiền định thứ Hai (Nhị Thiền). Vì vậy, tuổi thọ dài nhất ở những cảnh giới này là 8 đại kiếp.

3) Sau khi bị tiêu hủy bằng Lửa qua 7 chu kỳ và 1 chu kỳ bằng nước, thế giới lại bị tiêu hủy bằng Gió vào chu kỳ thứ 64, lúc đó sự tiêu hủy sẽ đến tận cảnh giới hay cõi sống tương ứng với tầng Thiền định thứ Ba (Tam Thiền). Vì vậy, tuổi thọ cao nhất ở cảnh giới này là 64 đại kiếp.

● Nguyên Nhân Hoại Diệt & Khai Triển lại Thế Giới?

Trong quyển “Cẩm Nang Về Trật Tự Vũ Trụ” (Manual of Cosmic Order), Đại trưởng lão Mahathera Ledi Sayadaw có viết rằng:

“Không có một khởi thủy rõ ràng hay một kết thúc rõ ràng được biết đến, thế giới hay vũ trụ vật lý liên tục như vậy dù những chủ nhân thế giới hay những đấng siêu nhiên (issara) có xuất hiện hay không. Không bất kỳ dạng siêu nhiên nào, thậm chí một trăm, thậm chí một ngàn, thậm chí một trăm ngàn đấng như vậy cũng không thể nào làm ra, sáng tạo ra hay giải tán (thế giới, vũ trụ đó). Bằng quy luật của Lửa (utu niyama), bằng quy luật nhân duyên tự nhiên (dhamma niyama), trật tự của vũ trụ vật lý này được duy trì như vậy”.

4. Trung Kiếp (Antara-kappa)

Trong A-tăng-tỳ-Kiếp thứ tư hay “Kỷ nguyên Đã Phát Triển”, vòng đời hay tuổi thọ của con người có tăng hay giảm tùy thuộc đức hạnh hay mức độ luân lý của loài người. Nếu đạo đức của con người đang phát huy, thì tuổi thọ của con người sẽ tăng lên đến mức siêu thọ 80.000 năm, đó là Đỉnh Cao của Đức Hạnh loài người. Nếu mức độ đạo đức sa sút, tuổi thọ loài người chỉ còn 10 năm, đó là tuổi thọ thấp nhất của giống loài người.

Để giảng giải rộng thêm vấn đề này, các thầy sẽ trình bày một cách chi tiết bằng những ghi chép trong “Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hồng” (Cakkavati-Sihananda Sutta) thuộc “Trường Bộ Kinh” (Digha Nikaya).

Khoảng thời gian của một chu kỳ trong đó tuổi thọ của loài người được tăng từ 10 năm đến siêu thọ 80.000 năm và rồi giảm từ siêu thọ xuống còn 10 năm trở lại thì được gọi là một chu kỳ Trung Kiếp (antara-kappa) nằm trong A-tăng-tỳ-Kiếp “Đã Phát Triển” thứ tư nói trên.

(Như vậy tuổi thọ trung bình trong Trung Kiếp này của chúng ta hiện nay (xem bên dưới) khoảng 100 năm là thuộc giai đoạn đang giảm xuống từ siêu thọ đến 10 năm. Hãy tưởng tượng sự sa sút về đức hạnh của con người trong thời kiếp này! –ND).

● Một Trung Kiếp Kéo Dài Bao lâu?

Trong quyển “Cẩm Nang Về Trật Tự Vũ Trụ” (Manual of Cosmic Order), Đại trưởng lão Mahathera Ledi Sayadaw cũng đã dùng lại ví dụ về số lượng cát sông Hằng để so sánh như sau:

“Nếu một người phải đếm số năm của một Trung Kiếp bằng số hạt cát, bốc đếm từng hạt cát của tất cả các chi lưu của sông Hằng, thì con số hạt cát sông Hằng có lẽ hết trước khi số năm của một Trung Kiếp được đếm hết”.

(Tổng số lượng hạt cát ở sông Hằng cũng còn ít hơn tổng số năm của một Trung Kiếp -ND).

Sau khi trải qua hoàn thành 64 kỷ nguyên, thì Kỷ Nguyên Đã Phát Triển đến sau cùng. Vì hoàn toàn không có sự sống hay chúng sinh nào sống trong 3 kỷ nguyên (A-tăng-tỳ-Kiếp) kia, nên 3 kỷ nguyên đó không thể được suy ra là một Trung Kiếp theo cách diễn giải trên đây. Nhưng tất cả 4 kỷ nguyên hay A-tăng-tỳ-Kiếp đó có độ dài như nhau và trong tất cả Luận Giảng, mỗi A-tăng-tỳ-Kiếp (Asankheyya-kappa: tức một trong 4 kỷ nguyên Không Thể Tính Được) được chia đều thành 64 kỷ nguyên Trung Kiếp (antara-kappa).

Trong một số Kinh Điển Pali, một A-tăng-tỳ-Kiếp được ghi lại là bao gồm 64 hoặc 20 Trung Kiếp. Điều này là bởi vì có một kỷ nguyên khác được cho là một Trung Kiếp, đó là vòng đời hay “tuổi thọ” ở cảnh giới địa ngục A-Tỳ (Avici), được cho là bằng đến 1/80 của một Đại Kiếp hay bằng 1/20 một A-tăng-tỳ-Kiếp. Bằng cách tính này, người xưa đã cho rằng một A-tăng-tỳ-Kiếp thì bằng tương đương với 64 Trung Kiếp của cảnh giới con người hay bằng tương đương với 20 Trung Kiếp của cảnh giới Địa Ngục A-Tỳ.

5. Kiếp Người (Ayu Kappa)

Trong tiếng Pali, chữ “ayu-kappa” theo nghĩa gốc có nghĩa là vòng đời hay tuổi thọ. Nếu vòng đời là 100 năm, thì tuổi thọ (ayu kappa) là một thế kỷ. Nếu vòng đời là 1.000 năm, thì tuổi thọ (ayu kappa) là một thiên niên kỷ.

Khi Đức Phật dạy cho ngài Ananda rằng: “Này Ananda, ta đã phát triển được bốn năng lực thần thông (Tứ Thần Túc). Vì vậy, nếu ta muốn sống thêm một kiếp (kappa)”, thì chữ kappa có nghĩa là một kiếp người hay một vòng đời của con người (ayu-kappa), đó là 100 năm vào thời Đức Phật tại thế. Đây là cách diễn dịch của các Luận Giảng về Kinh “Đại Bát-Niết-bàn” (Mahaparinibbana Sutta).
6. Phật Kiếp (Buddha Kappa)

Phật Kiếp là những chu kỳ thế giới hay những Đại Kiếp có những vị Phật xuất hiện. Một đại kiếp không có xuất hiện vị Phật nào thì được gọi là Kiếp Không (suñña kappa).

Một kiếp nào có một hay nhiều vị Phật xuất hiện thì được gọi là một Phật Kiếp (Buddha kappa). Kiếp (kappa) ở đây nếu đứng riêng một mình không có tính từ hay danh từ ghép đứng trước, thì có nghĩa là một Đại Kiếp (Maha-kappa).

Có 4 loại chu kỳ Phật Kiếp, đó là:

Sara-kappa: Kiếp có một vị Phật xuất hiện
Manda-kappa: Kiếp có hai vị Phật xuất hiện.
Vara-kappa: Kiếp có ba vị Phật xuất hiện.
Saramanda-kappa: Kiếp có bốn vị Phật xuất hiện.
Bhadda-kappa: Kiếp có năm vị Phật xuất hiện.

Đại Kiếp hiện tại (hay thế giới hiện tại) là một kiếp lành, nhiều may mắn cho thế gian, tiếng Pali là: “Bhadda kappa”, vì có đến 5 vị Phật Toàn Giác xuất hiện. Bốn vị Phật đã xuất hiện trước, đó là:

1) Đức Phật Kakusandha (Câu-Lưu-Tôn),

2) Đức Phật Konagamana (Câu-Na-Hàm),

3) Kassapa (Ca-Diếp),

4) Đức Phật Cồ-Đàm (Gotama) hay Phật Thích Ca Mâu-Ni (Sakyamuni).

5) Đức Phật Di Lặc (Mettaya), chưa xuất hiện trong đại kiếp này.

Khoảng thời gian giữa một vị Phật Toàn Giác xuất hiện và một vị Phật khác xuất hiện có thể là một Đại Kiếp hoặc một A-tăng-tỳ-Kiếp.

Chữ “Asankheyya” (A-tăng-tỳ) có nghĩa gốc là một con số , nhưng “không thể đếm được”, “không thể tính được” và có nghĩa đó trong trường hợp nói về Phật Kiếp này.

Học giả Childers trong quyển “Tự Điển Pali” đã định nghĩa “A-tăng-tỳ” (asankheyya) là một con số lớn nhất, bằng 10140 tức bằng 1 theo sau 140 con số 0!.

Một con số A-tăng-tỳ (Đại) Kiếp (asankheyya kappas) = 10140 (đại) kiếp là một con số vô cùng lớn về thời gian, thách thức cả trí tưởng tượng!.

▪ Chúng ta không nên nhầm lẫn với một kỷ nguyên hay một kiếp được gọi là “A-tăng-tỳ-Kiếp” được định nghĩa trong phần số 3. Ở trên, một “A-tăng-tỳ-Kiếp” (asankheyya-kappa), kỷ nguyên đó chỉ bằng ¼ một Đại Kiếp. Còn trong phần này đang nói về nghĩa của chữ “A-tăng-tỳ”, có nghĩa là: không đếm được, có nghĩa bằng = 10140 (là số đếm dơn vị).Vàkhinói con số một “A-tăng-tỳ Đại Kiếp” (asankheyya-kappa) có nghĩa là tương đương bằng = 10140 Đại Kiếp, đó là khoảng thời gian vô tận giữa những chu kỳ thế giới có những vị Phật xuất hiện.



Đức Phật Thích Ca của chúng ta đã nhận được xác nhận hay thọ ký vào thời kiếp Người còn là tu sĩ Sumedha, Người đã có đại nguyện (trở thành Đức Phật Toàn Giác) dưới chân Đức Phật Nhiên Đăng (Dipankara Buddha) cách đây 4 A-tăng-tỳ Đại Kiếp và một trăm ngàn đại kiếp (4 asankheyyas kappas và 100.000 kappas).

Từ đó đến nay, đã có 11 Phật Kiếp (Buddha kappas), Phật Kiếp hiện tại là thứ 11.

7. Hai Mươi Bốn Vị Phật Trước Đức Phật Thích Ca

Chúng ta không nên có suy luận rằng không có Phật Kiếp nào trước thời Đức Phật Nhiên Đăng (Dipankara Buddha), hoặc sẽ không còn những vị Phật xuất hiện sau đại kiếp này. Số lượng những vị Phật xuất hiện, đến và đi trong quá khứ hoặc những vị Phật xuất hiện rồi đi trong tương lai, là không thể nào đếm được, không thể nào nghĩ bàn được, nhiều như cát sông Hằng.

Tên của 24 vị Phật xuất hiện trước thời Đức Phật Thích Ca kể từ sau thời Đức Phật Nhiên Đăng (Dipankara) và những khoảng cách thời gian giữa những vị Phật đó được ghi chép lại như sau:

Cách đây 4 A-tăng-tỳ Đại Kiếp (asankheyyas kappas) + 100.000 Đại Kiếp (kappas):

1) Đức Phật Tanhankara

2) Đức Phật Medhankara

3) Đức Phật Saranankara

4) Đức Phật Dipankara (Nhiên Đăng).

Cách đây 3 A-tăng-tỳ Đại Kiếp (asankheyyas kappas) + 100.000 Đại Kiếp (kappas):

1) Đức Phật Kondanna

Cách đây 2 A-tăng-tỳ Đại Kiếp (asankheyyas kappas) + 100.000 Đại Kiếp (kappas):

1) Đức Phật Mangala

2) Đức Phật Sumana

3) Đức Phật Revata

4) Đức Phật Sobhita

Cách đây 1 A-tăng-tỳ Đại Kiếp (asankheyyas kappas) + 100.000 Đại Kiếp (kappas):

1) Đức Phật Anomadassin

2) Đức Phật Paduma

3) Đức Phật Narada

Cách đây 100.000 Đại Kiếp (kappas):

1) Đức Phật Padumuttara

Cách đây 30.000 Đại Kiếp (kappas):

1) Đức Phật Sumedha

2) Đức Phật Sujata



Cách đây 18.000 Đại Kiếp (kappas):

1) Đức Phật Piyadassin

2) Đức Phật Atthadassin

3) Đức Phật Dhammadassin

Cách đây 94 Đại Kiếp (kappas):

1) Đức Phật Siddhattha

Cách đây 92 Đại Kiếp (kappas):

1) Đức Phật Tissa

2) Đức Phật Phussa

Cách đây 91 Đại Kiếp (kappas):

1) Đức Phật Vipassin

Cách đây 31 Đại Kiếp (kappas):

1) Đức Phật Sikhin

2) Đức Phật Vessabhu

5) Trong Đại Kiếp hiện tại:

1) Đức Phật Kakusandha (Câu-Lưu-Tôn)

2) Đức Phật Konagamana (Câu-Na-Hàm)

3) Đức Phật Kassapa (Ca Diếp)

4) Đức Phật Thích Ca Cồ-đàm

8. Tám Phẩm Chất Của Một Vị Phật Bồ-Tát (Bodhisatta): Vị Phật Tương Lai

Đây là những đặc điểm hay phẩm chất của một vị Bồ-tát, trước khi thành một vị Phật Toàn Giác, trong giai đoạn tu hành và phát triển của một Bồ-tát, thậm chí chỉ sau khi mới nhận được lời thọ ký hay tiên tri sẽ trở thành một vị Phật tương lai, cho đến khi nào được phú cho những phẩm chất và đặc điểm sau đây (mới được gọi là một Bồ-tát:

(i) Phải là một con người.

(ii) Phải là một nam nhân.

(iii) Phải hoàn thiện tất cả những điều kiện cần thiết, chẳng hạn như phải hoàn thành vượt qua những Điều Hoàn Thiện (Ba-la-mật) cần thiết để chứng đắc đạo quả A-la-hán ngay trong kiếp này.

(iv) Phải gặp được một vị Phật

(v) Phải là một tu sĩ tin theo học thuyết Quy Luật Nghiệp Báo (Kammavadi ascetic) hoặc phải là một Tỳ Kheo trong tăng đoàn vào thời có một vị Phật

(vi) Phải có năng lực chứng đạt những tầng Thiền định (jhana).

(vii) Hành động công đức, chẳng hạn như có thể chết thay hay để bảo vệ cho một vị Phật.

(viii) Phải có những có ý nguyện (chanda) rất mạnh mẽ để thực hiện mục tiêu, dù biết rằng mình có thể phải chịu nhiều kiếp tái sinh, ngay cả vào những cảnh giới xấu.

Chỉ có những ai được phú đầy đủ 8 phẩm chất trên đây thì mới đủ phẩm cách nhận được sự bảo đảm sẽ trở thành một vị Phật tương lai (Niyata Vivaranam). Ngay cả khi còn là một Bồ-tát, thì cũng rất hy hữu để được tiên tri trở thành một vị Phật tương lai. Nói về quả vị Phật thì nói về điều gì?, để giác ngộ được một quả vị Phật phải mất ít nhất 4 A-tăng-tỳ-Kiếp (asankheyya) và 100.000 ngàn kiếp (lakh of kappas) để thực hành tất cả mọi Điều Hoàn Thiện (Ba-la-mật) đến mức cao nhất, bất chấp mạng sống của mình!.

▪ Tại Sao Một Vị Bồ-Tát Có Tâm Nguyện Trở Thành Một Vị Phật, trong khi một Bồ-Tát có thể dễ dàng chứng đạt Giác Ngộ cho mình?

Đó chính là vì Lòng Bi, Lòng Đại Bi (Mahakaruna) dành cho tất cả chúng sinh đang ngập chìm trong biển luân hồi.

“Là một người biết được mãnh lực của mình, thì qua sông (đáo bỉ ngạn –ND) một mình để mà làm gì?. Nếu chứng đạt được Toàn Giác (là một vị Phật), Ta có thể giúp thế gian cùng với chư thiên thần cùng qua sông”.

(Trích trong Biên Niên sử Chư Phật, I.,56).
9. Giê-Su (Jesus Christ) Có Phải Là Một Vị Bồ-Tát không?

Đây là vấn đề hoàn toàn riêng của một người bên giới theo Phật Giáo, vì có một số giả định hay quan điểm cho rằng Chúa Giê-su như một vị Bồ-tát (Bodhisatta), họ đưa ra những lý lẽ như sau:

1. Ngài Giê-su đã giảng dạy giáo lý của Ngài về sự nhẫn nhục, sự bất bạo động và lòng bác ái, mà những điều này hình như trái lại với quan điểm của Đức Chúa Trời theo như Kinh Cựu Ước (Old Testament).

2. Một Bồ-tát không nhất thiết phải là một Phật tử hay một người theo Phật giáo trong kiếp sống trước trước khi người ấy thành Phật ở kiếp cuối cùng.

3. Sự Hy Sinh sinh mạng của bản thân mình để cứu rỗi cho tất cả những người khác là một bằng chứng chắc chắn là một Bồ-tát (theo định nghĩa về phẩm chất của một vị Bồ-tát như đã nói trên –ND).

Để đạt được mục tiêu rốt ráo là quả vị Phật, một Bồ-tát phải thực hành viên mãn Mười Điều Hoàn Thiện (Ba-la-mật) bằng chính nỗ lực và khả năng của bản thân mình, không dựa vào bất kỳ sự giúp đỡ nào bên ngoài. Vì nếu không phải vậy, họ sẽ không đủ phẩm chất được gọi là Hoàn Thiện!.

Trong kiếp sống cuối cùng của mình, một vị Bồ-tát phải nỗ lực hết sức mình để tâm cầu, chứng đạt bằng được sự Giácngộ. Người ấy phải hạ quyết tâm và thề nguyện rằng:

“Dù cho chỉ còn là Da, gân, xương và máu đã cạn khô, Ta nhất định không đứng dậy cho đến khi nào Ta chứng đạt Giác ngộ thành Phật”.

Bằng chính nỗ lực bản thân mình, mới đạt được Giác ngộ.

Như vậy Phật giáo chủ trương tất cả mọi người, kể cả những vị Bồ-tát phải nỗ lực bằng chính bản thân mình mới có cơ hội thành đạo, chứ không dựa vào một đấng tối cao nào. Trong khi đó, học thuyết của Giê-su thì ngược lại. Điều đó cho thấy Giê-su không phải là một người tin theo Quy Luật Nghiệp Báo, không phải là một Kammavadi, nhưng ngài đã dạy mọi người rằng sự cứu rỗi của mỗi người là nhờ vào Ơn Huệ của Đức Chúa Trời. Điều này đã phân định rõ ràng Giê-su không phải là một vị Bồ-tát như một số người đã giả định và luận giảng!

Hiện nay, chúng ta thường gặp nhiều bài viết của nhiều tu sĩ Phật giáo cố gắng đưa song song những giáo lý Phật Pháp và những Kinh Phúc Âm của chúa Giê-su, cứ như thể đó là cùng một thông điệp từ 2 người thầy khác nhau vậy.

Mọi tôn giáo trên thế giới này đều dạy những tín đồ của mình những điều tốt đẹp, thực hiện những điều từ bi và thiện lành, tuân theo những giới hạnh đạo đức (sila). Một số tôn giáo thì dạy cho mọi người biết thực hành tại trung tâm để đạt được sự Định Tâm (samatha) để tăng trưởng sự tĩnh tâm và hạnh phúc.

Lý thuyết chung của Thiên Chúa Giáo là mọi người phải thờ phụng Chúa Trời và số phận của mọi người phụ thuộc vào ân huệ của Chúa. Điều đó không giống như giáo lý Phật giáo chủ yếu dạy rằng con người cần thực hành Bát Chánh Đạo như là con đường dẫn đến sự chứng ngộ Niết-bàn hạnh phúc và Giác Ngộ, chấm dứt đau khổ. Và mục tiêu tối thượng này cần phải được thực hiện, tu tập bằng tất cả nỗ lực của mỗi cá nhân, chứ không phải bằng những lời cầu nguyện!.

10. Thời Gian Để Hoàn Thiện Những Ba-La-Mật (Paramis)

“Paramo” có nghĩa là “Cao Nhất”, thù thắng (HV) và được dùng để nói về một vị Bồ-tát (Bodhisatta), bởi vì một vị Bồ-tát là một bậc chúng sinh cao quý nhất, có được nhũng phẩm chất và đức hạnh phi thường như sự Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục…Mặc dù một vị Bồ-tát hoàn toàn có khả năng đạt được Giác Ngộ như một bậc A-la-hán trong kiếp sống này, nhưng ngài quyết định chọn con đường chứng đạt quả vị Phật Toàn Giác xuất phát từ Lòng Đại Bi dành cho mọi chúng Sinh, để cứu chúng sinh thoát khỏi biển luân hồi (Samsara). Mười phẩm hạnh mà một vị Bồ-tát đã nguyện làm và hoàn thành được gọi là Mười Điều Hoàn Thiện hay Mười Ba-la-mật (HV).

Theo những Luận giảng, khi một người đã được công nhận hay thọ ký (HV) là một vị Bồ-tát (một vị Phật tương lai), người đó phải hoàn thiện Mười Ba-la-mật (Paramis) quan trọng, đó là:

(1) Bố thí hay sự hào hiệp, rộng lòng (Dana)

(2) Trì giới, tức là giữ nghiêm giới hạnh (Sila)

(3) Xuất gia, tức từ bỏ ràng buộc gia đình (Nekkhama)

(4) Trí tuệ, hay Bát-nhã (Panna)

(5) Nỗ lực, tinh tấn (Viriya)

(6) Nhẫn nhục, kiên nhẫn chịu đựng (Khanti)

(7) Chân thật (Sacca)

(8) Quyết Tâm, Quyết Định (Adhitthana)

(9) Tâm Từ, Lòng Từ (Metta)

(10) Tâm Buông Xả, Tâm Xả bỏ (Upekkha)

─ Để thực hành và hoàn thiện những phẩm chất này bằng việc hy sinh, đánh đổi tất cả bằng tài sản của mình, thì được gọi là những Ba-la-mật bình thường (Parami).

─ Để thực hành và hoàn thiện những phẩm chất này bằng việc hy sinh chân hay tay hay những bộ phận của cơ thể mình, thì được gọi là những Ba-la-mật trung bình (Upaparami).

─ Để thực hành và hoàn thiện những phẩm chất này bằng việc hy sinh cả tính mạng mình thì được gọi là những Ba-la-mật cao thượng nhất (Paramattha-Parami).

Như vậy, nếu mỗi phẩm chất được thực hành và với ba cấp độ Ba-la-mật, thì tổng cộng có tất cả 30 Hạnh Nguyện Ba-la-mật phải được thực hành và hoàn thiện.

Trong trường hợp của Đức Phật Thích Ca, khoảng thời gian tối thiểu để Người thực hành và hoàn thiện “Mười Ba-la-mật” đã là: 4 A-tăng-tỳ Đại Kiếp (asankheyyas kappas) + 100.000 đại kiếp (kappas).

▪ Một lần nữa, chúng ta không nên nhầm lẫn giữa “4 A-tăng-tỳ Đại Kiếp (4 asankheyyas kappas) với “4 A-tăng-tỳ-Kiếp”, vì một kỷ nguyên “A-tăng-tỳ-Kiếp” chỉ bằng 1/20 của một Đại Kiếp. Ở đây, đại kiếp đang nói là khoảng thời gian giữa thời Đức Phật Nhiên Đăng (Dipankara Buddha) và Đức Phật (Padumuttara Buddha), được gọi là một Phật Kiếp.

Những hạnh Ba-la-mật phụ thuộc vào những dạng Bồ-tát khác nhau. Điều này là bởi vì những Bồ-tát khác nhau có những mức độ thuần thục hay chín muồi khác nhau, mặc dù tất cả các ngài đều có được 8 phẩm chất bắt buộc của một vị Bồ-tát. Ba dạng của các vị Bồ-tát đó là:

(i) Pannadhika: Bồ-tát hành trì theo Trí Tuệ. Trí Tuệ Bát-nhã luôn luôn thể hiện đầy đủ trong mọi nỗ lực tu tập và vị Bồ-tát sẽ trở thành một vị Phật sau khi hoàn thiện “Mười Ba-la-mật” trong 4 A-tăng-tỳ Đại Kiếp và 100.000 đại kiếp.

(ii) Saddhadhika: Bồ-tát hành trì theo Lòng Tin hay Lòng Thành tín. Lòng Tin này luôn luôn thể hiện đầy đủ trong nỗ lực tu tập và vị Bồ-tát sẽ trở thành một vị Phật sau khi hoàn thiện “Mười Ba-la-mật” trong 8 A-tăng-tỳ Đại Kiếp và 100.000 đại kiếp.

(iii) Viriyadhika: Bồ-tát hành trì theo Nỗ Lực, Tinh Tấn. Sự Nỗ Lực, Tinh Tấn này luôn luôn thể hiện đầy đủ trong nỗ lực tu tập và vị Bồ-tát sẽ trở thành một vị Phật sau khi hoàn thiện “Mười Ba-la-mật” trong 16 A-tăng-tỳ Đại Kiếp và 100.000 đại kiếp.

Cách phân dạng những vị Bồ-tát này chỉ áp dụng cho hạng Bồ-tát mà thôi. Sau khi các vị Bồ-tát đã trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác rồi, tất cả các ngài đều như nhau về tất cả các mặt Trí Tuệ, Lòng Tin và Năng Lực Tinh Tấn.

Chúng ta không thể nào phân biệt hay nói rằng vị Phật nào thì thành tựu viên mãn hơn vị Phật khác về một mặt nào, vì tất cả đã trở thành những vị Phật Toàn Giác, Phật giác ngộ viên mãn.

11. Tại Sao Có Sự Khác Nhau về Thời Gian Hoàn Thiện Những Ba-la-mật (Paramis)

Khi bàn về sự khác nhau về những khoảng thời gian cần hiết để hoàn thiện những Ba-la-mật của Bồ-tát, sách Luận Giảng Kinh Pháp Cú và những tài liệu khác đưa ra ý kiến là vì đó là sự khác nhau giữa những trình độ, sự chín muồi hay cấp độ “Trưởng Thành” của những vị Bồ-tát khác nhau.

Những luận giảng trên cũng cho rằng, từ lúc nhận được sự thọ ký từ một Đức Phật, những vị Bồ-tát thường gồm có 3 dạng người như sau:

(i) Bồ-tát Ugghatittanu Bodhisatta

(ii) Bồ-tát Vipancittanu Bodhisatta

(iii) Bồ-tát Neyya Bodhisatta.

Tất cả những vị Bồ-tát này đều có khả năng giác ngộ thành bậc A-la-hán và đạt được sáu Năng Lực Siêu Nhiên hay sáu Thần Thông (Chú Giải 1) và Trí Tuệ về Phân Tích (Patisambhida Nana) (Chú Giải 2), nếu họ muốn giác ngộ như một người thuộc hàng Đệ Tử của Phật. Tuy nhiên, tốc độ chứng ngộ của họ là khác nhau, tùy thuộc vào những ba dạng ‘con người’ (puggala) khác nhau (Chú Giải 3).

• Đối với Bồ-tátUggatittanu, mức độ trưởng thành về những Ba-la-mật để dẫn đến giác ngộ của ngài là rất mạnh mẽ, những vị Bồ-tát dạng này có thể thực hành và hoàn thiện những Ba-la-mật trong 4 A-tăng-tỳ-Kiếp (asankheyyas) và 100.000 kiếp.

• Đối với Bồ-tát Vipancittanu, mức độ trưởng thành hay chín mùi về những Ba-la-mật là trung bình và các ngài phải thực hành và hoàn thiện tất cả Ba-la-mật trong 8 A-tăng-tỳ-Kiếp (asankheyyas) và 100.000 kiếp.

• Đối với Bồ-tátNeyya, mức độ trưởng thành hay chín mùi về những Ba-la-mật là còn thấp và các ngài phải thực hành và hoàn thiện tất cả Ba-la-mật trong 16 A-tăng-tỳ-Kiếp (asankheyyas) và 100.000 kiếp.

─ Để tóm lại:

• Bồ-tát Uggatittanuđược định dạng là loại Bồ-tát Pannadhika (hành trì theo Trí Tuệ).

• Bồ-tát Vipancittanuđược định dạng là loại Bồ-tát Saddhadhika (hành trì theo Lòng Thành Tín).

• Bồ-tát Neyya được định dạng là loại Bồ-tát Viriyadhika(hành trì theo nỗ Lực Tinh Tấn).

12. Thật Hiếm Thay Sự Xuất Hiện Của Một Vị Phật!

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật đã nói như vầy:

Kiccho manussapatilabho

Kiccham maccana jivitam

Kiccham saddhammasavanam

Kiccho buddhanam uppado

Khó thay, sanh được làm người!
Khó thay, giữ toàn mạng sống!
Khó thay, được nghe Chánh pháp!
Khó thay, thấy Phật ra đời!

(Kinh Pháp Cú – Dhammapada, Kệ số 182)

Để được sanh “làm người”, đó là những cơ hội cực kỳ hiếm có. Theo Đức Phật, số lượng chúng sinh được tái sinh làm người thì chỉ bằng những hạt bụi dính trên ngón tay, trong khi đó số lượng chúng sinh bị tái sinh vào những đường xấu, cõi khổ thì nhiều bằng cả trái đất. Ví dụ, chỉ riêng một cộng đồng một loài nhuyễn thể ít ỏi ở Biển Đông (ước tính khoảng 600 ngàn tỷ), gấp 100.000 lần. Vì vậy, số lượng chúng sinh làm người thì rất ít và hiếm hoi. Cho nên Phật mới nhìn thấy rằng được làm người thì thật là hiếm có và may mắn!.

Còn đối với “mạng sống” của con người, từ lúc được sinh ra trên thế giới loài người, ngay từ trong bụng mẹ cho đến lúc cuối vòng đời, thì con người luôn luôn phụ thuộc vào yếu tố sinh tử, có nghĩa có thể chết bất kỳ lúc nào. Để giữ cho mình được sống, con người phải luôn luôn chăm sóc thân và tâm, tức là một thân người cấu tạo bằng năm Uẩn vật chất và tinh thần.

Trong Kinh Ví Dụ Về Rắn Độc (“Salayatana Samyutta”, Asivisa Vagga), Đức Phật đã so sánh 4 yếu tố Tứ Đại của con người như 4 con rắn độc. Năm Uẩn được so sánh như 5 kẻ thù hủy hoại đến tính mạng, và Tham muốn, dục vọng thì được ví dụ như một người bạn phản bội với đao kiếm trong tay chờ cơ hội chặt đầu mình. Ví dụ này dùng để minh họa về sự mong manh, sự khó khăn và sự không ổn định của một kiếp sống sinh tử.

Sau khi nghe lời khuyên bảo từ một người bạn hiền về những rủi ro, hiểm họa đó, một người có lẽ sẽ mong muốn được thoát khỏi hiểm nguy, giống như những bản năng sinh tồn hay tìm kiếm chỗ an toàn bình thường của muôn loài. Để đến được bên bờ an toàn bên kia, người ấy phải qua sông, bằng cách kết bè và cố sức bằng đôi tay đôi chân của mình để chèo được qua sông. Bằng cách này, người ấy qua được bên bờ bên kia và ở đó người ấy trở thành một bậc thánh nhân.

Ở đây, người bạn hiền đó là Đức Phật. Con sông rộng là nước lũ (ogha) liên tục cuốn chúng sinh ra biển Luân Hồi. Chiếc bè để vượt sông là con đường Bát Chánh Đạo, nhưng bản thân chiếc bè không đưa được người qua sông, mà người ấy phải nỗ lực, hết sức cố gắng chèo khéo kiên nhẫn bằng chính chân tay của mình. Sự nỗ lực ở đây là những nỗ lực, tinh tấn mạnh mẽ, nhiệt tâm và liên tục của bản thân mình trên con đường tu tập. Còn bờ bên kia (đáo bỉ ngạn) chính là Niết-bàn an lạc và bậc thánh nhân đó là ví dụ như một bậc A-la-hán đã qua bên bờ giải thoát.

Cũng rất khó để cho một người nghe được Chánh Pháp. (Bạn thử nghĩ trên đời này, có được bao nhiêu phần trăm người biết và bao nhiêu phần trăm người thật sự có hiểu biết về Chánh Pháp?- ND). Tất cả mọi tôn giáo trên đời này cũng đều khuyên dạy thực hiện những điều tốt lành, giữ giới hạnh đạo đức. Một số tôn giáo cũng chỉ dạy việc định tâm (samatha). Những giáo lý này có thể dẫn đến những cuộc sống hạnh phúc cho con người, thậm chí để được sống trên những cảnh giới của những thiên thần và trời (deva, brahma), nhưng tận cùng ý nghĩa, những cảnh giới đó chỉ kéo dài thêm vòng luân hồi của sinh tử (Samsara), vốn vẫn còn đầy đau khổ. Những giáo lý tu tiên, hưởng lạc đó chắc hẳn chúng ta đã được nghe nhiều trong những kiếp quá khứ. Tuy nhiên, chỉ cho đến kiếp này, chúng ta mới có cơ hội nghe được Giáo Pháp Đức Phật (Buddha Sasana) về bản chất thật sự của thân tâm chúng ta, nghe học được Giáo Pháp của Thiền Minh Sát Tứ Niệm Xứ (dhamma of Satipatthana Vipassana), mà sự thực hành giáo pháp này sẽ dần dẫn giác ngộ con đường Đạo và Trí Tuệ của Đạo Quả (Magga-phala nana) và Niết-bàn, sự chấm dứt khổ.

Cơ hội để giải thoát khỏi Khổ bằng phương pháp thực hành con đường Bát Chánh đạo thông qua Thiền Minh Sát Tứ Niệm Xứ (Satipatthana Vipassana) chỉ có được cùng với sự xuất hiện của Đức Phật Toàn Giác. Chỉ có Phật mới có thể truyền dạy những Giáo Pháp cao diệu (Dhamma) cho những đệ tử trong Tăng Đoàn, và những Tăng sĩ bảo tồn và truyền dạy lại cho mọi người.

Hãy suy nghĩ về khoảng một thời gian vô tận và những nỗ lực phi thường của Bồ-tát để trở thành một vị Phật kể từ khi được thọ ký là Bồ-tát, để thấy được rằng “Sự xuất hiện của một vị Phật” trên thế gian là vô cùng hiếm hoi và vô giá đến dường nào.

Những Phật tử tốt thì luôn luôn đi nghe học giáo Pháp và những bài học về Thiền Minh Sát Tứ Niệm Xứ (Satipatthana Vipassana). Đó là những điều thật sự may mắn cho chúng ta. Diệu Pháp của Đức Phật đã được gìn giữ qua mấy ngàn năm và được giảng dạy cho chúng ta hôm nay.

Thật ra, việc nỗ lực, không ngừng nghe học giáo Pháp và tu tập hành Thiền, để mong có ngày giác ngộ và giải thoát khỏi Luân hồi sinh tử, là cách tốt nhất để một người tỏ lòng thành kính và đền ơn Đức Phật hơn bất kỳ hình thức nào. Bởi vì Đức Phật xuất hiện trên thế gian này để thực hiện lời thệ nguyện mà Người đã thệ nguyện khi còn là một vị Bồ-tát (Bodhisatta) – Đó là: Giảng dạy giáo Pháp cao diệu cho loài người để mọi người có thể thực hành để tự giải thoát mình khỏi đau khổ trầm luân.

13. Tám Kiếp Sống Bất Hạnh Nhất Trong Vòng Luân Hồi Sinh Tử (Samsara)

Trong Kinh Dasuttara Sutta (Kinh Thập Thượng) thuộc Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya) và Luận Giảng Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikaya) đã ghi rõ tám (8) kiếp sống thật vô cùng bất hạnh hay không may mắn vào lúc Đức Phật Toàn Giác xuất hiện trên thế gian này. Bất hạnh vì khi có Đức Phật xuất hiện thì những chúng sinh đó không được đang làm người để gặp Phật hay/và không có cơ hội để nghe được, học được Giáo Pháp của Đức Phật. Tám kiếp sống bất hạnh đó là:

a) Kiếp sống liên tục đau khổ và đày đọa trong Địa Ngục, không làm được điều gì công đức vì đang liên tục chịu những cực hình đau đớn.

b) Kiếp sống Súc Sinh, luôn luôn sợ hãi và không làm được điều gì công đức, vì không có tri giác để biết được điều gì tốt, xấu.

c) Kiếp sống Ngạ Quỷ (Peta) hay ‘hồn ma’, không thực hiện được điều gì công đức, vì luôn luôn chịu đau khổ vì đói và khát liên tục của kiếp quỷ đói.

d) Kiếp sống của Chúng sinh vô thức (asanna satta) ở cõi trời Phạm Thiên và không làm được việc gì công đức hoặc có thể nghe được giáo Pháp (Dhamma), vì không còn thức hay tri giác, ngoài sắc thân.

e) Kiếp sống của một Trời Phạm Thiên ở cõi Vô Sắc giới và không thể gặp được Đức Phật hay nghe được Giáo Pháp của Đức Phật, bởi vì những chúng sinh này không có các căn như mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.

f) Kiếp sống ở những vùng xa xôi hẻo lánh không tiếp cận được Tăng Đoàn hay bất cứ một đệ tử nào của Đức Phật để được nghe giáo Pháp và vì thế cũng không thực hiện được việc công đức nào.

g) Kiếp sống của người luôn dính chấp vào Tà Kiến (cách nhìn hay quan điểm sai lầm, lạc lối). Đây có thể gọi là một kiếp sống bất hạnh nhất trong 8 kiếp sống bất hạnh đang nói. Vì sao? Vì những người này đang sống ngay giữa trung tâm thế gian này thậm chí ngay giữa “Miền Phật Giáo” (kể cả những xứ Miền Trung Bắc Ấn Độ vào thời có Đức Phật tại thế đi thuyết giảng), nhưng vì dính chấp vào tà kiến mà cũng không được nghe Giáo Pháp (Dhamma) hay làm được những việc công đức ngay lúc Đức Phật truyền dạy khắp đất nước.

h) Kiếp sống của những con người tật nguyền, hay những thiên thần, quỷ thần dị dạng trong cõi trời Tứ Đại Thiên Vương (Catumaharajika), đó là những chúng sinh mạng Thức tái sinh không có căn thiện (ahetuka), vì vậy họ không thể nào hiểu được hay thực hành Giáo Pháp Đức Phật, ngay cả khi họ đang sống giữa “Miền Phật Giáo” và không hề bị dính chấp vào Tà Kiến sai lạc. Chỉ đơn giản là trong Thức tái sinh của họ không có gốc rễ hay căn hướng thiện.

14. Sự Thực Hành Ba-la-mật Của Phật Duyên Giác (Pacceka) & Của Những Đại Đệ Tử Của Đức Phật
(A) Bốn Loại Phật (Bậc Giác Ngộ)

Tri kiến hay Trí tuệ bốn phần này hay sự thấu hiểu Bên Trong về 4 chặng con đường Đạo (Magga-nana), dù có được đi kèm với Trí Toàn Giác (Sabbannuta-nana, tiếng Anh: “Omniscience”) hay kho^ng, thì được gọi là “Giác Ngộ” hay “Trí Tuệ Bồ-Đề” (Bodhi). Trí tuệ bốn phần hay sự thấu hiểu bên trong về con đường Đạo tức là sự thấu hiểu về Tứ Diệu Đế. Sự “Giác Ngộ” thì có 3 dạng:

i) Samma-sambodhi:

Toàn Giác hay Giác ngộ hoàn toàn (còn gọi là Giác ngộ Viên mãn, Giác Ngộ Tối Thượng hay Chánh Đẳng Chánh Giác): bao gồm Trí tuệ Giác ngộ về con đường Đạo (Magga-nana), cùng với Trí Toàn Giác (Sabbannuta-nana). Sự Giác ngộ này hay quả vị Phật này chỉ chứng ngộ được bằng nỗ lực của cá nhân một người, không có sự giúp đỡ của người Thầy (đạo không Thầy, vô sư) và nhờ vào những năng lực phi thường của một người trong việc diệt trừ tất cả những dính mắc và ô nhiễm cũng như những quán tính (vasana) trong quá khứ. Một Đức Phật Giác Ngộ tối thượng được gọi là Đức Phật ChanhS DaangR ChanhS GiaccS. Khoảng thời gian để hoàn thiện các hạnh nguyện Ba-la-mật tối thiểu là 4 A-tăng-tỳ-Kiếp và 100.000 kiếp.

ii) Pacceka-Bodhi:

Duyên Giác hay Độc Giác. Sự Giác Ngộ này cũng bao gồm có: Trí Tuệ bên trong về con đường Đạo (Magga-nana) chứng ngộ bởi chính mình mà không cần có sự giúp đỡ của người Thầy. Một vị Phật giác ngộ như vậy được gọi là Phật Duyên Giác hay Phật Độc Giác, tức là tự Giác ngộ một mình và nhưng cũng không truyền dạy cho ai về Giáo Pháp (Dhamma). Vì vậy, vị ấy còn được gọi là bậc Giác Ngộ đơn độc, vì không có khả năng chia sẻ với người khác, tức không có giác tha. Khoảng thời gian để hoàn thiện tất cả Ba-la-mật là 2 A-tăng-tỳ-Kiếp và 100.000 kiếp.

iii) Savaka-Bodhi:

Thanh Văn Giác, bao gồm: Trí Tuệ giác ngộ về con đường Đạo (Magga-nana) đạt được nhờ sự hướng dẫn hay truyền dạy của một người Thầy. Một vị Phật như vậy được gọi là Phật Thanh Văn Giác, ý chỉ những bậc giác ngộ A-la-hán, đạt được sự giác ngộ với tư cách là hàng đệ Tử của Đức Phật, Giác ngộ sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp và giảng dạy. Khoảng thời gian để hoàn thành tất cả những Ba-la-mật là 1 A-tăng-tỳ-Kiếp và 100.000 kiếp đối với những Đại Đệ Tử Thứ Nhất và Thứ Hai, và là 100.000 kiếp đối với những vị Đại Đệ Tử.
(B) Phật Duyên Giác (Pacceka) hay vị Phật im lặng

Phật Duyên Giác còn được gọi là Phật Độc Giác hay Phật Bích Chi. Theo hệ thống phân cấp hay đẳng cấp của những bậc chúng sinh giác ngộ thành Phật, thì Phật Duyên Giác đứng dưới Phật Toàn Giác (Samma sambuddha) và đứng trên hàng Đệ Tử Thanh Văn (Savaka). Trong ghi chép Quyển “Illustrator of Ultimate Meaning” (Minh Họa Về Ý Nghĩa Tột Cùng), một luận giảng về Tiểu Bộ Kinh (Khuddakapatha VI, 42-43), thì một vị Phật Duyên Giác (Pacceka Buddha) được xếp cao xa hơn hàng Đệ Tử Thanh Văn và xếp dưới xa hơn một Đức Phật Toàn Giác theo mức độ phẩm chất như sau:

“Ngay cả hàng trăm đại đệ tử như ngài Xá-Lợi-Phất (Sariputta) và Mục-Kiền-Liên (Moggallana) cũng không thể sánh bằng một phần trăm những phẩm hạnh của một vị Phật Duyên Giác. Nhưng nếu đem so với một vị Phật Toàn Giác, thì tất cả chư Phật Duyên Giác ở trong cõi Diêm-Phù-Nề (Jambudipa) cộng lại cũng không thể bằng một phần những phẩm hạnh của Một Đức Phật Toàn Giác”.

Những vị Phật Duyên Giác đã tự mình giác ngộ (tự giác), tuy nhiên không khai ngộ hay không làm người khác giác ngộ (không giác tha). Họ chỉ giác ngộ về cốt lõi ý nghĩa, chứ không giác ngộ về lý tưởng hay pháp và không có khả năng tổng hợp những giáo pháp siêu phàm thành những khái niệm (thế gian) và truyền dạy cho mọi người. Vì thế, những vị Phật này được gọi là những vị “Phật im lặng”. Tuy nhiên, Phật Duyên Giác chứng đắc được những năng lực siêu phàm hay “thần thông” (iddhi) và các tầng thiền Định (samapatti) và có thể ảnh hưởng, khuyến khích người khác một cách gián tiếp vào con đường đạo.

Câu chuyện về Bồ-tát được ghi trong quyển “Minh Họa Về Ý Nghĩa Tột Cùng” nói trên (Illustrator VI, 129), kể về một người con trai tên Susima của một người đã đến gặp những vị Phật Duyên Giác ở gần Vườn Nai, và xin được chỉ dạy tu tập để được giác ngộ. Tất cả những việc Phật Duyên Giác làm là chấp nhận thọ giới cho anh ta và dạy cho anh ta một số giới hạnh đạo đức cơ bản, bởi vì những Phật Duyên Giác không thể chỉ dạy cho anh ta về chủ đề “Thiền”. Cuối cùng, anh ta cũng nỗ lực tu tập và cũng tự giác ngộ thành một vị Phật Duyên Giác.

Khi nói về thời gian những vị Phật Duyên Giác xuất hiện, thì những luận giảng về Kinh Tạng (Suttanipata) ghi rằng những vị Phật Duyên Giác xuất hiện không phải vì có biết đến một vị Phật Toàn Giác và cũng không biết vào những thời nào có Đức Phật Toàn Giác đản sinh.

Việc giác ngộ trở thành Phật Duyên Giác chỉ có thể thực hiện được vào những thời không có Đức Phật Toàn Giác. Nhiều vị Phật Duyên Giác có thể xuất hiện cùng một lúc hay một thời nào đó. Kinh “Isigili Sutta” thuộc Trung Bộ Kinh có ghi lại rằng có 500 vị Phật Duyên Giác từng sống trong khu hang động Núi Isigili, một trong năm dãy núi gần thành Vương Xá (Rajagaha). Mặc dù ghi chép diễn tả tất cả các vị Phật sống chung gần chỗ khu hang động đó, nhưng thực tế là họ không cùng nhau tu tập hay hướng dẫn lẫn nhau tu tập, mà tất cả đều tự mình tu tập và giác ngộ thành những vị Phật Duyên Giác (Pacceka Buddhas).

Một người có tâm nguyện trở thành một vị Phật Duyên Giác (Pacceka Buddha) thì được gọi là một Bồ-tát Duyên Giác (Pacceka Bodhisatta). Một vị Bồ-tát Duyên Giác phải có đầy đủ năm phẩm chất sau đây, đó là:

i) Phải là một con người

ii) Phải là một nam nhân

iii) Phải gặp được một bậc giác ngộ, ví dụ một Đức Phật, một vị Phật Duyên Giác hay một A-la-hán.

iv) Hạnh nguyện phải xuất gia, từ bỏ ràng buộc gia đình.

v) Phải có những có ý nguyện (chanda) rất mạnh mẽ để thực hiện mục tiêu, dù biết rằng mình có thể phải chịu nhiều kiếp tái sinh, ngay cả vào những cảnh giới xấu.

(C) Những vị Phật Thanh Văn (Savaka Buddhas) - Những Đệ Tử Hàng Đầu & Đại Đệ Tử của Đức Phật.

Những phẩm chất của những vị Đệ Tử Thanh Văn là: Hành động và Những Tâm Nguyện Công Đức.

Đối với ngài Xá-Lợi-Phất (Sariputta) và Đại Mục-Kiền-Liên (Maha Moggallana), kiếp quá khứ các ngài đã có đại nguyện trở thành Đệ Tử Hàng Đầu của Đức Phật và đã được vị Phật Tổ xác nhận (thọ ký) 1 A-tăng-tỳ-Kiếp (asankheyya kappas) và 100.000 kiếp trước đó. Sau đó, họ đã hoàn thiện các hạnh Ba-la-mật và đạt được mục tiêu đại nguyện trong kiếp này sự dẫn dắt của Đức Phật Thích Ca.

Đối với những vị Đại Đệ Tử của Đức Phật, 80 Tỳ kheo và 13 Tỳ kheo Ni, thì họ đã có hạnh nguyện trở thành những Đại Đệ Tử của Đức Phật cách đây 100.000 kiếp. Những vị có hạnh nguyện này đã được gặp mặt Đức Phật và một bậc Đại A-la-hán (Maha Arahant), những người có phẩm hạnh đáng ngưỡng mộ và đáng được noi theo. Nên những người “có hạnh nguyện” này thực hiện việc cúng dường liên tục 7 ngày với hạnh nguyện, mong ước sẽ trở thành những bậc Đại A-la-hán trong tương lai với sự có mặt của Đức Phật Toàn Giác.

Sau đó, những vị được thọ ký như một sự bảo đảm, được gọi là Niyata-byakarana, từ Đức Phật lúc bấy giờ, đó là Phật Tổ Padumuttara xuất hiện cách đây 100.000 kiếp, Người chính là Đức Phật đã tạo thọ ký cho nguồn Đại A-la-hán sau này. Sau đó, các vị này thực hành và hoàn thiện những hạnh Ba-la-mật và đạt được mục tiêu ước nguyện trong kiếp này dưới sự dẫn dắt của Đức Phật Thích Ca.

15. Những Đại Đệ Tử Ưu Tú Của Đức Phật

Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta II, 155), Đức Phật đã chỉ ra rằng những nhóm Tỳ Kheo đi theo từng vị Đại A-la-hán sẽ có được những phẩm chất đặc biệt của vị Đại A-la-hán đó, kiểu như “người làm gương cho người”.

Trong Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikaya I, 23), chúng ta đọc thấy Đức Phật đã phân biệt, đặt danh dự cho những Đại Đệ Tử Ưu Tú (etadagga) tùy theo mỗi pháp hành trì mà họ đã có tâm nguyện thực hiện trong quá khứ. Một số phẩm chất siêu việt gắn liền với tên của những Đại đệ tử Ưu Tú, đó là:

Sariputta (Xá-Lợi-Phất) (HV) – Đại Đệ Tử Thứ Nhất, đệ nhất trí tuệ.
Mahamoggallana (Đại Mục-Kiền-Liên) – Đại Đệ Tử Thứ Hai, đệ nhất thần thông.
Mahakassapa (Đại Ca-Diếp) – đệ nhất khổ hạnh hay hạnh đầu đà.
Mahakaccayana (Đại Ca-chiên-diên) – đệ nhất bình giải (biện luận, trình bày và phân tích).
Mahakotthita Đại (Câu-hy-la) – đệ nhất Trí Phân Biệt.
Ananda – đệ nhất văn (nghe, nhớ nhiều nhất)
Upali (Ưu-ba-ly) – đệ nhất Luật tạng, đệ nhất trì giới
Punna Mantaniputta (Phú-Lâu-Na) – đệ nhất thuyết giảng Giáo Pháp (Dhamma).
Kumara Kassapa (Cưu-ma-la Ca-Diếp) – đệ nhất thuyết giảng Vi Diệu Pháp (Abhi-dhamma).
Revata Khadiravaniya – đệ nhất tu ẩn cư (trong rừng).
Anuruddha (A-nại-lâu-đà) – đệ nhất thiên nhãn thông.
Subhuti (Tu-Bồ-Đề) – đệ nhất xứng đáng được cúng dường.
Sivali (Thi-bà-la) – đệ nhất nhận được nhiều cúng dường nhất.
Maha Kappina (Đại –Kiếp-Tân-na) – đệ nhất thuyết pháp cho chúng Tăng.
Bahiya – đệ nhất giác ngộ thành A-la-hán nhanh nhất, người chứng quả A-la-hán ngay sau khi Đức Phật giảng một thời pháp ngắn trong lúc khẩn.
Rahula (La-hầu-la) – đệ nhất ham muốn tu tập, luôn luôn canh cánh về vấn đề tu tập.

Để tìm hiểu thêm về những đại đệ tử nam và nữ của Đức Phật, xin mời các bạn đọc thêm quyển sách “Chân Dung Ngòi Bút- 93 vị Đại Đệ Tử Của Đức Phật” (“Pen Portraits – Ninety Three Eminent Disciples of the Buddha”), tác giả C. de Saram7.

16. Chú Giải

Chú Giải 1:

Chữ “abhinna” là một từ kết hợp hay từ ghép của 2 từ: “abhi”= cao hơn, bậc cao và “nana”= kiến thức, trí tuệ. Vì vậy, chữ “abhinna” có nghĩa là: Trí tuệ cao hơn hay siêu trí.Sáu Siêu Trí (abhinnaS) bao gồm:

(1) Những Năng Lực Thần Thông (Iddhi-vidha),

(2) Thiên Nhĩ Thông (Dibba-sota),

(3) Sự Thâm Nhập hay Đọc Được Tâm của người khác (Cittapariya nana or cetopariya),

(4) Thiên Nhãn Thông (Dibba-cakkhu),

(5) Sự Nhìn Thấy Được Những Kiếp Quá Khứ (Pubbenivasanussati) hay Túc Mạng Thông (HV)

(6) Sự Tiêu Diệt Hết Tất Cả Ô Nhiễm và Bất Tịnh (Asavakkhaya) hay Lậu Tận Thông (HV).

Năm siêu trí đầu là thuộc về thế gian và có thể đạt được bằng những phương pháp “Thiền Định” thâm sâu, tĩnh tại (Samatha), trong khi đó siêu trí cuối cùng là Trí xuất thế gian, siêu phàm, và chỉ có thể đạt được bằng “Thiền Minh Sát” (Vipassana) với sự thâm nhập trí tuệ từ bên trong.

Chú Giải 2:

“Patisambhida nana” có nghĩa là Kiến thức hay Trí Tuệ Phân Biệt hay Phân Tích. (HV: Vô Ngại Giải). Có 4 loại Phân Biệt (phân tích), đó là:

a) Attha-patisambhida= Phân Biệt về Nghĩa. Nghĩa ở đây là Quả của Nhân (hetu), đặc biệt phân tích về 5 pháp sau đây:

(i) Mọi pháp hữu vi, do điều kiện, nhân duyên tạo ra,

(ii) Niết-bàn (nibbana),

(iii) Nghĩa của những lời nói,

(iv) Quả của Nghiệp (kamma) hay nghiệp quả,

(v) Thức chức năng.

Sự hiểu biết (phân biệt) những khác nhau về nghĩa, ví dụ như những từ: khổ, quyết tâm, nỗ lực, sự không xao lãng, chính là sự không phân biệt hay phân tích về nghĩa vậy.

b) Dhamma-patisambhida= Phân biệt về Pháp (quy luật, chân lý). Pháp ở đây dùng để chỉ điều kiện hay duyên (paccaya). Vì điều kiện hay duyên là cần thiết để một sự vật hay hiện tượng khởi sinh hay xảy ra, nên nó được gọi là pháp (dhamma, theo nghĩa là quy luật, tác nhân – ND):

(i) Bất kỳ nhân nào tạo ra quả,

(ii) Bát Chánh Đạo,

(iii) Những gì được nói ra,

(iv) Những gì lợi lạc,

(v) Những gì không lợi lạc.

Sự hiểu biết (phân biệt) về những khác nhau về Pháp (quy luật, chân lý), ví dụ như: Dục vọng, tín căn, tinh tấn căn, định căn, chính là sự phân biệt về Pháp vậy.

c) Nirutti-patisambhida= Phân Biệt về Ngôn Ngữ: Đây là trí tuệ biểu thị bằng ngôn ngữ đối với nghĩa và Pháp.

Sự hiểu biết (phân biệt) về những khác nhau về ngôn ngữ được dùng trong bốn ví dụ về nghĩa, và bốn ví dụ về Pháp trên đây, chính là sự phân biệt về ngôn ngữ vậy.

d) Patibhana-patisambhida = Phân Biệt về tính minh bạch (rõ ràng, thông suốt): Trong những ví dụ nêu trên, có sự minh bạch hay rõ ràng về Sự hiểu biết 4 loại nghĩa, sự rõ ràng về Sự hiểu biết 4 loại pháp (quy luật chân lý), và sự rõ ràng về Sự hiểu biết về 8 loại ngôn ngữ (để biểu thị 8 ví dụ trên)

Sự hiểu biết khác nhau về sự minh bạch, sự rõ ràng, chính là trí tuệ phân biệt về sự minh bạch, rõ ràng.

(Tham khảo: “Con Đường Thanh Lọc” hay “Thanh Tịnh Đạo” (Visuddhimagga), Chương XIV, 21 và “Con Đường Phân Biệt” hay “Phân Tích Đạo” (Patisambhidamagga), Chương XXV-XXVIII, cả 2 Bộ Kinh Điển này đều được dịch ra tiếng Anh bởi ngài Bhikkhu Nanamoli lỗi lạc).

Chú Giải 3:

Theo Bộ “Puggala-Pannatti” (Sách Định Loại Con Người hay (HV): Nhân Thi Thuyết Luận), Chương IV, 5; và theo “Tăng Chi Bộ Kinh” (Anguttara), Quyển Bốn, Kinh 133, thì những chúng sinh thật may mắn nghe, biết được Phật Pháp (Buddha Sasana) hay có được vận duyên thiên mạng, có thể được xếp vào 4 dạng người như sau, đó là:

a) Ugghatitannu: Người có thể hiểu biết được giáo thuyết ngay khi được nói ra, tức là nhanh trí. Ví dụ như người có trí tuệ siêu xuất là ngài Xá-Lợi-Phất (Sariputta) có thể chứng đắc tầng Thánh quả thứ nhất là ngay sau khi nghe 2 câu trong một bài kệ 4 câu do ngài Assaji nói ra, và ngài Mục-Kiền-Liên (Maha Moggalana) cũng chứng đắc ngay Thánh quả thứ nhất này ngay sau khi toàn bộ bài kệ 4 câu đó được lặp lại bởi ngài Xá-Lợi-Phất. Còn Ngài Bahiya Daruciriya, như vừa nói ở phần trên, có thể chứng đắc Thánh quả A-la-hán cao nhất ngay sau khi nghe Đức Phật nói vài câu thuyết giảng nhanh chóng, và ngài được gọi là đệ nhất về trí giác ngộ thành A-la-hán trong thời gian ngắn nhất.

b) Vipancitannu: Người có thể hiểu biết giáo thuyết sau khi đã học, đã được giảng giải mọi ý nghĩa của giáo thuyết đó. Những người này có thể Giác ngộ giáo pháp sau khi nghe một hay nhiều thời pháp giảng giải chi tiết hay thuyết giảng đầy đủ.

c) Neyya: Người có thể hiểu biết giáo thuyết đó được nghe, tụng đọc nhiều lần, do tham vấn để được giảng giải, có thành tâm, ý chí học hỏi và tu tập. Loại người này phải có vị thầy hướng dẫn, chỉ dạy thì sẽ Giác ngộ được giáo pháp.

d) Padaparama: Loại người này, mặc dầu được gặp giáo huấn của một vị Phật (Buddha Sàsana) và mặc dầu đã tận lực học hỏi và thực hành Giáo Pháp, tụng đọc, thuộc lòng, nhưng vẫn không hiểu biết rõ, vẫn không thể giác ngộ Đạo và Quả trong kiếp sống này. Tất cả những gì người này có thể làm được chỉ là tạo cho mình một thói quen hay tập khí tốt (vàsanà) cho kiếp này và kiếp sau.

▪ Ghi nhớ:

Theo “Vi Diệu Pháp Tạng” (Abhidhamma), 3 loại người đầu tiên là những người được sinh ra với 3 thiện căn (tihetuka) là: Vô Tham, Vô Sân, Vô Si, trong khi đó loại người thứ tư cuối cùng thì được sinh ra chỉ với 2 thiện căn (dvihetuka) là: Vô Tham và Vô Sân, nhưng thiếu một căn về trí tuệ là căn Vô Si, nên còn u mê, thiểu trí.

17. Sách & Tài Liệu Tham Khảo

1) “Niyama Dipani” (Cẩm Nang Về Trật Tự Vũ Trụ, trong quyển Cẩm Nang Phật Học), tác giả Đại Trưởng lão Mahathera Ledi Sayadaw, Aggamahapandita.

2) “The Great Chronicle of Buddhas” (Đại Biên Niên Sử Chư Phật), Tập 1, Phần 1, tác giả Hòa Thượng Thiền Sư Mingun Sayadaw Bhaddanta Vicittasarabhivamsa.

3) “Từ Điển Tiếng Pali”, tác giả Robert Caesar Childers. Tái Bản bởi nxb Motilal Banarsidass, Delhi.

4) “Tăng Chi Bộ Kinh” (Anguttara Nikaya), Tập I. Bản dịch của F. L. Woodward, xb bởi Hội Kinh Điển Pali (PTS), London 1979.

5) “Phật Duyên Giác: Một Tu Sĩ Khổ Hạnh Phật Giáo”, tác giả Ria Kloppenborg. Ấn bản “The Wheel Publication No. 305/306/307”.

6) “Trình Bày Ý Nghĩa Tột Cùng (Paramatthajotika) – Luận Giảng Về Tiểu Bộ Kinh (Khuddakapatha)”, tác giả Bhandantacariya Buddhaghosa. Bản dịch từ tiếng Pali qua tiếng Anh của ngài Bhikkhu Nanamoli. Xb bởi Hội Kinh Điển Pali (PTS), 1978.

7) “Pen Portraits – Ninety Three Eminent Disciples of the Buddha” (Chân Dung Ngòi Bút– 93 vị Đại Đệ Tử Của Đức Phật), tác giả C. de Saram. Xb bởi Trung Tâm Thiền Phật Giáo Singapore. Tái bản bởi Hội Phật Giáo Subang (Subang Jaya Buddhist Association), 2001.

8) “The Path of Purification”(Visuddhimagga) (Con Đường Thanh Lọc hay Thanh Tịnh Đạo). Bản dịch từ tiếng Pali qua tiếng Anh của ngài Bhikkhu Nanamoli. Xb bởi Hội Phật Giáo Tích Lan (Buddhist Publication Society, Sri Lanka).

9) “The Path of Discrimination” (Patisambhidamagga) (Con Đường Phân Biệt hay Phân Tích Đạo). Bản dịch từ tiếng Pali qua tiếng Anh của ngài Bhikkhu Nanamoli. Xb bởi Hội Kinh Điển Pali (PTS), 1982.
Read more…

Video

Back to top Go bottom